Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
I H C QU C GIA TH NH PH H CH MINHĐẠ Ọ Ố À Ố Ồ Í
TR NG I H C CÔNG NGH THÔNG TINƯỜ ĐẠ Ọ Ệ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH PHƯƠNG PHÁP
SCAMPER TRONG ĐIỆN TOÁN
ĐÁM MÂY VÀ CÔNG NGHỆ ẢO HOÁ
Giảng viên hướng dẫn: GS. TSKH. HOÀNG VĂN KIẾM
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HUỲNH THUÝ NGA
Mã số sinh viên: CH1301041
TPHCM, tháng 5/ 2014
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 1/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
MỤC LỤC
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HUỲNH THUÝ NGA 1
Mã số sinh viên: CH1301041 1
1
LỜI NÓI ĐẦU 3
3
PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP SCAMPER 4
I. S L C V PH NG PHÁP SCAMPERƠ ƯỢ Ề ƯƠ 4
II. VÀI NÉT V PH NG PHÁP SCAMPERỀ ƯƠ 5
1. Phép thay th (Substitute)ế 5
2. Phép k t h p (Combine)ế ợ 6
3. Phép thích ng (Adapt)ứ 6
4. Phép i u ch nh (Modify)đ ề ỉ 7
5. Phép thêm v o (Put)à 7
6. Phép lo i b (Eliminate)ạ ỏ 7
7. Phép o ng c (Reverse)đả ượ 8
III. K T LU NẾ Ậ 8
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi con người có ý thức thì sự tìm tòi học hỏi và khả năng tư duy chính là
cơ sơ giúp chúng ta tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cuộc sống. Đặc điểm nổi bật
nhất của sự tìm tòi học hỏi hay khả năng tư duy là sự sáng tạo. Hơn 2000 năm qua
hàng triệu phát minh cải tiến ra đời thay đổi gần như toàn bộ cuộc sống của con
người. Các phát minh, sáng kiến gần đây có thể nói đều dựa trên các nguyên tắc
sáng tạo cơ bản như các nguyên lý của Alshuller, phương pháp Scamper,… Trong
đó Phương pháp SCAMPER là một trong những kỹ thuật để giúp chúng ta tư duy
sáng tạo hiệu quả nhất.
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 3/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
Phương pháp SCAMPER giúp cải tiến rất nhiều sản phẩm khoa học. Trong đó
Điện toán đám mây và Công nghệ ảo hoá là một điển hình.
Qua môn học “Phương pháp nghiên cứu khoa học” Thầy GS-TSKH. HOÀNG
VĂN KIẾM đã giúp em hình thành những cái nhìn rất mới phương pháp nghiên
cứu khoa học cũng như việc áp dụng những nguyên lý sáng tạo vào trong các sản
phẩm tin học.
Trong phạm vi của bài thu hoạch nhỏ này, chúng em sẽ trình bày khái quát về
Điện toán đám mây và Công nghệ ảo hóa. Sau đó em đưa ra ý kiến của em những
nguyên lý sáng tạo được vận dụng vào Điện toán đám mây và Công nghệ ảo hóa.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy GS. TSKH Hoàng Kiếm. Những tiết giảng
quý báu của Thầy đã cung cấp cho em những kiến thức nền tảng về Phương pháp
nghiên cứu khoa học bước khởi đầu giúp em nghiên cứu các sản phẩm tin học trong
nhiều lĩnh vực.
Học Viên Cao Học Khóa 8
NGUYỄN HUỲNH THUÝ NGA
gì xảy ra nếu tôi thay cái này bằng cái khác? Làm cách nào để đổi địa điểm, thời
gian, nguyên vật liệu, vấn đề nhân lực ?
* Ví dụ:
- Khai thác khí đá phiến ở Mỹ (quan trọng đối với quốc phòng vì không
còn phải phụ thuộc vào thị trường Trung Đông), Philippin.
- Thay thế các nguyên liệu lẫn nhau trong ngành ẩm thực.
- Hạt nêm: thay thế các gia vị khác, thay cho bột ngọt, muối, đường
2. Phép kết hợp (Combine)
*Nội dung: Kết hợp thành tố của các hệ thống khác nhau để tạo ra hệ thống
mới.
- Combine (kết hợp): Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì, kết hợp
thêm được gì để tạo ra 1 sản phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của từng tính
năng.
- Các câu hỏi có thể đặt ra: Nguyên vật liệu cần là gì? Các tính năng? Quy
trình? Nhân lực? Cái gì có thể kết hợp lại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ở đâu?
* Ví dụ:
- Tạo ra máy in tích hợp: in, scan, copy, fax.
- Xe giường nằm + Toilet.
- Điện thoại di động tích hợp máy ảnh, camera, máy vi tính
3. Phép thích ứng (Adapt)
*Nội dung: Thích ứng hệ thống trong một bối cảnh khác.
- Adapt: Nghĩ xem khi thay đổi, các tính năng này có phù hợp không?
- Các câu hỏi có thể đặt ra: chúng ta có thể bắt chước cái gì? Mô phỏng cái gì?
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 6/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
*Ví dụ:
Giường cho trẻ em cấu tạo như 1 chiếc xe đua.
4. Phép điều chỉnh (Modify)
*Nội dung: Điều chỉnh qui mô thành tố của hệ thống.
- Sạc pin không dây
- Quạt không cánh
- Tàu vũ trụ: loại bỏ các tầng khi phóng.
7. Phép đảo ngược (Reverse)
*Nội dung: Đảo ngược trật tự các thành tố của hệ thống.
- Reverse: Bạn có thể lật ngựợc vấn đề? Cách suy nghĩ này sẽ giúp bạn nhìn rõ
mọi góc cạnh của vấn đề cũng như như cơ hội thấy điểm mới cho vấn đề.
- Câu hỏi có thể đặt ra: Chuyện gì xảy ra nếu tôi làm theo theo hướng khác?
Nếu tôi lật ngược trât tự cách làm cũng như cách sử dụng?
*Ví dụ:
- Cho ra loại vải không phân biệt mặt phải hay trái.
- Giao hàng tận nhà
- Đi siêu thị trên internet, điện thoại, tv.
III. KẾT LUẬN
Bằng cách sử dụng phương pháp SCAMPER, bạn sẽ có khả năng nhận
biết ra các sản phẩm mới cũng như hướng đi mới cho vấn đề. Tất nhiên, trong
các ý tưởng này còn nhiều cái không khả thi và không phù hợp với trang thiết
bị bạn đang có nhưng chắc chắn bạn sẽ chọn ra được 1 vài ý kiến. Đó là
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 8/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
những ý tưởng có thể trực tiếp giúp bạn giải quyết vấn đề hoặc là điểm khởi
đầu hoàn hảo cho cuộc bàn luận để cho ra 1 sản phẩm mới tiếp theo.
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CLOUD
COMPUTING
1. Đặt vấn đề
Ngày nay, đối với các công ty và doanh nghiệp, thì việc quản lý tốt, hiệu quả
dữ liệu của riêng công ty, dữ liệu khách hàng và đối tác là một trong những bài
toán được ưu tiên hàng đầu và đang không ngừng gây khó khăn cho họ. Để có
thể quản lý được nguồn dữ liệu đó, ban đầu các doanh nghiệp phải đầu tư, tính
Hình 1: Mọi thứ đều tập trung vào đám mây
Điện toán đám mây (Cloud Computing), còn gọi là điện toán máy chủ ảo, là
mô hình điện toán sử dụng các công nghệ máy tính và phát triển dựa vào
mạng Internet. Thuật ngữ "đám mây" ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng Internet
(dựa vào cách được bố trí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) và như một liên
tưởng về độ phức tạp của các cơ sở hạ tầng chứa trong nó. Ở mô hình điện toán
này, mọi khả năng liên quan đến công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới
dạng các "dịch vụ", cho phép người sử dụng truy cập các dịch vụ công nghệ từ
một nhà cung cấp nào đó "trong đám mây" mà không cần phải có các kiến thức,
kinh nghiệm về công nghệ đó, cũng như không cần quan tâm đến các cơ sở hạ
tầng phục vụ công nghệ đó. Theo tổ chức Xã hội máy tính IEEE "Nó là hình mẫu
trong đó thông tin được lưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 10/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
được được lưu trữ tạm thời ở các máy khách, bao gồm máy tính cá nhân, trung
tâm giải trí, máy tính trong doanh nghiệp, các phương tiện máy tính cầm tay, "
3. Mô hình tổng quan cloud computing
Theo định nghĩa, các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ sẽ
nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và
văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần.
Hiện nay, các nhà cung cấp đưa ra nhiều dịch vụ của cloud computing theo
nhiều hướng khác nhau, đưa ra các chuẩn riêng cũng như cách thức hoạt động
khác nhau. Do đó, việc tích hợp các cloud để giải quyết một bài toán lớn của
khách hàng vẫn còn là một vấn đề khó khăn. Chính vì vậy, các nhà cung cấp dịch
vụ đang có xu hướng tích hợp các cloud lại với nhau thành “sky computing”, đưa
ra các chuẩn chung để giải quyết các bài toán lớn của khách hàng.
Hình 2: Mô hình tổng quan của Cloud
Computing
4. Cloud Computing giải quyết các vấn đề sau:
- Việc cho thuê nhiều để có thể chia sẻ tài nguyên và chi phí giữa một phạm vi
lớn người dùng, cho phép:
+ Tập trung hóa cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực với chi phí thấp hơn (chẳng
hạn như bất động sản, điện, v.v.)
+ Khả năng chịu tải nâng cao (người dùng không cần kỹ sư cho các mức tải
cao nhất có thể).
+ Cải thiện việc sử dụng và hiệu quả cho các hệ thống mà thường chỉ 10-20%
được sử dụng.
- Độ tin cậy cải thiện thông qua việc sử dụng các site có nhiều dư thừa, làm nó
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 12/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
thích hợp cho tính liên tục trong kinh doanh và khôi phục thất bại. Tuy nhiên, phần
lớn các dịch vụ của cloud computing có những lúc thiếu hụt và người giám đốc
kinh doanh, IT phải làm cho nó ít đi.
- Tính co giãn linh động (“theo nhu cầu”) cung cấp tài nguyên trên một cơ sở
mịn, tự bản thân dịch vụ và gần thời gian thực, không cần người dùng phải có kỹ sư
cho chịu tải. Hiệu suất hoạt động được quan sát và các kiến trúc nhất quán, kết nối
lỏng lẽo được cấu trúc dùng web service như giao tiếp hệ thống.
- Việc bảo mật cải thiện nhờ vào tập trung hóa dữ liệu, các tài nguyên chú
trọng bảo mật, v.v… nhưng cũng nâng cao mối quan tâm về việc mất quyền điều
khiển dữ liệu nhạy cảm. Bảo mật thường thì tốt hay tốt hơn các hệ thống truyền
thống, một phần bởi các nhà cung cấp có thể dành nhiều nguồn lực cho việc giải
quyết các vấn đề bảo mật mà nhiều khách hàng không có đủ chi phí để thực hiện.
Các nhà cung cấp sẽ ghi nhớ (log) các truy cập, nhưng việc truy cập vào chính bản
thân các audit log có thể khó khăn hay không thể.
- Khả năng chịu đựng xảy ra thông qua việc tận dụng tài nguyên đã được cải
thiện, các hệ thống hiệu quả hơn. Tuy nhiên, các máy tính và cơ sở hạ tầng kết hợp
là những thứ tiêu thụ năng lượng chủ yếu.
6. Xu hướng phát triển
- Các quy định pháp luật cho các dịch vụ, giữa khách hàng và nhà cung cấp
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 14/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
PHẦN 3: HIỆN THỰC CỦA CLOUD
COMPUTING
I. HIỆN THỰC CLOUD COMPUTING
Cloud computing cung cấp hạ tầng, nền tảng và phần mềm như là dich vụ, mà
có thể được cung ứng như là một dich vụ cho thuê trong cách dùng bao nhiêu trả
bấy nhiêu đối với người dùng.
Cloud computing được hiện thực theo 3 kiểu:
1. Infrastructure-as-a-Service (IaaS – Dịch vụ hạ tầng): Cung cấp cho
người dùng hạ tầng thô (thường là dưới hình thức các máy ảo) như là một
dịch vụ.
Những kiến trúc ảo xếp chồng là một ví dụ của xu hướng mọi thứ là dịch vụ và
có cùng những điểm chung. Hơn hẳn một máy chủ cho thuê, không gian luu trử tập
trung hay thiết bị mạng, máy trạm thay vì đầu tư mua những nguyên thì có thể thuê
đầy đủ dịch vụ bên ngoài. Những dịch vụ này thông thường được tính chi phí trên
cơ sở tính toán chức năng và lượng tài nguyên sử dụng (và từ đó ra chi phí) sẽ phản
ảnh được mức độ của hoạt động. Đầy lầ một sự phát triển của những giải pháp lưu
trữ web và máy chủ cá nhân ảo.
Tên ban đầu được sử dụng là dịch vụ phần cứng (HaaS) và được tạo ra bởi
một nhà kinh tế học Nichlas Car vào tháng 3 năm 2006, nhưng điều này cần thiết.
Nhưng từ này đã dần bị thay thế bởi khái niệm dịch vụ hạ tầng vào khoảng cuối
năm 2006.
a. Ưu điểm:
- Cung cấp tài nguyên như là dịch vụ: bao gồm cả máy chủ, thiết bị mạng, bộ
nhớ, CPU, không gian đĩa cứng, trang thiết bị trung tâm dữ liệu. Khả năng mở rộng
linh hoạt
- Chi phí thay đổi tùy theo thực tế
- Giảm chi phí ngoài lề khi tích hợp các dịch vụ về bảo mật, khả năng mở
rộng, kiểm soát lỗi…
- Giảm chi phí khi trừu tượng hóa công việc lập trình ở mức cao để tạo dich
vụ, giao diện người dùng và các yếu tố ứng dụng khác.
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 16/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
- Tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc phát triển ứng dụng đa người dùng cho
những người không chỉ trong nhóm lập trình mà có thể kết hợp nhiều nhóm cùng
làm việc
b. Nhược điểm:
- Ràng buộc bởi nhà cung cấp: do giới hạn phụ thuộc và dịch vụ của nhà cung
cấp
- Giới hạn phát triển: độ phức tạp khiến nó không phù hợp với yêu cầu phá
triển nhanh vì những tính năng phức tạp khi hiện thực trên nền tảng web.
3. Software-as-a-Service (SaaS – Dịch vụ phần mềm): Cung cấp dịch vụ
phần mềm thực thi từ xa.
Dịch vụ phần mềm (SaaS) là một mô hình triển khai ứng dụng mà ở đó người
cung cấp cho phép người dụng sử dụng dịch vụ theo yêu cầu. Những nhà cung cấp
SaaS có thể lưu trữ ứng dụng trên máy chủ của họ hoặc tải ứng dụng xuống thiết bị
khách hàng, vô hiệu hóa nó sau khi kết thúc thời hạn. Các chức năng theo yêu cầu
có thể được kiểm soát bên trong để chia sẻ bản quyền của một nhà cung cấp ứng
dụng thứ ba.
a. Ưu điểm:
- Phần mềm sẵn có đòi hỏi việc truy xuất, quản lý qua mạng.
- Quản lý các hoạt dộng từ một vị trí tập trung hơn là tại mỗi nơi của khách
hàng, cho phép khác hàng truy xuất từ xa thông qua web.
- Cung cấp ứng dụng thông thường gần gũi với mô hình ánh xạ từ một đến
nhiều
hơn là mô hình 1:1 bao gồm cả các đặc trưng kiến trúc, giá cả và quản lý.
- Những tính năng tập trung nâng cấp, giải phóng người dùng khỏi việc tải các
môi giới bên ngoài.
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 18/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
Kiến trúc Market-Oriented Cloud
Service Request Examiner and Admission Control: khi một yêu cầu dịch vụ
được gửi lên lần đầu sẽ được phien dich thành các yêu cầu về chất lượng dịch vụ
QoS trước khi xác định xem nó sẽ được chấp nhận hay từ chối. Do vậy, điều đó
đảm bảo răng không có tình trạng quá tải dịch vụ khi mà các yêu cầu dịch vụ không
the được đáp ứng đầy đủ vì giới hạn tài nguyên hệ thống sẵn sàng. Nó cung cần
thông thin về trạng thái cuối cùng về tình trạng sẵn sàng của tài nguyên (từ cơ chế
VM Monitor) và khả năng xử lý tải (từ cơ chế Service Request Monitor) theo thứ tự
để quyết định việc phân phối tài nguyên một cách hiệu quả. Sau đó nó sẽ phân yên
cầu cho các máy ảo VM và xác định đặc tả tài nguyên cho máy ảo được phân.
Pricing: cung cấp cơ chế quyết định cách các yêu cầu service được tính tiền.
Ví dụ như yêu cầu có thê được tính tiền dựa theo thời gian các nhiệm vụ, tỷ lệ
giá cả (cố định/thay đổi) hay tính sẵn sàng của tài nguyên (sẵn có/yêu cầu). Cơ chế
định giá phục như nề tảng cho cung vâp và yêu cầu tài nguyên tính toán trong Data
center và các trang thiết bị trong việc cấp phát tài nguyên hiệu quả.
Accounting: cung cấp cơ chế để thao tác trên lưu lượng dùng tài nguyên được
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 19/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TS Hoàng Văn Kiếm
yêu cầu do đó chi phí cuối cùng có thể được tính toán và tính phí cho người dùng.
Thêm vào đó, lịch sử sử dụng có thể được dùng để tối ưu bởi Service Request
Examiner and Admission Control
VM Monitor: cung cấp cơ chế lưu vết những máy ảo sẵn sàng và các thông tin
về tài nguyên của chúng.
Dispatcher: cung cấp cơ chế bắt đầu thực thi việc cấp phát máy ảo VM của
những yêu cầu dịch vụ đã được chấp nhận.
Service Request Monitor: cung cấp cơ chết lưu vết tiến trình của yêu cầu dịch
vụ
cấp Cloud có thể hiện thực những chiến lược của họ để tự đọng mở rộng lõi của
chức năng chuẩn bị triển khai máy ảo VM.
User-code: đây là lớp trên cùng của hệ thống mô phỏng cho phép cấu hình
những chức năng liên quan cho các máy chủ (số lượng, đặc tả cho chúng và những
việc khá), ứng dung (số lượng các tác vụ và yêu cầu của chúng), các máy ảo VM,
số lượng người dùng và các loại ứng dụng và chính sách định thời môi giới. Một
người phát triển ứng dụng Cloud có thể tạo ra nhiều sự phân tán yêu cầu người
dung, cấu hình ứng dung, và những ngữ cảnh ở lớp này.
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 21/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
Kiến trúc lớp của CloudSim
2. Mô hình cấp phát máy ảo VM
Một trong những ý tưởng khiến Cloud computing khác biệt với Grid
computing là việc triển khai tối đa công nghệ ảo hóa và các công cụ.
Mô hình ứng dụng cổ điển ánh xạ cá chính xác các nốt tính toán và các ứng
dụng riêng rẽ không còn phù hợp trong sự trừu tượng hóa tính toán trong môi
trường Cloud. Ví dụ như hai Datacenter chay tren mot Host co 1 nhân. Mặc dù
có vẻ như có sự tách biệt nhưng tổng lượng tài nguyên sẵn có bị rang buộc bơi
năng lực của host. Những yếu tố quan trọng này cần được xem xét trong tiến
trình xem xet quyết định cấp phát tài nguyên.
Để cho phép giả lập những chính sách khác nhau, Cloud Sim hỗ trợ việc
đinh thời máy ảo VM ở hai mức: trước tiên taim mức Host và sau đó là mức
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 22/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
máy ảo VM. Ở mức đầu tiên, có thể xác định rõ tổng năng lực xử lý của mỗi
nhân trong hót sẽ được gán cho mỗi máy ảo. Tại mức tiếp theo, các máy ảo
VM sẽ được phân rõ tổng năng lực xử lsy cu thể cho mỗi tác vụ được thực thi.
Tại mỗi mức, CloudSim hiện thực chính sách cấp phát tài nguyên theo thời
gian và không gian.
thông minh cũng có thể khởi động cùng lúc nhiều hệ điều hành.
- Thay thế không đơn giản là thay người bằng máy, thay sức người bằng
sức bền của máy mà quan trọng là thay đổi tư duy làm việc từ tư duy làm việc
truyền thống sang tư duy làm việc công nghệ cao.
Ví dụ: Trong Cloud Computing việc lưu trữ thông tin hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp không sợ mất dữ liệu và làm chủ
được một lượng thông tin lớn. Tính toán nhanh chóng và chính xác góp phần
cho sự phát triển nhanh chóng của doanh nghiệp.
2. Phương pháp kết hợp (Combine)
- Trong công nghệ ảo hóa, một máy chủ thật sẽ được cài đặt nhiều máy
chủ ảo để thực thi những công việc khác nhau và có thể dễ dàng kết nối, chia
sẻ tài nguyên.
- Trong điện toán đám mây, người ta đã kết hợp được sức mạnh của công
nghệ ảo hóa, Internet băng thông rộng và sự phát triển của viễn thông với các
công nghệ kết nối như Wifi, 3G,… để ngày càng cho ra đời những dịch vụ,
phần mềm trực tuyến mạnh mẽ mà người dùng có thể ở bất cứ đâu, vào bất
cứ thời điểm nào, dùng bất cứ thiết bị gì có thể kết nối Internet đều có thể truy
cập và sử dụng.
- Ngoài ra, người ta còn có thể kết hợp hai hoặc nhiều các đám mây cùng
tích hợp với nhau để chia sẽ hạ tầng hoặc đáp ứng nhu cầu trao đổi dữ liệu. Mô
hình này được gọi là Hybird Cloud hay còn gọi là “đám mây lai”.
HVTH: Nguyễn Huỳnh Thuý Nga_MSSV: CH1301041 Trang 24/31
Phương pháp Nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
3. Phương pháp thích nghi (Adapt)
- Hiểu một cách chính xác, Scamper không phát minh ra khái niệm thích
nghi, tuy nhiên ông sử dụng khái niệm này và nó trở thành một trong 7 nguyên
lý sáng tạo của ông.
- Hiểu đúng thì thích nghi là một khái niệm rất mạnh trong sinh học cổ điển
(từ thời Darwin và thuyết tiến hóa). Một trong những nhiệm vụ quan trong nhất