Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, khi Việt nam là một thành viên chính thức của các tổ
chức quốc tế như WTO (chính thức gia nhập WTO ngày 07 tháng 11 năm 2006), Việt
Nam có những thuận lợi cơ bản để thâm nhập, mở rộng thị trường, đẩy mạnh công
nghiệp hoá và tăng cường năng lực của nền kinh tế. Những cơ hội mới trong phát triển
kinh tế xã hội chỉ có được khi hệ thống luật pháp phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo môi
trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh để mọi loại hình hoạt động của các
doanh nghiệp được đối xử công bằng trong nền kinh tế thị trường. Muốn đón nhận thời cơ,
tận dụng điêu kiện thoát khỏi tình trạng bị nước lớn gây sức ép, Việt Nam phải sớm hoàn
thiện hệ thống luật pháp, cơ chế thị trường, cải cách hành chính và doanh nghiệp cho tương
đồng với những thể chế toàn cầu. Trong thời gian mới gia nhập WTO thì các kế hoạch hành
động càng phải thiết thực, cụ thể và rất khẩn trương. Đây chính là cơ hội mở cửa thị trường
và cải cách chính sách, thể chế luật pháp. Hệ thống chính sách minh bạch, ổn định và dễ dự
đoán, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thực thi những tiêu chuẩn quốc tế cho thương mại và đầu tư và mở cửa thị trường đối với
hàng hóa và dịch vụ nước ngoài.
Nhận thức rõ về xu thế phát triển tất yếu nói trên của nền kinh tế thế
giới, Việt Nam đã xác định rõ sự cần thiết phải tham gia hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tiếp tục được khẳng
định là một nội dung rất quan trọng trong công cuộc đổi mới của Việt Nam
và được thực hiện với quy mô và mức độ ngày càng cao hơn.
Sự hội nhập khu vực và quốc tế của các quốc gia, đặc biệt là đối với
các nước đang phát triển diễn ra quy mô ngày càng lớn và cường độ ngày
càng mạnh mẽ. Điều đó tạo nên những cơ hội mới cho sự phát triển, nhưng
đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới cho tất cả các quốc gia, trước
hết là các nước đang phát triển , trong đó có Việt Nam.
Với mong muốn tìm hiểu và học hỏi những vấn đề nêu trên nên em đã
chọn “Giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt nam
sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)” làm đề tài nghiên
cứu khoa học, trong bài tiểu luận này bao gồm ba phần:
động thương mại quốc tế có liên quan đến nền kinh tế của quốc gia. Hơn
nữa, do sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia nên khả năng và
điều kiện tham gia vào thương mại quốc tế của mỗi nước là không giống
nhau. Không những thế, môi trường kinh tế thế giới còn chịu sự chi phối và
tác động của nhiều mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác
nên chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia cũng phải đáp ứng cho
nhiều mục tiêu khác nhau và mục tiêu này có thể thay đổi qua từng thời kỳ
nhất định nhưng đều có chức năng chung là điều chỉnh các hoạt động thương
mại quốc tế theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Cụ thể:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị
trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động và mậu
dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước.
- Bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước
có khả năng đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh tế quốc tế, đáp
ứng yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia.
3
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
3. Vai trò của chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận trong chính sách kinh tế
đối ngoại của một quốc gia. Do vậy, chính sách thương mại cũng là một bộ
phận của chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và
phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nó tác động mạnh mẽ
đến quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, đến quy
mô và phương thức tham gia của nền kinh tế của mỗi nước vào phân công
lao động quốc tế và thương mại quốc tế.
Chính sách thương mại quốc tế có vai trò to lớn trong việc khai thác
triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát triển các ngành sản
xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và
quốc tế cả bề rộng lẫn bề sâu. Tự do hoá thương mại trước hết nhằm vào
việc thực hiện chủ trương mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi nước cũng
như đạt tới điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu. Kết quả của hoạt
động này là ngày càng mở cửa dễ dàng hơn thị trường nội địa cho hàng hoá,
công nghệ tiên tiến và hoạt động dịch vụ quốc tế dễ dàng xâm nhập vào
trong nước, thuận lợi trong việc xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài.
Các biện pháp để thực hiện tự do hoá thương mại chính là việc điều
chỉnh theo chiều hướng mới lỏng dần với bước đi phù hợp trên cơ sở các
thoả thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia đối với các công cụ
bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mạo quốc tế. Việc
hình thành các liên kết kinh tế quốc tế với vác tổ chức kinh tế quốc tế cũng
tạo thuận lợi cho tự do hoá thương mại trước hết trong khuôn khổ các tổ
chức đó. Đồng thời quá trình tự do hoá thương mại còn gắn liền với những
biện pháp có đi có lại trong khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia.
2. Xu hướng bảo hộ mậu dịch
Cơ sở khách quan của xu hướng này bắt nguồn từ sự phát triển không
đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, do sự
chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các công ty trong nước và công ty
nước ngoài, cũng như do các nguyên nhân lịch sử để lại.
Xu hướng bảo hộ mậu dịch xuất hiện ngay từ khi hình thành và tiếp tục
được củng cố trong quá trình phát triển nền thương mại quốc tế với cung cụ
sử dụng phổ biến nhất là thuế quan. Bên cạnh đó còn có các công cụ hành
chính, các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Mục tiêu của bảo hộ mậu dịch là để
bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các
luồng hàng hoá từ bên ngoài, cũng tức là bào vệ lợi ích quốc gia. Cho đến
nay, có nhiều lý lẽ khác nhau để biện minh cho chế độ bảo hộ mậu dịch:
5
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
Một là, lý lẽ về việc bảo vệ “ngành công nghiệp non trẻ”. Theo lý lẽ
vươn lên cạnh tranh thắng lợi không chỉ ở thị trường nội địa mà cả ở thị
6
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
trường nước ngoài. Việc thực hiện bảo hộ phải gắn liền với các bước tiến
của quá trình tự do hoá thương mại đạt được trong các quan hệ quốc tế.
4. Những nguyên tắc cơ bản trong điều chỉnh quan hệ thương mại quốc
tế
4.1. Chế độ ưu đãi nhất
Chế độ ưu đãi nhất là chế độ mà các nước dành cho nhau trong quan hệ kinh
tế và buôn bán về các mặt thuế quan, mặt hàng trao đổi, tàu bè chuyên chở, quyền
lợi của pháp nhân và tự nhiên nhân của nước này trên lãnh thổ của nước kia.
Chế độ tối huệ quốc có thể có điều kiện hoặc vô điều kiện. Trong
trường hợp vô điều kiện thì các nước cam kết dành cho nhau hưởng mặc
nhiên bất cứ một quyền lợi nào mà một trong các bên đã hoặc sẽ dành cho
bất kỳ nước thứ ba nào. Trong trường hợp có điều kiện thì một nước đã cho
một nước thứ ba hưởng ưu đãi với điều kiện như thế nào thì một nước khác
muốn được hưởng tất cả những ưu đãi như đã được dành cho nước thứ ba đó
cũng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như thế.
Chế độ tối huệ quốc thường được quy định cụ thể trong một khoản riêng
của một hiệp ước hoặc hiệp định thương mại nên thường được gọi là điều khoản
tối huệ quốc. Tuy nhiên, chế độ tối huệ quốc không được áp dụng trong buôn
bán đường biên, buôn bán truyền thống và trường hợp có những ưu đãi thuế
quan đặc biệt.
4.2. Nguyên tắc ngang bằng dân tộc
Đây là chế độ mà một nước dành cho tự nhiên nhân và pháp nhân nước
ngoài lãnh thổ nước mình một sự đối xử ngang bằng như đối xử với tự nhiên
nhân và pháp nhân của nước mình trong những vấn đề: kinh doanh công
thương nghiệp, thuế khoá, hàng hải, cứ trú, sự bảo vệ của pháp luật, …Chế
độ đãi ngộ quốc gia thường là chế độ có đi có lại được quy định cụ thể trong
5.3. Chính sách hướng nội tiếp theo
Chính sách thương mại nông nghiệp hướng nội sẽ dẫn đến sự mở rộng
các ngành công nghiệp nhỏ, dần dần khuyến khích nền công nghiệp hàng
hoá thay thế nhập khẩu. Các công cụ của chính sách thương mại thường
được sử dụng phục vụ cho hướng đó.
Bên cạnh chính sách bảo hộ chung người ta có thể thực hiện sự hỗ trợ
có lựa chọn cho nền công nghiệp hàng hoá thay thế nhập khẩu, đó là một
nền công nghiệp non trẻ.
Yêu cầu được đặt ra với chính sách thương mại ở đây là phải tránh
được lệch lạc kéo theo cho người tiêu dùng, tránh lựa chọn sai các ngành
8
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
non trẻ để hỗ trợ, can thiệp để khắc phục những khiếm khuyết của thị
trường.
5.4. Chính sách hướng ngoại tiếp theo
Các nước đang phát triển sau khi hoàn thành những giai đoạn ban đầu
của việc thay thế nhập khẩu thì chuyển sang chính sách hướng ngoại đối với
các ngành chế tạo máy. Khi nào còn có sự hỗ trợ cho việc thay thế nhập
khẩu thi việc xuất khẩu sẽ còn bị cản trở do sự tăng tỷ giá hối đoái. Để các
chính sách hướng ngoại thành công, điều quan trọng là phải đảm bảo giá
quốc tế cho các nhà xuất khẩu, tức là phải dỡ bỏ các trở ngại đối với xuất
khẩu.
6. Chính sách thương mại quốc tế của những nước đang phát triển
Do đặc điểm của thị trường thế giới và do trình độ kinh tế của các nước
đang phát triển người ta rất quan tâm đến việc xây dựng một chính sách
thương mại quốc tế phù hợp sao cho phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Một số quốc gia đã thành công khi thực
hiện chính sách công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, một số quốc gia khác
tỏ ra thận trọng hơn lại sử dụng chính sách thay thế nhập khẩu là giai đoạn
mại hoạt động.
Trong một loạt các chính sách đổi mới phải kể đến Quyết định số 193-
HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ, lần đầu
tiên đã chính thức cho phép mọi công dân Việt Nam thuộc mọi thành phần
kinh tế đều có thể tham gia sản xuất, lưu thông hàng hoá trên thị trường
trong nước.
Sự ra đời của Luật Thương mại như đã nói ở trên, Luật Doanh nghiệp
và một loạt các bộ luật có liên quan khác, cũng như các Nghị định, Quyết
định, Chỉ thị, Thông tư cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành đều thể hiện sự
thông thoáng của ngành Thương mại.
- Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy
định về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với
nước ngoài. Với Nghị định này, chế độ giấy phép kinh doanh xuất nhập
khẩu đã được bãi bỏ, trừ những mặt hàng quản lý theo chuyên ngành hoặc
hạn chế xuất nhập khẩu. Do vậy, hầu hết các hàng hoá được làm thủ tục xuất
nhập khẩu trực tiếp tại hải quan và chịu sự điều tiết bằng thuế và các biện
pháp phi thuế chỉ còn được áp dụng đối với một số rất ít mặt hàng, quyền
kinh doanh và quyền tự chủ của các doanh nghiệp đã được mở rộng một
cách thông thoáng.
10
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tiếp theo, ngày 2/8/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
44/2001/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 57. Theo đó, không
phụ thuộc vào ngành nghề, ngành hàng ghi trong giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh, chỉ trừ những mặt hàng cấm kinh doanh và kinh doanh có điều
kiện, quyền kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã
được mở rộng và thuận lợi hoá một cách tối đa.
- Nghị định số 02/2002/NĐ-CP ngày 3/1/2002 (sửa đổi, bổ sung Nghị
định số 20) của Chính phủ quy định về phát triển thương mại miền núi, hải
địa phương đã tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển thương mại đến năm
2010, xây dựng quy hoạch phát triển chợ, xây dựng chương trình phát triển
xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của địa phương mình. Tuy nhiên, việc triển
khai các hoạt động này nhìn chung vẫn còn chậm.
- Có thể khẳng định rằng, cũng giống như trong công tác xây dựng
chiến lược phát triển thương mại, công tác xúc tiến thương mại đã được Nhà
nước chú trọng phát triển, mặc dù vấn đề này đã được đề cập trong Luật Thương
mại.
Sự ra đời của Cục Xúc tiến thương mại tháng 7/2000 là một dấu mốc báo
hiệu công tác này của Việt nam đã bắt đầu được chú trọng đúng mức.
Thực trạng chính sách thương mại quốc tế của Việt nam được thể hiện
cụ thể như sau:
1. Về các chính sách thuế:
Kể từ khi làm đơn gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
Chính phủ Việt Nam đã và đang chuyển đổi chính sách thuế quan trong
thương mại hàng hoá để đáp ứng các yêu cầu của WTO.
Qua đánh giá thực trạng chính sách thuế quan Việt Nam, điểm tổng
quát nhất nhận thấy được là hệ thống chính sách thuế chỉ mới được hình
thành và phát triển từ năm 1990. Do đó còn có những chính sách mang tính
ngắn hạn, tình thế, đối phó với những phát sinh trong giai đoạn hiện tại,
chưa ổn định, chưa đáp ứng được những yêu cầu dài hạn, đặc biệt là chưa
tranh thủ các quy tắc hội nhập quốc tế. Trong đó nội dung nổi bật của các
chính sách thuế quan được thể hiện ở các điểm sau:
- Thứ nhất, chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng
trên nguyên tắc bảo hộ sản xuất trong nước. Nếu ngành sản xuất nào cần
được bảo hộ để sản xuất trong nước thì thuế quan đối với sản phẩm cuả
ngành đó sẽ được nâng lên. Việt Nam còn chưa có chiến lược phát triển
những ngành kinh tế, công nghiệp có tiềm năng, có lợi thế cạnh tranh trong
12
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
đăng trên công báo. Tuy nhiên, cũng còn có trường hợp một số văn bản pháp
luật vẫn chưa được thông báo đầy đủ hoặc chưa kịp thơì hoặc thời gian từ
13
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
khi ban hành đến khi áp dụng quá ngắn làm cho các doanh nghiệp không đủ
thời gian chuẩn bị kế hoach sản xuất kinh doanh.
2. Các chính sách phi thuế:
Hiện nay, các ngành hàng công nghiệp ở Việt Nam việc sử dụng các
biện pháp phi thuế cũng nhằm để bảo vệ sản xuất trong nước và cũng rất đa
dạng, không ổn định theo thời gian. Các biện pháp này trái với các quy chế
WTO, cần được đưa vào kiểm soát để tiến tới loại bỏ theo phương thức
“thuế hoá các biện pháp phi thuế”.
- Một số biện pháp quản lý số lượng:
+ Các mặt hàng cấm nhập trong công nghiệp: Trong thời gian gần đây
Chính phủ đã có quyết định cấm xuất nhập khẩu một số hàng hóa như tại
Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 về quản lý xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2005. Việc cấm (Quyết định) này phù hợp với
thông lệ quốc tế và các qui định của GATT.
+ Hạn ngạch (quota) đối với một số mặt hàng công nghiệp:
Việc sử dụng hạn ngạch (quota) cho phép nhập khẩu với số lượng nhất
định cho từng khoảng thời gian nhất định các loại hàng hoá nhà nước cần
điều tiết ở thị trường trong nước. Các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu
thường được áp dụng hạn ngạch là: nhiên liệu xăng dầu, linh kiện lắp ráp ô-
tô, xe máy, v.v. Một số mặt hàng công nghiệp Việt Nam xuất khẩu đến các
nước cũng phải chịu hạn ngạch là dệt may, da giầy…
- Cấp giấy phép để nhập khẩu (Non-automatic licenccing):
Một số mặt hàng công nghiệp khi nhập khẩu phải thực hiện việc xin
cấp giấy phép nhập khẩu là: ô- tô, xe máy, sắt thép, sản xuất giấy viết, giấy
in, xi măng (nhập clinker), rượu, phân bón, hoá chất, khoáng sản, hàng hoá
Các quy định về mã số hải quan về thủ tục hải quan, giám sát hải quan
lệ phí hải quan đối với các hàng nhập khẩu không giống nhau gây khó khăn
cho việc theo dõi kiểm soát, nhận hàng nhập khẩu… Theo yêu cầu về thuận
lợi hoá thương mại, Việt nam sẽ phải thực hiện đơn giản hoá và thống nhất
hoá cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
3. Các chính sách khác:
- Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT):
15
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
Về cơ bản, Việt Nam đang áp dụng tiêu chuẩn của mình phù hợp với
tiêu chuẩn ISO. Tuy nhiên các phòng thí nghiệm, các trang bị kỹ thuật, đội
ngũ cán bộ kỹ thuật, đội ngũ luật sư của Việt Nam trong lĩnh vực này còn
thiếu kinh nghiệm để có thể tham gia phát hiện sai sót kỹ thuật, tố tụng, bảo
vệ cho luận cứ của mình khi dùng hàng rào cản kỹ thuật để bảo vệ chính
đáng cho việc xuất nhập khẩu sản phẩm công nghiệp. Là một nền kinh tế
mới đang phát triển, Việt Nam cần nhiều thời gian hơn để nhận thức, phổ
cập, điều chỉnh các tiêu chuẩn của mình, chuẩn bị cơ sở vật chất để áp dụng
chúng sao cho TBT không gây cản trở cho thương mại, trái lại còn thúc đẩy
thương mại nhờ có uy tín khi là một công cụ đắc lực bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.
- Trợ cấp xuất khẩu trong công nghiệp:
Tuy không có các khoản trợ cấp trực tiếp từ ngân sách cho hoạt động
xuất khẩu, nhưng Việt Nam áp dụng một số ưu đãi đối với các doanh
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như đối với hàng dệt may, da giầy Điều
này vi pham hiệp định trợ cấp công nghiệp và các biện pháp đối kháng của
WTO.
- Các chính sách hạn chế thương mại liên quan đến đầu tư (TRims):
Hiệp định TRIMs quy định các nước thành viên không được áp dụng
các biện pháp hạn chế đầu tư liên quan thương mại (TRims), cụ thể:
thương mại Việt nam.
1. Cải cách luật pháp của Việt Nam liên quan đến thương mại chưa tỏ ra
có hiệu lực để có thể tham gia vào “sân chơi” mới
Hiện nay, hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn liên kết nhiều với các
cơ quan chính trị của đất nước. Sau hơn một thập kỷ cải cách từng phần và
từng buớc, hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn kém phát triển và không có
khả năng thực hiện và cưỡng chế thực thi các quy định của luật. Vấn đề
đáng lo ngại nhất là năng lực pháp luật rất hạn chế trong việc đòi được đền
bù thông qua bất cứ cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế nào, chẳng hạn như
luật WTO. Cuộc chiến cá tra và cá basa với Mỹ chỉ là bước khởi đầu cho
những tranh chấp thương mại mà sẽ xảy ra nhiều hơn khi Việt Nam hội nhập
sâu hơn vào kinh tế quốc tế. Vấn đề ở đây là phải tạo ra một hệ thống luật
pháp công bằng, minh bạch, đồng bộ và hợp lý để giải quyết hiệu quả các
vấn đề nảy sinh khi tham gia vào WTO.
17
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
Mặc dù Việt Nam có những tiến bộ trong cải cách chính sách thương
mại trong thời kỳ đổi mới, nhưng những điều chỉnh chính sách theo quy tắc
quốc tế còn diễn ra khá chậm chạp. Theo yêu cầu của WTO, Việt Nam sẽ
phải áp dụng các quy tắc chống bán phá giá, giảm trợ cấp sản xuất và xuất
khẩu, những quy định về quyền sở hữu trí tuệ, quy định nghiêm ngặt về
nhãn mác sản phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, luật bản quyền
tác giả, mẫu mã kích cỡ sản phẩm, những quy định về sự bảo hộ các ngành
công nghiệp non trẻ…Ngoài những quy định về nhãn hiệu thương mại, luật
bản quyền tác giả và việc bảo vệ các thiết kế công nghiệp, Việt Nam chưa hề
có các luật lệ khác liên quan đến những quy định nghiêm ngặt của WTO.
Trong khi đó, các thành viên WTO lại rất quan tâm đến vấn đề này và coi đó
là nội dung quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO của Việt
Nam.
dẫn thi hành chính sách và pháp luật của các cơ quan chức năng là chưa hiệu
quả, nội dung của các văn bản pháp luật đến với doanh nghiệp chưa được
kịp thời, rành mạch và chính xác. Nhiều trường hợp với cùng một văn bản
pháp luật nhưng mỗi doanh nghiệp, mỗi người lại hiểu theo các nội dung
khác nhau và cách áp dụng cũng khác nhau. Chính vì vậy nên khi doanh
nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ vẫn còn nhiều mắc míu.
3. Mức thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của Việt Nam còn cao
Điều này có tác dụng bảo hộ các doanh nghiệp và các ngành công
nghiệp non trẻ trong nước, tuy nhiên đã làm cho biểu thuế của Việt Nam
phức tạp, chồng chéo, khó quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trốn
thuế, lậu thuế. Ngoài ra, việc áp dụng tính giá tính thuế tối thiểu như hiện
nay của Việt Nam chưa phù hợp với những quy định của WTO. Hiện tại,
chúng ta vẫn sử dụng các công cụ phi thuế quan như cấm, tạm ngưng, hạn
ngạch, chỉ tiêu, giấy phép không tự động, phụ thu và những công cụ này
sẽ phải cắt giảm và tiến tới xoá bỏ khi gia nhập WTO.
Hơn nữa, các biện pháp khuyến khích xuất khẩu của ta tuy nhiều
nhưng chưa thực sự đi vào chiều sâu, có chỗ có nơi còn chưa thông suốt và
chưa nhất quán, cá biệt có một số biện pháp nếu duy trì trong thời gian quá
lâu, có khả năng sẽ gây tác dụng ngược bởi làm tăng sức ỳ của doanh
nghiệp. Trong một số lĩnh vực, sự tham gia của Nhà nước là tương đối sâu,
trong khi lẽ ra phải nâng cao vai trò của doanh nghiệp và hiệp hội doanh
nghiệp sâu và rộng hơn nữa.
Nhìn chung, cải cách thuơng mại của Việt Nam trước khi gia nhập
WTO đã đạt được một số kết quả nhưng chưa hoàn chỉnh. Quyền kinh
19
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
doanh thương mại được mở rộng cho tất cả các thành phần kinh tế trong
nước và nước ngoài. Đồng Việt Nam đã thoát khỏi thời kỳ định giá cao và
dần lấy lại giá trị thực tế của mình. Đây là những nhân tố chủ yếu của tự do
Việt Nam cần ban hành và sửa đổi khoảng hơn 100 luật cho phù hợp
với WTO. Với tốc độ làm luật như hiện nay, Việt Nam có thể cố gắng đạt
được mục tiêu này. Tuy nhiên, các luật của Việt Nam phần lớn là luật
khung, không thể thực hiện khi chưa có các văn bản dưới luật quy định chi
tiết. Luật ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005
khẳng định nguyên tắc trong trường hợp có tranh chấp, các điều ước quốc tế
được ưu tiên xem xét so với luật trong nước. Việt Nam có thể phê chuẩn và
áp dụng thẳng các quy định của các Hiệp định WTO. Tuy nhiên, rất nhiều
thành viên WTO không thể hài lòng với những tuyên bố, mà muốn được bảo
đảm từ phía Việt Nam, việc thực thi các quy định WTO được pháp luật
trong nước ghi nhận. Việt Nam cần sớm có các quy định về cấm nhập khẩu
các sản phẩm đã bị cấm ở thị trường nước ngoài, các quy định về nhãn hiệu
hàng hoá thân thiện môi trường, các quy định cụ thể về thuế và phí môi
trường, về các chứng cứ khoa học cho việc áp dụng các biện pháp hạn chế
phù hợp với các quy định của WTO. Cần xây dựng kế hoạch cụ thể về việc
sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường. Việc nhanh chóng áp
dụng các quy định của WTO tạo điều kiện bảo vệ các doanh nghiệp Việt
Nam chống lại việc lợi dụng các yêu cầu môi trường tạo rào cản bảo hộ các
sản phẩm trong nước từ phía các nước khác.
2. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách thương mại
Bên cạnh những nỗ lực nhằm thay đổi các chính sách kinh tế - thương
mại cho phù hợp với quy định của WTO, Chính phủ Việt Nam cần có biện
pháp để tuyên truyền, phổ biến và giúp doanh nghiệp thực hiện đúng những
21
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
chính sách mới có liên quan đến việc thúc đẩy tiến trình gia nhập WTO của
Việt Nam.
Nhìn chung, trong thời gian đầu thực hiện Hiệp định thương mại Việt
Nam - Hoa kỳ và đang đàm phán tích cực để gia nhập WTO, việc cải cách
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
chính thức hoá đưa vào thực hiện cần có sự điều chỉnh. Vai trò phối hợp và
cầm chịch trong việc điều chỉnh này là Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế
quốc tế và Chính phủ. Nói một cách khác là cần có một chiến lược tổng thể
và một lộ trình tổng thể về điều chỉnh chính sách trong quá trình hội nhập.
Sau khi có sự điều chỉnh cần công bố công khai, rộng rãi cho các ngành, các
doanh nghiệp biết để có sự chuẩn bị và chủ động tham gia vào lộ trình hội
nhập.
5. Xúc tiến nhanh việc xây dựng các chiến lược của các ngành, các
doanh nghiệp cho phù hợp với những điều chỉnh về chính sách
Căn cứ vào các lộ trình hội nhập đã được công bố các ngành và các
doanh nghiệp cần xây dựng các chiến lược cụ thể của ngành và của doanh
nghiệp cho tương thích với các lộ trình đã cam kết.
Trong quá trình xây dựng chiến lược cần lưu ý:
Thứ nhất: các cam kết có thể sẽ căn cứ vào thực tiễn năng lực sản xuất
và cung cấp hàng hoá của chính các ngành hay doanh nghiệp trong khoảng
thời gian trước mắt 3 đến 5 năm. Ví dụ các cam kết về hạn ngạch dệt may,
hoặc thuỷ sản trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Do đó, khi
xây dựng chiến lược cần phải lưu ý ngay từ những năm đầu cần khai thác
hết năng lực sản xuất kinh doanh hiện có, đồng thời với việc đầu tư để mở
rộng các năng lực sản xuất kinh doanh mới.
Thứ hai: Phải tính đến vấn đề chuyển đổi ngành nghề, hoặc đa dạng
hoá sản phẩm dịch vụ trong chiến lược. Bởi lẽ có những sản phẩm và dịch
vụ sẽ không phù hợp hoặc tỏ ra không có khả năng cạnh tranh trong quá
trình thực hiện lộ trình hội nhập.
23
Phothilath Sikhotchounlamaly CH17B
Trường Đại hoc Kinh Tế Quốc Dân Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
KẾT LUẬN
Việt nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế