BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
----------------------------∗∗------------------------
TIỂU LUẬN AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Đề tài: XỬ LÝ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP THIÊU
ĐỐT
GIÁO VIÊN: NGUYỄN VĂN TÚ
SINH VIÊN: NGUYỄN THÁI DƯƠNG
LỚP: 109040A
KHÓA: 010
NĂM HỌC: 2010-2011
Hồ Chí Minh 3-2011
PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường sống – cái nôi của nhân loại đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng do con
người. Cùng với sự phát triển của xã hội, môi trường đang từng bước bị hủy diệt là
mối quan tâm không chỉ riêng của một quốc gia nào. Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ
của cộng đồng toàn cầu và của Việt Nam nói riêng. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày
25/06/1998 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện đường lối chỉ đạo
đúng đắn đối với công tác bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của nước ta.
Hiện trạng môi trường không khí ở nước ta, đặc biệt là trong các khu công nghiệp
và đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai … đang là
mối lo ngại cho các cơ quan quản lý nhà nước về mặt môi trường cũng như toàn thể
dân cư trong khu vực. Phần lớn các nhà máy xí nghiệp chưa có hệ thống xử lý ô
nhiễm không khí hoặc có nhưng hoạt động không có hiệu quả và mang tính chất đối
phó. Bên cạnh đó, với đặc điểm của một nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
mang tính chất sản xuất nhỏ, công nghiệp lạc hậu, thiếu thốn nguyên vật liệu…, nên
Hơi nước Dao động mạnh; thông thường khoảng 1%
4
Tính chất quan trọng của khí quyển là: Tính giảm nhiệt trong tầng đối lưu, tính đảo
nhiệt, địa hình ảnh hưởng được đến không khí, khí quyển có quá trình tích tụ, xảy ra
phản ứng quang hóa và hóa học trong khí quyển.
II/ Ô nhiễm không khí.
1/ Định nghĩa.
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự
xuất hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm
nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật.
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không
phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt
và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Hàng năm con người khai thác
và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng thời cũng thải vào môi trường
một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các
nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
2/ Quá trình gây ô nhiễm không khí.
Đầu tiên là do trung tâm sản xuất gây ô nhiễm không thể kiểm soát dẫn tới quá
trình phát tán, lan truyền trong khí quyển. Và sau đó nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm
không khí là thực vật, động vật và con người.
3/ Nguyên nhân.
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và
nguồn nhân tạo.
- Tự nhiên: Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng. Tổng hợp các
yếu tố gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều
trên toàn thế giới, không tập trung trong một vùng. Trong quá trình phát triển, con
người đã thích nghi với các nguồn này.
- Nhân tạo:
+ Công nghiệp: Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người. Các quá trình
7
1/ Ô nhiễm không khí ở vùng đồi núi và trung du.
Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí thường do nạn cháy rừng.
Tác hại: làm mất cân bằng sinh thái và sự phục lại rừng hồi rất lâu song không
nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng con người.
Sẽ không đáng lo ngại nếu chúng ta hạn chế thu hẹp diện tích vùng địa hình này,
đảm bảo nguồn nước, bảo vệ rừng và sự cứu hộ kịp thời khi cháy rừng xảy ra.
2/ Ô nhiễm không khí ở vùng đòng bằng.
Vô hình và không mùi vị, những phần tử ô nhiễm không khí cực nhỏ lan tỏa trong
không khí, bay qua các đại lục và làm chết khoảng 380.000 người mỗi năm…
Khí thải từ động cơ diesel, sulfur từ các nhà máy nhiệt điện đốt than, và bụi sa mạc
cùng quện vào nhau tạo thành một hỗn hợp phân tử bụi âm ỉ lan tỏa trong không
trung hàng tuần.
Những thành phần độc hại nhất là những thành phần nhỏ nhất, có đường kính dưới
2,5 micromet. Khi chúng ta hít thở, các phân tử này có thể gây kích ứng phổi hoặc
truyền trực tiếp xuống dòng máu và phá hủy các huyết mạch.
Tuy nhiên cần đặt ra câu hỏi nghi vấn đối với tầm quan trọng của việc tập trung
vào vấn đề ô nhiễm liên lục địa.
Đa phần ô nhiễm có tác động tại chỗ. Nghiên cứu này cũng cho thấy trong tất cả
các trường hợp, chỉ có dưới 20 phần trăm tổng lượng ô nhiễm của một vùng là do
các nguồn ô nhiễm từ nơi khác đến.
Hơn nữa, khó khăn của việc nghiên cứu các phần tử nhỏ bé trên phạm vi toàn cầu
có thể khiến nhóm nghiên cứu đã phải coi các nguồn bụi tự nhiên cũng độc hại như
khói thải từ các nhà máy điện đốt than. Đây là “vùng tối” của khoa học, khi các nhà
nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn loại phân tử nào là độc hại nhất.
3/ Ô nhiễm không khí ở vùng ven biển.
Tàu thuỷ là tác nhân gây ô nhiễm không khí vùng ven biển.
Bằng việc sử dụng loại nhiên liệu ít pha lưu
huỳnh, tàu thuỷ sẽ góp phần làm giảm bớt ô
nhiễm không khí. Tuy nhiên liên quan tới ô
trọng thường xảy ra ở các đô thị, đặc biệt là thường xảy ra ở các đô thị lớn.
Ở nước ta trong thời gian khoảng ¼ thế kỷ qua, cùng với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình đô thị hoá tương đối nhanh.
Bảng 1 : Diễn biến đô thị hoá ở nước ta trong ¼ thế kỷ qua và dự báo đến 2020
Năm 1986 1990 1995 2000 2003 2006
2009
Dự báo
2010 2020
Số lượng đô
thị (từ loại V
trở lên)
480 500 550 649 656 729 752 - -
Dân số đô thị
(triệu người)
11,87 13,77 14,938 19,47 20,87 22,83 25,38 28,5 40,0
Tỷ lệ dân ĐT
trên tổng dân
số toàn quốc
(%)
19,3 20,0 20,75 24,7 25,8 27,2 29,6 32,0 45,0
9
Bảng 2: Bùng nổ giao thông cơ giới (ước tính).
Năm 1980 2000 Hiện nay
Xe
đạp
Ô tô,
xe
máy
32,9%).
Đô thị càng phát triển thì số lượng phương tiện GTVT lưu hành trong đô thị càng
tăng nhanh (Biểu đồ 1). Đây là áp lực rất lớn đối với môi trường không khí đô thị.
Biểu đồ 1. Số lượng ô tô và xe máy hoạt động hàng năm của Việt Nam
Số lượng phương tiện cơ giới này tập trung chủ yếu rất lớn tại các đô thị lớn, đặc
biệt là ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội (Biểu đồ 2).
Một đặc trưng của các đô thị Việt Nam là phương tiện giao thông cơ giới 2 bánh
chiếm tỷ trọng lớn. Ở các đô thị lớn, trong những năm qua, tỷ lệ sở hữu xe ôtô tăng
nhanh, tuy nhiên lượng xe máy vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn.
Tp. Hồ Chí Minh có tới 98% hộ dân thành phố có sở hữu xe máy.
10
Biểu đồ 2. Số lượng xe máy trên 1.000 dân ở các thành phố lớn của Việt Nam 2006
Hình 1. Tình trạng giao thông tại Ngã
sáu Dân Chủ, Tp. Hồ Chí Minh
Hình 2. Tình trạng giao thông tại đường
Láng Hạ, Hà Nội
Công nghiệp hóa và đô thị hóa càng mạnh thì nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng
lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng.
Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25 năm tới
còn tiếp tục tăng cao (Biểu đồ 3). Nếu các tiêu chuẩn về chất lượng xăng dầu không
được thắt chặt thì chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí đô thị rất
nghiêm trọng.
Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phát thải các chất độc hại như
CO, hơi xăng dầu (HmCn, VOC), SO2, chì, BTX. Phát thải những chất này liên
quan chặt chẽ đến chất lượng xăng dầu. Trong cơ cấu tiêu thụ xăng dầu của quốc gia
thì GTVT chiếm tỷ trọng lớn nhất, là nguồn phát thải khí ô nhiễm lớn nhất trong đô
thị.
11
Biểu đồ 3. Nhu cầu xăng dầu của Việt Nam những năm qua và dự báo cho đến 2025
Mảng 3: Thực trạng ô nhiễm không khí.