Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang từng
bớc thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập với khu vực và Thế giới. Trong
quá trình hòa với xu hớng phát triển chung của nhân loại ấy, tự do hoá tài chính
nh là một yêu cầu không thể thiếu, một giải pháp quan trọng tạo ra những bớc
tiến lớn cho hội nhập và phát triển.
Trớc yêu cầu tự do hoá tài chính đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, Đảng
và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng trong đổi mới để nâng cao hiệu quả kinh
doanh và năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam vốn còn tồn tại
nhiều hạn chế. Đặc biệt, sau khi Nghị quyết TW 9 khoá IX của Đảng về cổ
phần hoá DNNN trong đó có các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Ngân
hàng và chỉ thị số 11/2004/CT-TTG về đổi mới DNNN, chỉ định hai Ngân
hàng : Ngân hàng Ngoại thơng và Ngân hàng Đồng Bằng Sông Cửu Long là hai
Ngân hàng sẽ cổ phần hoá đợc ban ra thì việc cổ phần hoá NHTM Nhà nớc trở
thành một vấn đề mới mẻ, đợc sự quan tâm chú ý hàng đầu của nhiều thành
phần trong và ngoài nớc.
Cho đến nay, việc cổ phần hoá NHTM Nhà nớc đã có những khởi đầu và
đang đợc tích cực triển khai.Tuy nhiên những gì đã đạt đợc vẫn đợc đánh giá là
chậm so với kế hoạch. Và thực tế, quá trình thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn
vớng mắc. Bởi vậy, việc tìm ra các giải pháp để thúc đẩy quá trình cổ phần hoá
NHTM Nhà nớc là cần thiết đối với các NHTM Nhà nớc nói riêng và đối với
nền kinh tế nớc ta nói chung. Đây chính là lý do em chọn đề tài Thực trạng và
giải pháp cổ phần hoá NHTM Nhà nớc Việt Nam với mong muốn đợc tìm hiểu
thêm và đóng góp một vài ý kiến nhỏ đối với sự kiện kinh tế đầy tính thời sự
này.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
1
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống các quan điểm và
luận cứ khoa học cho việc cổ phần hoá NHTM Nhà nớc từ đó đề ra các giải
pháp cần thiết để thúc đẩy quá trình cổ phần hoá theo đúng tiến độ.
Xuất phát từ chức năng của Ngân hàng có thể định nghĩa:
Ngân hàng là một loại định chế tài chính mà hoạt động thờng xuyên là
nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
toán.
NHTM là loại hình Ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông
qua các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu.
Từ đó, NHTM Nhà nớc là NHTM do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập và tổ
chức quản lý hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã
hội của Nh n ớc. Hoạt động của NHTM Nhà nớc chịu sự điều chỉnh của luật
DN, luật DNNN, luật các tổ chức tín dụng.
Các NHTM Nh n ớc chính là các DNNN quy mô lớn về vốn, về lao
động, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính có giá trị gia tăng cao. Và
không giống những loại hình doanh nghiệp khác, sản phẩm của Ngân hàng chủ
yếu là tiền, một loại hàng hoá đặc biệt, đối tợng giao dịch là cộng đồng rộng lớn
nên sự an toàn của hệ thống Ngân hàng đợc đặt lên hàng đầu.
Hoạt động chính của NHTM nhà nớc bao gồm có:
3
Nghiệp vụ tài sản nợ : Phản ánh hoạt động tạo lập nguồn vốn của Ngân
hàng. Nguồn vốn này bắt nguồn từ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội : Vốn
tiền gửi nh nhận tiền gửi không kì hạn, nhận tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết
kiệm, vốn đi vay nh phát hành kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi, vay của NHNN, các
Ngân hàng và tổ chức tài chính khác Vốn tự có gồm vốn điều lệ, các quỹ dự
trữ đợc trích từ lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn tự có, và vốn coi nh tự
có (lợi nhuận cha chia,các quỹ khác cha sử dụng)
Nghiệp vụ tài sản có: Phản ánh hoạt động sử dụng vốn của NHTM.Đặc
điểm của hoạt động này là phải an toàn và sinh lời. Nó là các hoạt động cho
vay: chiết khấu thơng phiếu, cho vay ứng trớc, factoring Hoạt động đầu t , dự
trữ ngân quỹ
Ngoài ra, hệ thống NHTM đang ngày càng mở rộng khả năng kinh doanh
của mình bằng cách cung cấp các dịch vụ tiện ích cho khách hàng.
những công trình phúc lợi lớn của Nhà nớc nh xây dựng các nhà máy, các
chung c, cầu đờng góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc.
Thứ ba, thông qua các chi nhánh, mạng lới rộng khắp của NHTM Nhà n-
ớc, Chính phủ có thể chuyển vốn đến những vùng khó khăn, những đối tợng
chính sách đang cần vốn.Từ đó,tạo khả năng phát triển cho những vùng, những
ngành không có điều kiện thuận lợi, không thu hút đợc đầu t. Có nh thế mới
thực hiện đợc chủ trơng đồng đều trong cả nớc, xoá bỏ khoảng cách giữa nông
thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng, ngời giàu và ngời nghèo.
Việt Nam, hoạt động của NHTM Nhà nớc đã đem đến cho sự nghiệp
xây dựng đất nớc những thành công không thể phủ nhận. Những công trình giao
thông, điện, những công trình trọng điểm quốc gia đợc xây dựng từ phần lớn
nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng đang làm thay đổi diện mạo đất nớc
từng ngày. Năm 2003, vốn đầu t Nhà nớc, trong đó phần lớn là tín dụng của
NHTM Nhà nớc, chiếm tới 56,5% tổng số vốn đầu t toàn xã hội. Không chỉ cấp
tín dụng, các Ngân hàng còn tích cực trong các chơng trình xoá đói giảm nghèo
5
của Nhà nớc. Điển hình là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.Tại
nhiều vùng nông thôn, miền núi còn nghèo nàn khó khăn, các cán bộ tín dụng
đến cấp vốn và hớng dẫn nông dân làm giàu, thúc đẩy phát triển kinh tế ở các
địa phơng.Các chơng trình cho vay trả chậm nhà ở vùng ngập lũ ở đồng bằng
sông Cửu Long, cho vay nớc sạch và vệ sinh môi trờng, cho vay giải quyết việc
làm học sinh, sinh viên đ ợc thực hiện. Đó là những hoạt động vừa mang tính
kinh tế vừa mang tính xã hội rộng rãi. Theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTG
ngày 04/10/2002, Ngân hàng chính sách xã hội đã đợc thành lập để thực hiện
vai trò xã hội của nó là cho vay chính sách, tạo điều kiện để các NHTM Nhà n-
ớc chú trọng vào hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, với hoạt động bản chất là
cấp tín dụng trong điều kiện nền kinh tế nớc ta con cha phát triển ,các NHTM
Nhà nớc vẫn có những đóng góp nhất định đối với các chơng trình xã hội nh
công tác xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn.
cả pháp nhân, cả thể nhân,ngời nớc ngoài hay ngời lao động.
Việc hình thành DNNN ở mỗi nớc trên thế giới là do điều kiện khách
quan của từng nớc chi phối và quyết định. ở Việt Nam , trong nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung, DNNN là một công cụ quan trọng để Nhà nớc quản lý và
điều hành vĩ mô, thực hiện chức năng kinh tế và xã hội. Cũng vì thế, thời kì này,
DNNN đợc Nhà nớc u đãi và có những trợ giúp nhất định. Bớc sang nền kinh tế
thị trờng, các DNNN phải chấp nhận hoà nhập vào thị trờng cạnh tranh gay gắt
với những biến động khôn lờng. Những u đãi trong cơ chế cũ thờng không đợc
tính toán một cách chính xác, sự bao cấp của Nhà nớc cũng có hạn với một số l-
ợng DNNN quá lớn, khiến cho nhiều DNNN làm ăn thua lỗ, ít hiệu quả và trở
thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng và
Nhà nớc đã đa ra chủ trơng đổi mới, sáp nhập, hợp nhất, giải thể và cổ phần hoá
các DNNN . Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần IX nêu rõ: Thực hiện
chủ trơng cổ phần hoá những doang nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm giữ
100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Thực hiện việc giao bán, khoán
7
cho thuê, các doang nghiệp loại nhỏ mà Nhà nớc không cần nắm giữ. Sáp nhập,
giải thể, phá sản những doanh nghiệp không hiệu quả và không thực hiện đợc
các biện pháp trên [190] .
Sau hơn mời ba năm thực hiện, cổ phần hoá DNNN đã đem lại những kết
quả khả quan, cho they sự chuyển biến tích cực so với trớc khi chuyển đổi sở
hữu doanh nghiệp, thể hiện qua số liệu của một số doanh nghiệp đợc cổ phần
hoá: Vốn điều lệ tăng 50%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trớc thuế tăng
137%, nộp ngân sách tăng 45%, thu nhập ngời lao động tăng 63%.
1.2.1.2. Khái niệm cổ phần hoá NHTM nhà nớc.
Giống nh cổ phần hoá DNNN, cổ phần hoá NHTM Nhà nớc là quá trình
chuyển hoá cơ cấu sở hữu tài sản và quyền chủ động điều hành hoạt động từ
đơn sở hữu là Nhà nớc sang đa sở hữu. Trong quá trình đó, Nhà nớc chuyển và
góp toàn bộ Cơ nghiệp của NHTM Nhà nớc trớc khi cổ phần hoá vào một
với lợng khách hàng lớn là giá trị vô hình khổng lồ của các Ngân hàng.
Sự khác nhau thứ hai , là hoạt động Ngân hàng là hoạt động nhạy cảm và
có mối liên hệ mật thiết đôí với nền kinh tế. Bản thân các Ngân hàng cũng có sự
phụ thuộc lớn lẫn nhau chứ không tách riêng nh đối với các DNNN. Chỉ cần sự
biến động trong một Ngân hàng cũng có thể dẫn sự xáo trộn trong hoạt động
của cả hệ thống và của nền kinh tế. Lịch sử đã chứng minh rằng sự thất bại của
10.000 ngân hàng ở Mỹ vào giữa những năm 1930-1933 đã làm cho cuộc khủng
hoảng trầm trọng hơn và dai dẳng hơn. Gần đây cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ Châu á cũng cho thấy nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng không
phảI do áp lực tài trợ cho những thiếu hụt về ngân sách nh cuộc khủng hoảng ở
châu Mỹ La tinh mà chính là do những yếu kém của hệ thống ngân hàng. Điều
này đòi hỏi cổ phần hoá NHTM nhà nớc phải hận trọng hơn nhiều so với cổ
phần hoá doanh nghiệp.
Điều này đòi hỏi cổ phần hoá NHTM Nhà nớc phải thận trọng hơn nhiều
so với cổ phần hoá doanh nghiệp.
9
1.2.2 Sự cần thiết phải cổ phần hoá NHTM nhà nớc
Với những vai trò chức năng của mình hệ thống ngân hàng đóng vai trò
nh mạch máu của nền kinh tế. Ngày nay sự vận động của kinh tế thế giới là
kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trờng không chỉ cạnh tranh trong nớc mà cả
quốc tế. Việc Việt Nam thực hiện đổi mới mở cửa đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu
quả hoạt động của DNNN, chuyển DNNN thành doanh nghiệp độc lập tự chủ
trong đó bao gồm cả đổi mới cơ cấu hệ thống NHTM Nhà nớc Việt Nam. Trớc
yêu cầu đó cổ phần hoá đợc xem là biện pháp khả thi nhất đợc ví nh một mô
hình tối u, một sản phẩm văn minh của nền kinh tế thị trờng. Bởi vì cổ phần
hoá sẽ giúp NHTM Nhà nớc giải quyết đợc những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, tăng vốn tự có để đáp ứng yêu cầu về tăng trởng và an toàn
Về năng lực tài chính nói chung các NHTM nhà nớc Việt Nam còn rất
yếu so với nhu cầu thực tiễn. Thiếu vốn tự có đang là một vấn đề bức xúc đối
với NHTM Nhà nớc. Thực tế, trong số vốn tự có hiện nay của các ngân hàng thì
thống NHTM nhà nớc hoạt động hiệu quả hơn mà còn giúp hình thành cơ chế,
tạo môi trờng để các DNNN khác hoạt động có hiệu quả hơn.
Thứ ba, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng lực quản lý điều hành
Mặc dù có những cải cách đáng kể trong quản trị điều hành, hoạt động của các
NHTM nhà nớc còn bộc lộ những yếu kém về trình độ quản lý và năng lực làm
việc.
Sau cổ phần hoá, tỷ trọng sở hữu sẽ quyết định mức độ tự chủ trong kinh
doanh của Ngân hàng, trong quyết định đầu t và quyết định tín dụng. Theo đó,
năng lực điều hành quản trị của NHTM Nhà nớc sau cổ phần hoá sẽ đợc cải
thiện. Nó thúc đẩy các lãnh đạo Ngân hàng phải làm việc vì lợi ích cổ đông, có
tinh thần trách nhiệm hơn bởi lúc này giám đốc là ngời làm thuê chịu sự giám
sát chặt chẽ trong điều hành hoạt động Ngân hàng. Với sự giám sát của các nhà
đầu t qua việc niêm yết cổ phiếu của Ngân hàng trên thị trờng chứng khoán,
cũng nh tính nhạy cảm của nhà đầu t về tính minh bạch trong hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng, mô hình cổ phần hoá giảm thiểu đợc tình trạng trì
11
trệ,hoạt động kém hiệu quả .Khi quyền lợi riêng gắn với quyền lợi chung thì ng-
ời lao động cũng quan tâm hơn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, không
ngừng tiết kiệm chi phí đem lại lợi ích cho Ngân hàng nói riêng và cho nền kinh
tế nó chung.
Thứ t, hiện đại hoá công nghệ và phát triển sản phẩm mới.
Vấn đề hiện đại hoá công nghệ tuy đã đợc quan tâm và có nhiều chuyển biến
song phần lớn cũng mới trong giai đoạn thử nghiệm và mới chỉ chủ yếu đợc
thực hiện tại các đô thị.Thông qua công cụ cổ phần hoá, tạo điều kiện cho các
Ngân hàng thu hút nguồn vốn và các nhà đầu t nớc ngoài có kinh nghiệm và
năng lực tài chính tham gia vaò công tác quản lý điều hành thời kỳ hậu cổ phần
hoá. Đây chính là cơ hội để các Ngân hàng đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ.
Thứ năm, nâng cao năng lực cạnh tranh
Việc Việt Nam tham gia vào hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ và hội nhập
Việt Nam sắp gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO) cũng đòi hỏi việc mở
cửa của lĩnh vực tài chính tiền tệ. Sự lớn mạnh của các Ngân hàng trong nớc
ngoài quốc doanh cũng đang tạo sức ép cạnh tranh với các NHTM Nhà nớc.Để
tồn tại và đứng vững trong môi trờng ấy,cổ phần hoá để chuyển dịch cơ chế
hoạt động, đa dạng hoá sở hữu,bình đẳng trong hoạt động, chuyên môn hoá
nghiệp vụ, đổi mới công nghệ hoạt động, kinh nghiệm quản lý, chất lợng nhân
sự là con đờng duy nhất của các NHTM Nhà nớc Việt Nam, tạo ra sự cạnh tranh
lành mạnh cho các Ngân hàng.
Vì cổ phần hoá là một phơng thức hữu hiệu, giúp các NHTM Nhà nớc có
thể cùng một lúc đạt đợc nhiều mục tiêu trong chiến lợc phát triển nh thế nên có
thể khẳng định cổ phần hoá là cần thiết đối với các NHTM Nhà nớc.
1.3 Kinh nghiệm về cổ phần hoá NHTM nhà nớc trên thế giới.
Cổ phần hoá NHTM nhà nớc đang là một xu thế diễn ra phổ biến trên thế
giới. Trong khoảng 15 năm qua, đã có rất nhiều quốc gia tiến hành cổ phần hoá
các NHTM sở hữu nhà nớc. Đây có thể xem là một trong những điểm mốc đánh
13
dấu sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của NHTM nhà nớc đối với quá trình
phát triển kinh tế đất nớc và vai trò của chính phủ trong việc lên kế hoach và
điều tiết sự phát triển đó. Việc tìm hiểu, xem xét về quá trình cổ phần hoá của
một nớc đi trớc, nhất là những nớc có có đặc điểm kinh tế xã hội tơng đồng với
nớc ta, có thể đem lại những bài học kinh nghiệm hữu ích cho việc cổ phần hoá
các NHTM nhà nớc hiện nay.
1.3.1. Cổ phần hoá NHTM nhà nớc tại một số quốc gia.
1.3.1.1. Cổ phần hoá NHTM nhà nớc tại Mexico:
Năm 1991, Chính phủ Mexico bắt đầu thực hiện cổ phần hoá các NHTM
nhà nớc. Tháng 8/1991, ngân hàng đầu tiên thực hiện cổ phần hoá là Banco
Nacional de Mexico (Banamex) với tổng tài sản 4.430 triệu USD, trong đó phần
bán cho các nhà đầu t t nhân là 70.7% (3.132 triệu USD). Ngay sau đó, vào
tháng 10/1991, một ngân hàng khác là Grupo Financiero Bancomer cũng đợc cổ
phần hoá giống Banamex, tức là bán một phần tài sản cho nhà đầu t t nhân.Tổng
dựng bốn NHTM quốc doanh lớn thành các trụ cột của hệ thống và tách bạch
các khoản cho vay chỉ định với các điều kiện đãi sang một ngân hàng chuyên
biệt. Nguyên nhân là vì nền tảng cho khu vực ngân hàng định hớng thị trờng
mạnh cha đợc thiết lập. Các ngân hàng lớn vẫn cha có sự độc lập từ Chính phủ.
Nhà nớc vẫn chiếm cổ phần chi phối trong các ngân hàng sau khi chúng đợc cổ
phần hoá. Các ngân hàng không những vẫn giữ lại mối quan hệ với các khách
hàng mà còn nắm giữ cổ phần của các khách hàng này trong quá trình cổ phần
hoá. Điều này đã làm nảy sinh vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích của chủ sở hữu và
chủ nợ. Khi có một cuộc khủng hoảng tiền tệ nhỏ tác động đến, bảng cân đối
của các ngân hàng sẽ bị ảnh hởng. Vấn đề nợ xấu không đợc giải quyết triệt để
do các khoản tín dụng u đãI vẫn đợc tiếp tục. Để giải quyết triệt để vấn đề này,
các ngân hàng lớn của Séc cần một đợt tái cấp vốn đáng kể trớc khi có thể bán
cho các nhà đầu t. Ước tính tổng chi phí của việc tái cấu trúc các ngân hàng
của Séc lên đến 30% GDP. Đây là con số cao nhất trong chơng trình tái cấu trúc
của các nền kinh tế chuyển đổi.
15
- Cổ phần hoá NHTM nhà nớc ở Hungary.
Ngợc lại với cổ phần Séc, Hungary theo đuổi chính sách cổ phần hoá các ngân
hàng quốc doanh bằng việc bán cổ phần chi phối cho các nhà đầu t chiến lợc n-
ớc ngoài càng nhanh càng tốt. Việc bán nh vậy đòi hỏi việc táI cấp vốn của các
ngân hàng phảI tạo ra sự kết nối giữa giá trị ròng hiện tại và những giá trị đặc
lợi thu hút các nhà đầu t nớc ngoài. Hai đợt táI cấp vốn và nhiều đợt táI cấp vốn
bổ sung của các ngân hàng trong nớc tạo cho Hungary có đợc giảI pháp phù
hợp xử lý vấn đề nảy sinh từ tâm lý ỷ lại mà trớc đó gần nh cha đợc đề cập đến.
Đợt táI cấp vốn lần thứ nhất cha đủ tác động mạnh vì các công cụ đợc sử dụng
cha đủ thanh khoản và thu hút về phơng diện tài chính vì các ngân hàng đợc táI
cấp vốn vẫn cung ứng tín dụng và các dịch vụ ngân hàng và các khách hàng
kém hiệu quả. Đợt táI cấp vốn thứ hai sử dụng các công cụ có tính thị trờng là
sự thành công đáng kể vì việc cổ phần hoá thực sự nhắm đến các nhà đầu t t t
nhân và đầu t nớc ngoài. Việc táI cấp vốn kết hợp với chiến lợc cổ phần hoá đa
đãI với giá 12,5USD/cổ phiếu với 10% cổ phần, nhà nớc giữ 33%, bán cho nhà
đầu t chiến lợc ING của Hà Lan 25,9% còn lại bán cho nhà đầu t trong nớc.
Ngày 25/9/1994 cổ phiếu ngân hàng này đợc niêm yết và giá đợc thị tr-
ờng chấp nhận tại phiên giao dịch đầu tiên là 337,5USD/cổ phiếu. Tháng 7/1996
ING mua thêm 28% cổ phần của nhà nớc và nắm tỷ lệ chi phối là 54%.
Ngân hàng thứ ba là ngân hàng Przemyslowo- Handlowy vào tháng
1/1995. Vì là ngân hàng có chất lợng quản lý, tín dụng thấp so với 2 ngân hàng
trớc nên giá bán của cổ phiếu sau khi đấu giá công khai bằng giá thấp nhất của
chính phủ đa ra ban đầu và nhà nớc nắm giữ 43% cổ phần.
Trớc tình hình đó, năm 1995 chính phủ Ba Lan đã đa ra kế hoạch củng cố
các ngân hàng trớc khi cổ phần hoá rộng hơn để đảm bảo tận thu cho ngân sách
và hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổ phần chi phối của nớc ngoài.
Tháng 12/1995, ngân hàng thứ t đợc tiến hành cổ phần hoá là ngân hàng
Gdanski( BG). Kế hoạch đợc thông báo là 33% cổ phiếu bán cho nhà đầu t nớc
17
ngoài theo danh mục đầu t, 33% bán cho nhà đầu t trong nớc, 30% nhà nớc nắm
giữ, còn lại bán cho cán bộ nhân viên ngân hàng.
Cuối năm 1995, nhằm tránh sự chi phối của hệ thống ngân hàng nớc
ngoài, Chính phủ đã công bố kế hoạch củng cố bằng việc sáp nhập tất cả các
NHTM nhà nớc còn lại cùng với ngân hàng BPH thành 2 ngân hàng lớn.
1.3.1.3 Cổ phần hoá NHTM nhà nớc tại Trung Quốc.
Sau hơn 27 năm, thực hiện công cuộc đổi mới và chính sách mở cửa, hệ
thống ngân hàng Trung Quốc đang đứng trớc sức ép cạnh tranh rất lớn bởi các
cam kết gia nhập WTO đầy đủ vào cuối năm 2006. Hiện tại trong khi hội nhập
về thơng mại của Trung Quốc với cộng đồng quốc tế đạt 80% thì hội nhập của
ngành ngân hàng- tài chính tiền tệ chỉ đạt 1%. Do đó vấn đề cải cách hệ thống
ngân hàng mà trớc hết là các ngân hàng thơng mại quốc doanh đang đợc chính
phủ Trung Quốc dành sự quan tâm đặc biệt.
Hệ thống NHTM nhà nớc ở Trung Quốc hiện nay gồm 4 ngân hàng làm
chủ 60% tổng tài sản và khoảng 80% thị phần cho vay với cơ cấu tổ chức mang
Bên cạnh các biện pháp trên, để giúp các NHTM quốc doanh tăng cơ sở
vốn, NHTW Trung Quốc cho biết sẽ cho phép các ngân hàng này phát hành tráI
phiếu thứ cấp và chứng chỉ tiền gửi chuyển nhợng sau khi ban hành các quy
định mới về tài chính cho phép các ngân hàng bán các khoản nợ thứ cấp trên thị
trờng liên ngân hàng trong nớc và thông qua các cơ sở t nhân. Ngày 7/7/2004
vừa qua, ngân hàng Trung Quốc đã phát hành 1,7 tỷ UUSSdD tráI phiếu thứ
cấp trên thị trờng liên ngân hàng có thời hạn 10 năm với coupon hàng nặm là
4,87% nhằm cảI thiện tình hình tài chính. Cả 4 NHTM quốc doanh Trung Quốc
dự định phát hành tổng cộng 36 tỷ USD tráI phiếu thứ cấp nhằm cố đạt đợc tỷ lệ
an toàn vốn 8%.
Về chọn ngân hàng cổ phần hoá, kế hoạch của Trung Quốc sẽ bắt đầu từ
hai ngân hàng tốt nhất là ngân hàng Trung Quốc và ngân hàng kiến thiết Trung
Quốc. Ngân hàng Công thơng Trung Quốc dự kiến cũng đợc cổ phần hoá vào
năm 2007. Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, ngân hàng đợc đánh giá là yếu
19
kém nhất trong số 4 NHTM quốc doanh Trung Quốc sẽ là ngân hàng cuối cùng
tiến hành cổ phần hoá.
Luật pháp Trung Quốc mới sửa đổi cũng quy định để đợc niêm yết trên thị
trờng chứng khoán, các ngân hàng phảI có ít nhất 5 chủ sở hữu.
Về tìm đối tác chiến lợc đầu t vào NHTM quốc doanh đợc cổ phần hoá th-
ờng đợc lựa chọn các nhà đầu t tài chính của Mỹ. Tuy nhiên, Chính phủ Trung
Quốc cũng quy định giới hạn tỷ lệ cổ phần nhà đầu t nớc ngoài sở hữu trong 1
NHTM của Trung Quốc. Tỷ lệ cổ phần tối đa một nhà đầu t nớc ngoài đợc nắm
giữ trong một ngân hàng của Trung Quốc đợc nâng từ mức 15% lên 20% nhng
tổng tỷ lệ tối đa của tất cả các cổ đông nớc ngoài vẫn giữ ởmức không quá 25%.
Các ngân hàng tự hoạch định kế hoạch, phơng án phát hành cổ phiếu để
tăng vốn. Sau đó thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp, mệnh giá cổ phần hoá,
thực hiện cổ phần hoá và niêm yết cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán. Quá
trình cổ phần hoá không tách rời với các hoạt động đẩy mạnh kinh doanh trong
ngân hàng kết hợp với tăng lơng hợp lý cho cán bộ nhân viên ngân hàng, hoàn
bộ tài sản công ty sẽ đợc mang ra bán, hoặc là đấu giá hoặc là giá thoả thuận
với đối tác. Có thể đối tác là một doanh nghiệp khác hoặc là nhóm nhà đầu t.
Nhà nớc có thể bán một phần doanh nghiệp hoặc bán tất. Thông thờng tài sản
công ty thờng đợc thực hiện thông qua một cuộc đấu giá công khai. Mexico là
nớc đã tiến hành cổ phần hoá các NHTM nhà nớc chủ yếu theo cách này.
Thứ hai là phơng thức phát hành cổ phiếu ra công chúng. Theo cách này
thì một công ty , ngân hàng sẽ đợc cổ phần hoá bằng cách nhà nớc phát hành cổ
phiếu công ty ra thị trờng cho cá nhân và tổ chức tài chính, hay doanh nghiệp
khác. Đây là cách tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc khá phổ biến và
mang lại hiệu quả kinh tế nhất cho ngân sách nhà nớc.
1.2.3.4 Chuẩn bị cổ phần hoá.
Nhiệm vụ quan trọng nhất để chuẩn bị cho chuẩn bị cổ phần hoá NHTM
nhà nớc là tái cấp vốn và xử lý nợ xấu để nâng cao năng lực tài chính cho các
ngân hàng. Đây là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi phải có các giải pháp phù
21
hợp với những bớc cẩn trọng, kịp thời đối phó với các khó khăn nảy sinh. Tránh
trờng hợp sau khi đợc tái cấp vốn các ngân hàng vẫn tiếp tục cung ứng tín dụng
cho các khách hàng kém hiệu quả, các khoản nợ cũ giảm đi bằng nợ xấu phát
sinh.
1.2.3.5 Về cơ cấu sở hữu vốn.
Khi tiến hành cổ phần hoá NHTM nhà nớc, các nhà đầu t đợc xác định
gồm Nhà nớc, nhà đầu t nớc ngoài, cán bộ công nhân viên ngân hàng, các nhà
đầu t trong nớc (các doanh nghiệp, công chúng). Về nắm giữ cổ phần chi phối,
tuỳ theo hoàn cảnh, mục tiêu đặt ra đối với thực hiện cổ phần hoá NHTM nhà
nớc mà lựa chọn ngời nắm cổ phần chi phối của ngân hàng là nhà nớc, nhà đầu
t trong nớc hay là nhà đầu t nớc ngoài. Nếu là nhà nớc nắm giữ cổ phần chi phối
thì phải đảm bảo hoạt động của ngân hàng sau cổ phần hoá tuân theo nguyên
tắc thị trờng, quyền định đoạt, kiểm soát ngân hàng của các cổ đông khác.
Ngoài ra cũng cần xác định tỷ lệ nắm giữ cổ phần phù hợp cho các nhà đầu t
còn lại.
Ngân hàng.
Vốn tự có của Ngân hàng quy định năng lực thanh toán và tạo ra uy tín
của Ngân hàng .
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng .
Đối với kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng có vốn tự có lớn và duy trì đợc vốn
tự có là biểu hiện của một Ngân hàng bền vững.Theo Thoả ớc về Đo lờng vốn
và tiêu chuẩn vốn quốc tế năm 1988 của uỷ ban Basel II, hệ số vốn tự có/ tổng
23
tài sản có điều chỉnh theo mức độ rủi ro (Hệ số CAR=Capital Adeqcy Ratio)
của các Ngân hàng tối thiểu phải là 8%.
ở Việt Nam, vốn tự có của các NHTM Nhà nớc tăng liên tục trong giai
đoạn 2002 2005. Năm 2002 2003, vốn tự có tăng với tỉ lệ tơng ứng là
69% và 42% đạt mức 17018 tỷ đồng vào cuối năm 2003. Sự gia tăng vốn này
chủ yếu bằng hoạt động cấp bổ sung vốn điều lệ của nhà nớc cho các Ngân
hàng. Chỉ tính riêng trong năm 2002 2003, tổng số vốn điều lệ cấp bổ sung
cho 5 NHTM Nhà nớc lên tới 9.346 tỷ, chiếm khoảng 55% vốn tự xử lý nợ và
bổ sung vốn điều lệ cho các NHTM Nhà nớc. Đến cuối năm 2004, tổng số vốn
điều lệ của 5 Ngân hàng này ớc đạt 18.031 tỷ đồng (Bảng 2.1).
Bảng 2.1. Vốn điều lệ và tỉ lệ an toàn vốn của các NHTM Nhà nớc
(tháng 12/2004)
NHTM Nhà nớc
Vốn điều lệ
(Tỷ đồng)
Tỉ lệ an toàn vốn
(%)
Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn
6.095 6,17
Ngân hàng Công thơng
3.265 4,43
Phát triển nông thôn xử lý đợc 80% nợ đọng, Ngân hàng đầu t và phát triển xử
lý đợc 70%, Ngân hàng Công thơng thì cha đạt đợc tiến độ đề ra do nợ tồn đọng
quá lớn phát sinh từ các vụ án. Tỷ lệ xấu / Tổng d nợ giảm đáng kể. Năm 2004
bình quân giảm 4-5% so với năm 2003, đợc thể hiện qua bảng.
Bảng 2.2.Tình hình nợ xấu của các NHTM Nhà nớc năm 2003-2004
NHTM Nhà nớc
Tháng 12/2003 Tháng 12/2004
Nợ xấu
(Tỷ đồng)
Tỷ lệ nợ xấu/
Tổng d nợ
(%)
Nợ xấu
(Tỷ đồng)
Tỷ lệ nợ xấu/
Tổng d nợ
(%)
Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn
3.647,8 3,20 4.053,7 2,89
Ngân hàng Công thơng 6.560,4 10,62 7.245,4 9,25
Ngân hàng đầu t và phát
triển
3.064,8 4,89 4.897,6 7,01
Ngân hàng Ngoại thơng 1.240 3,13 1.450,2 2,79
Ngân hàng phát triển nhà 80,7 1,91 1.11,2 2,23
25