Nghiên cứu giải pháp công trình đảm bảo an toàn cho đê biển tỉnh Nam Định chịu tác động của triều cường và gió bão cấp 10 - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN 

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng công trình thủy với đề tài “Nghiên
cứu giải pháp công trình đảm bảo an toàn cho đê biển tỉnh Nam Định chịu tác
động của triều cường và gió bão cấp 10” được hoàn thành với sự giúp đỡ của Quý
thầy cô giáo trong khoa Công trình thủy, phòng Đào tạo đại học và Sau đại học,
bộ môn Thủy công cùng các đồng nghiệp và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô, đồng nghiệp và bạn vè đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
tốt nghiệp.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Giáo sư - Tiến sĩ
Nguyễn Chiến đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện để tác giả phấn đấu
hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tác giả về
mọi mặt trong suốt thời gian vừa qua.
Tuy đã có những cố gắng nỗ lực phấn đấu rất nhiều, nhưng do thời gian và
trình độ còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong Quý
thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè góp ý xây dựng để tác giả có thể tiếp tục nghiên
cứu hoàn thiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Tác giả

Đoàn Thị Loan



1.3.4. Hiện trạng tuyến đê biển Nghĩa Hưng 13
1.3.5. Tồn tại của đê biển Nam Định 13
1.4. Các yêu cầu cải tạo, nâng cấp đê biển tỉnh Nam Định 14
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2
: NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH
NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH 17
2.1. Điều kiện khí tượng, thủy văn, hải văn khu vực ven biển Nam Định 17
2.1.1. Các trạm khí tượng thuỷ văn 17
2.1.2. Các đặc trưng khí hậu 17
2.1.3. Đặc điểm thuỷ văn - thuỷ lực vùng biển Nam Định 22
2.2. Tiêu chuẩn thiết kế đê biển 24
2.2.1. Xác định cấp đê 24
2.2.2. Xác định tần suất thiết kế 24
2.2.3. Tuổi thọ công trình 24
2.2.3. Trị số gia tăng độ cao an toàn 25
2.3. Đề xuất giải pháp công trình để nâng cấp đê biển tỉnh Nam Định 25
2.3.1. Hiện trạng một số mặt cắt điển hình đê biển Nam Định 25
2.3.2. Xác định các chỉ tiêu thiết kế 25
2.4. Phân tích, lựa chọn giải pháp công trình hợp lý 32
2.4.1. Đê Giao Thủy: Đoạn Đồng Hiệu từ Km 30+600 đến Km 31+161 dài 570m32
2.4.2. Hải Hậu: Đoạn Gót Tràng từ K27+120 đến K27+900 dài 849,5 m 33
2.4.3. Nghĩa Hưng: Đoạn Tây Nam Điền từ K 16+613 đến K18+ 217 dài 1.604 m36
2.5. Kết luận chương 2 38
CHƯƠNG 3
: ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN NÂNG CẤP MỘT ĐOẠN ĐÊ BIỂN
GIAO THỦY, NAM ĐỊNH 39
3.1. Mô tả hiện trạng hệ thống đê biển Giao Thủy 39
3.2. Các tài liệu thiết kế, cải tạo nâng cấp đê biển Giao Thủy, Nam Định

Hình 1.10. Sóng trùm qua gây sạt lở đê từ trong đồng 10
Hình 1.11. Mặt cắt điển hình từ Km 0 đến Km 4+300 12
Hình 1.12. Mặt cắt điển hình từ K6+763 đến Km 14+125 12
Hình 2.1. Mặt cắt điển hình đoạn đê Đồng Hiệu 33
Hình 2.2. Mặt cắt điển hình đoạn đê Gót Tràng 36
Hình 2.3. Mặt cắt điển hình đoạn đê Tây Nam Điền 37
Hình 3.1. Khu vực Giao Thủy – Nam Định 43
Hình 3.2. Một số dạng kết cấu tường đỉnh phổ biến.
49
Hình 3.3. Tường đỉnh đặt mặt ngoài phía biển. 50
Hình 3.4.Tường đỉnh đặt cuối mặt đê (phía đồng). 50
Hình 3.5. Mặt cắt ngang đoạn đê Đồng Hiệu theo phương án 1 56
Hình 3.6. Mặt cắt ngang đoạn đê Đồng Hiệu theo phương án 2 58
Hình 3.7. Mặt cắt ngang đoạn đê Đồng Hiệu theo phương án 3 66
Hình 3.8. Khối trượt cung tròn 68
Hình 3.9.Sơ đồ phương pháp phân mảnh tính trượt cung tròn 68DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 . Lượng mưa lớn nhất tại Nam Định theo P% mùa mưa lũ 18
Bảng 2.2 . Lượng mưa vụ chiêm xuân ứng với tần suất P85% như sau : 18
Bảng 2.3 . Thống kê lượng mưa các tháng trong năm từ 2005 ÷ 2011 19
Bảng 2.4 . Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 20
Bảng 2.5. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 21
Bảng 2.6. Số giờ nắng các tháng trong năm từ 2005 ÷ 2011 (giờ) 21
Bảng 2.7. Mực nước thiết kế tại các mặt cắt 26
Bảng 2.8. Bảng tham số sóng thiết kế tại chân công trình 28
Bảng 2.9. Tham số sóng tính toán thiết kế 28
Bảng 2.10. Bảng tính toán tham số sóng thiết kế tại chân công trình 30

thời tiết xảy ra. Sóng lớn, nướ
c dâng kết hợp với triều cường đã làm vỡ đê tại
nhiều vị trí, gây thiệt hại về kinh tế xã hội hàng ngàn tỷ đồng.
Bão mạnh thường kèm theo nước dâng bão. Trong trường hợp nước dâng
bão xảy ra đồng thời với triều cường, mực nước cao giúp sóng đánh trực tiếp vào
đê biển, tràn qua đê gây xói lở và có thể vỡ đê, gây ngập lụt trên diện rộng và thiệt
hại rất lớn cho vùng ven biển.

2
Hiện trạng hệ thống đê biển mới chỉ thiết kế để chống được triều cường và
bão từ cấp 9 trở xuống. Nhưng nhiều đoạn cũng chưa đáp ứng cả tiêu chuẩn tối
thiểu này. Trong điều kiện biến đổi khí hậu bão lũ càng khắc nghiệt hơn, yêu cầu
của hệ thống đê biển trong thời kỳ mới là phải chống chịu được trường hợp có
triều cường và bão lớn hơn cấp 9.
2. Mục đích của đề tài
Lựa chọn các giải pháp công trình để nâng cấp đê biển của tỉnh Nam Định
đảm bảo an toàn khi có triều cường kết hợp với gió bão cấp 10. Kiến nghị áp dụng
cho nâng cấp đê biển Giao Thủy, Nam Định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các giải pháp công trình đảm bảo cho an
toàn đê biển Nam Định chịu tác động của triều cường và gió bão cấp 10.
Phạm vi nghiên cứu: Đối với đê biển Nam Định và áp dụng cho đê biển
Giao Thủy, Nam Định.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê kế thừa chọn lọc
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tính toán
Lựa chọn giải pháp công trình hợp lý
Áp dụng cho công trình thực tế, phân tích, đánh giá kết quả.
5. Kết quả đạt được
Đánh giá tổng quan về hệ thống đê biển của tỉnh Nam Định, những tồn tại

bãi thoái gây xói lở nghiêm trọng ảnh hưởng đến tuyến đê, nhiều khu vực biển đã
ăn sâu vào đất liền phá vỡ đê, nhấn chìm làng mạc, đồng ruộng (như khu vực từ
Hải Lý đến Hải Triều huyện Hải Hậu), gây nên thiệt hại lớn cho nhân dân trong
vùng. Đặc biệt nguy hiểm khi gặp bão lớn trực tiếp đổ bộ kết hợp triều cường tuyến
đê biển Nam Định thường xảy ra các sự cố vỡ đê, sạt, trượt gây nhiều thiệt hại tính
mạng, tài sản của nhân dân trong khu vực.

4
Hệ thống đê biển tỉnh Nam Định được chia làm 3 tuyến bởi 4 cửa sông
ngăn cách : Cửa Ba Lạt (sông Hồng) cửa Hà Lạn (sông Sò) cửa Ninh Cơ (sông
Ninh Cơ) và cửa Đáy (sông Đáy).
Tổng chiều dài toàn hệ thống đê biển Nam Định là 91,82 km, bao gồm :
Tuyến đê biển Giao Thủy : Xuất phát từ cống Mốc Giang thuộc cửa Ba
Lạt đến cống Đồng Hiệu thuộc cửa sông Sò dài 32,162 km.
Tuyến đê biển Hải Hậu : Xuất phát từ cống Phúc Hải thuộc cửa sông Sò
đến cống Phú Lễ thuộc cửa Ninh Cơ dài 33,323 km.
Tuyến đê biển Nghĩa Hưng : Xuất phát từ bến đò Nghĩa Bình cửa sông
Ninh Cơ đến cống Ngọc Lâm thuộc cửa sông Đáy dài 26,325 km.
Cả 3 tuyến đều có phần trực diện với biển và phần không trực diện với
biển (nằm ở khu vực cửa sông và khu bãi bồi). Và được nối vào các tuyến đê hữu
Sông Hồng, đê tả hữu sông Sò, đê tả hữu sông Ninh Cơ và đê tả hữu sông Đáy tạo
thành một hệ thống đê khép kín, bảo vệ vùng trọng điểm kinh tế, xã hội vùng ven
biển tỉnh Nam Định
Đê biển Nam Định chạy theo 2 hướng: đê Giao Thủy chạy theo hướng Bắc-
Nam và Đông Bắc –Tây Nam, đê Hải Hậu và Nghĩa Hưng chạy theo hướng
Đông Bắc-Tây Nam. Vì vậy đê chịu ảnh hưởng của cả gió mùa Đông Bắc và
Đông Nam ở các thời điểm khác nhau của năm.
Bờ biển Nam Định kéo dài từ cửa sông Hồng đến cửa sông Đáy là một dải bờ biển
phẳng, địa hình thềm lục địa tương đối đơn giản với các dạng tích tụ liền châu thổ, thoải
dần từ bờ ra khơi. Nhìn chung, bãi biển tỉnh Nam Định hẹp và thấp không có vật cản che

triều - nước dâng - sóng biển Vịnh Bắc Bộ có ảnh hưởng rất lớn đến tuyến đê
kè bờ biển tỉnh Nam Định.
1.2.1. Ảnh hưởng của bão
Hiện nay do yêu cầu về mặt kỹ thuật phải phù hợp với sự phát triển của
kinh tế đất nước nên đa số các hình thức gia cố đều không có khả năng chống
được bão cấp 10 và trên cấp 10. Vì vậy bão tàn phá, làm hư hỏng hệ thống đê biển
càng mạnh mẽ.
Hầu hết các đoạn đê bị phá hỏng là trực diện với biển chịu tác động trực
tiếp của sóng lớn. Thực tế qua các trận bão năm 2005 - 2007 cho thấy, những
đoạn đê trực tiếp biển, mái phía biển được bảo vệ bằng đá hộc lát khan, đá xây từ
cao trình +3,50 trở lên (từ cao trình +3,50 trở xuống bảo vệ bằng cấu kiện bê tông
do trước đây không đủ kinh phí đầu tư) là không đảm bảo ổn định bền vững; bão
số 7 năm 2005 sóng lớn đã làm hư hỏng nặng, hoặc phá huỷ phần đá lát khan, đá
xây từ cao trình +3,50 trở lên, dẫn đến vỡ đê biển Nam Định. (Những đoạn mái đê
phía biển được bảo vệ toàn bộ bằng các loại cấu kiện bê tông đúc sẵn có đủ chiều
dày, trọng lượng phù hợp thì không bị phá hoại trong bão).

1.2.2. Ảnh hưởng của sóng
Sóng được hình thành khi gió thổi trên mặt nước và năng lượng gió được
chuyển hoá thành năng lượng sóng. Sóng là một trong những yếu tố có tác động
mạnh đến bờ biển và các công trình ven biển. Khi sóng chuyển động tới bờ biển,
nó bị vỡ và giải phóng năng lượng tạo thành các xoáy khuấy động bùn cát, làm

7
hạt bùn cát nổi lơ lửng trong nước và bị dòng nước chảy cuốn trôi. Năng lượng
sóng càng lớn thì càng có nhiều bùn cát bị vận chuyển.
1.2.3. Ảnh hưởng của mực nước triều
a. Trường hợp mực nước triều thấp
Trong trường hợp mức nước triều thấp với các loại vật liệu khác nhau,
hướng gió khác nhau, độ sâu bãi khác nhau. Trường hợp xấu nhất hướng gió

Hình 1.5. Mái đê bị đánh sập bóc hết cấu
kiện và khoét hết đất đá
b. Trường hợp mực nước triều trung bình
Trong trường hợp mức nước triều trung bình tần suất thiết kế 5% ứng với
mực nước tại Văn Lý (+2.29) với các loại vật liệu khác nhau, hướng gió khác
nhau, độ sâu bãi khác nhau. Trường hợp xấu nhất hướng gió vuông góc với bờ,
cấu kiện bê tông phẳng không có mố giảm sóng và độ sâu bãi < (-1.00) đê kè bị
phá hoại mạnh ở phía chân và đỉnh . Lưu lượng tràn qua đê phá đê từ phía sau rất
lớn vượt chỉ tiêu cho phép 10 l/s trong trường hợp bão có gió cấp 9 cấp 10 trở lên
nếu mặt đê, mái phía đồng không được gia cố tốt sẽ bị xói mặt và mái đê phía
đồng. Trên tất cả tuyến đê Nam Định gặp trường hợp này nhiều đoạn đê sẽ bị phá
hỏng từ phía trong đồng gây sập và vỡ đê. Các khu vực trọng điểm bãi thấp khả
năng vỡ đê rất lớn. Ngược lại với các trường hợp trên khu vực chân đê tương đối

9
ổn định. Đê kè bị phá hoại ở phần đỉnh đê trở xuống trường hợp này đã xảy ra trong
bão số 7 năm 2005 và đã xuất hiện các dạng hư hỏng phổ biến như trên hình 1.6

Hình 1.6. Mái kè hư hỏng từ cao trình (+2.90) lên mặt đê
c. Trường hợp mực nước triều cao
Khi gặp mực nước triều cao tác động phần đá lát khan bị hư hỏng toàn bộ
đoạn đê phía dưới đắp bằng đất thịt sự hư hỏng đỡ hơn những đoạn đê đắp bằng
đất cát ngoài bọc đất thịt. Hình 1.7. Phần đá lát khan mặt đê bị sóng đánh hư hỏng
Nước tràn qua đê gây sạt đê từ phía trong đồng dẫn đến vỡ đê:
Khi phần lát khan bị hư hỏng gặp triều cao, nước tràn qua đê gây xói mòn và
hạ thấp cao trình đê. Hiện tượng này rất phổ biến và diễn ra trên nhiều đoạn đê.



11
Hiện trạng cống dưới đê : Tổng số toàn tuyến đê biển Nam Định có 43
cống dưới đê làm nhiệm vụ tiêu tự chảy cho toàn bộ diện tích 3 huyện ven biển
của tỉnh Nam Định.
Nhìn chung các cống dưới đê đại bộ phận đã được xây dựng lại, một số
cống còn sử dụng tốt đáp ứng yêu cầu tiêu; một số cống khi thực hiện dự án Nâng
cấp tuyến đê biển đã được xây dựng lại; một số cống đã bị hỏng, hiện không còn
tác dụng đã được hoành triệt để đảm bảo an toàn PCLB.
Hiện trạng bãi biển và tuyến cây chắn sóng ngoài bãi : Tuyến cây chắn
sóng ngoài bãi : Ngoài 2 khu vực Cồn Ngạn và Cồn Xanh, dọc tuyến đê biển đã
được trồng các loại cây chắn sóng, cây cản gió như cây sú, vẹt, phi lao Nhưng
nhìn chung do tác động mạnh của dòng chảy nên đến nay tỷ lệ sống, mật độ cây
và độ che phủ ngăn cản gió, cát còn rất thấp, có đoạn đã trồng nhiều lần nhưng
cây vẫn bị chết nên mất tác dụng chống xói lở, giữ đất cát dưới chân đê.
1.3.2. Hiện trạng tuyến đê Giao Thủy
Đê Giao Thủy có chiều dài 32,333 km, có 9 kè dài 6829 m, có 9 điếm canh
đê và 14 cống. Từ năm 1962 đến năm 2000 tại Km15,5 đến Km20,5 đê phải di
dời 3 lần.
Hiện tại còn một số đoạn đê thiếu cao trình
Từ Km 0 đến Km 4+300 : mặt đê rộng 6m trong đó 5m được cứng hóa bằng bê
tông M250, cao trình đê +4.00. Hệ số mái đê phía biển m=3, phía đồng m=2
Từ Km 6+763 đến Km 14+125 có bề rộng mặt đê là 4m một nửa đầu rải
nhựa, còn nửa sau rải cấp phối, cao trình mặt đê dao động từ 3,9 đến 4,5 m, hệ số
mái đê phía biển m=3, phía đồng m=2.
Từ Km 25+817 đến Km 27+074 hiện tại bề mặt đê rộng trung bình 5m, đã được
rải cấp phối rộng trung bình 3m, cao trình mặt đê dao động từ 4,00 đến 4,50m
Từ Km 30+600 đến Km 31+161 hiện tại mặt đê rộng trung bình 5m và
chưa được gia cố mặt, cao trình mặt đê dao động từ +3,9m đến +4,3 m


nhiều ổ gà, rãnh nước.
1.3.4. Hiện trạng tuyến đê biển Nghĩa Hưng
Chiều dài tuyến đê 26,325 km, có 5 kè dài 7.126 m, 4 điếm canh, 12 cống
Đoạn từ Km 21+60 đến Km 26+325 cao độ hiện tại thấp hơn thiết kế từ 0,2
đến 0,8 m.
Đoạn từ Km 2+00 đến Km 6+700 hiện nay rất nhiều chỗ kè bị sạt mái cục bộ
Tuyến đê biển Nghĩa Hưng hiện mặt đê có nhiều ổ gà, rãnh nước đặc biệt
là những đoạn đê đắp bằng đất cát bọc đất thịt.
Đoạn kè lát khan ở Nghĩa Phúc dài 720m bị sạt lở có chỗ lấn vào 1/2 đến
1/3 mặt đê. Thậm chí có chỗ chỉ còn đê mái trong, đoạn kè kết cấu PAM mái kè
bị sạt lở nặng nề dài 1.000 m, mái đê phía đồng bị sạt, có chô mất 1/2,1/3 hoặc
toàn bộ mặt cắt và thân đê
1.3.5. Tồn tại của đê biển Nam Định
Hệ thống đê biển hiện nay ở Nam Định chỉ có thể đảm bảo an toàn ở mức
độ nhất định. Một số tuyến đê đã được đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua cá
dự án PAM, và các dự án hỗ trợ của ADB có thể chống với gió bão cấp 9 và mức
triều tần suất 5%. Nhiều tuyến chưa được tu bổ, nâng cấp chỉ có thể đảm bảo an
toàn với gió bão cấp 8. Mặt khác, do điều kiện kinh tế việc đầu tư chưa được tập
trung đồng bộ, kiên cố, lại chịu tác động thường xuyên của mưa bão nên hệ thống
đê, kè biển vẫn tiếp tục bị xuống cấp. Nhiều đoạn đê biển có thể bị hư hỏng, phá
vỡ hàng loạt nếu không được đầu tư và củng cố kịp thời.
Do sự thay đổi khí hậu toàn câu, số cơn bão, các trận lũ lớn xảy ra nhiều
hơn vào các năm gần đây đã gây xói lở mãnh liệt bờ sông, bờ biển.
Mặt đê mặc dù đã được bọc bởi lớp đất thịt hoặc lớp đất cấp phối nhưng do
thường xuyên chịu tác động của mưa lớn, sóng leo làm bào mòn, cuốn trôi lớp bề

14
mặt nên hiện nay hầ hết các tuyến đê, các phương tiện cơ giới không thể đi lại
được trên mặt đê gây cản trở giao thông, khó khăn trong việc ứng cứu, hộ đê
trong mùa mưa bão

ven biển.
Trong 49 cống qua tuyến đê biển còn gần 10 cống xây dựng từ trước những
năm 1970, cống ngắn so với mặt cắt đê và đã xuống cấp cần phải sửa chữa hoặc
xây dựng mới như các cống: Hoành Lộ, Cồn Tàu, Công Đoàn (Giao Thuỷ); số 4,
Hạ Trại (Hải Hậu), Thanh Hương, Ngọc Lâm (Nghĩa Hưng);10 cống yếu qua đê
sông, đê biển phải hoành triệt trước lũ.Đê quai lấn biển Cồn Xanh dài xấp xỉ 8 km, cao trình đỉnh đê ở mức
(+3.10)m cần có phương án bảo vệ đảm bảo an toàn phòng chống lụt bão cho các
hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
Những đoạn đê đã được củng cố vững chắc sau bão số 7 năm 2005 đảm bảo
chống được bão cấp 10 trùng với mức nước triều tần suất 5% (+2,29m) tại Văn
Lý. Những đoạn đê biển khác kết hợp với chủ động phương án hộ đê, phương án
bảo vệ trọng điểm chống lụt bão theo phương châm 4 tại chỗ đảm bảo tuyến đê
Biển an toàn chống được bão cấp 10 trùng với mức nước triều tần suất 5%
(+2,29m) tại Văn Lý.
Quy mô kết cấu đê kè chủ yếu hiện nay :
Kết cấu mái kè: Lát mới mái kè phía biển m=4 bằng cấu kiện bê tông
M250,(KT: 40x40x28)cm; (các đoạn nguồn vốn vay ADB (KT: 40x40x38)cm)
dưới lót đá dăm (2x4) dày 15cm, vải lọc tương đương TS40, trong khung bê tông
cốt thép M250 ; đắp đất thịt dày 50cm đầm nện đảm bảo dung trọng khô
γk≥1,45T/m3 .
Chân kè phía biển: Cao trình mặt (-0,50) Gồm các kết cấu
Ống buy hình lục lăng bằng BT M200 cao 2,0 m, thành ống dày 10cm.
Trong ống buy bỏ đá hộc thả rối, mặt đổ BT M200 dày 30cm.
Phía trong ống buy là lăng thể đá hộc thả rối bọc vải lọc tương đương TS40.
Phía ngoài ống buy rộng 2m, cao trình mặt (-0,50), lắp 5 hàng cấu kiện bê
tông M250 KT(40x40x28)cm hoặc đá xây, trên đá dăm lót (1x2) dày 15cm và bè
đệm tre chống lún.

17
CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH NÂNG CẤP
ĐÊ BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1. Điều kiện khí tượng, thủy văn, hải văn khu vực ven biển Nam Định
2.1.1. Các trạm khí tượng thuỷ văn
Trạm khí tượng Văn Lý đặt tại xã Hải Lý huyện Hải Hậu ngay sát đê biển,
nằm ở trung tâm tuyến đê biển tỉnh Nam Định, trạm có tài liệu quan trắc liên tục
từ 1945 đến nay.
Trạm thuỷ văn Hòn Dấu là trạm đo mực nước biển chung cho vùng Vịnh
Bắc Bộ, các số liệu của trạm dùng để tính toán cho các dự án thuộc các tỉnh đồng
bằng ven biển Bắc Bộ.
Ngoài 2 trạm trên dự án còn sử dụng tài liệu của một số trạm đo mực nước
trên các cửa sông :
Trạm Phú Lễ ở cửa sông Ninh Cơ.
Trạm Như Tân ở cửa sông Đáy.
Các trạm này đều là trạm cấp I trong mạng lưới trạm quốc gia do Trung
tâm khí tượng thuỷ văn Nam Định quản lý, số liệu quan trắc liên tục trên 30 năm
đảm bảo độ tin cậy, đáp ứng yêu cầu tính toán thiết kế các công trình trong vùng.
Hệ cao độ khi chuyển vào đất liền đã được hiệu chỉnh về hệ quốc gia VN72.
2.1.2. Các đặc trưng khí hậu
Khí hậu của vùng dự án chia thành 2 mùa rõ rệt :
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Các yếu tố khí tượng như sau :
a. Mưa : Khu vực có lượng mưa tương đối lớn
Lượng mưa trung bình nhiều năm : 1760 mm

208,00
258,40
X3
229,30
282,20
216,60
254,60
303,00
362,40
X5
264,10
325,10
267,40
316,60
337,90
396,30
X7
290,90
356,40
303,40
361,70
373,40
438,00
Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau lượng mưa chỉ chiếm khoảng
20 ÷ 25% tổng lượng mưa trong năm, thường tập trung vào các tháng đầu và cuối
mùa lũ (tháng XI, tháng V, tháng VI); Lượng mưa 1 ngày lớn nhất của các tháng
này xấp xỉ ≥ 100mm.
Bảng 2.2 : Lượng mưa vụ chiêm xuân ứng với tần suất P85% như sau :
X đặc trưng ĐVT
Tổng

Ứng P85%
mm
116,85
2,95
29,00
56,70
28,20

Trích đoạn Mụ tả hiện trạng hệ thống đờ biển Giao Thủy Điều kiện tự nhiờn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status