Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện đầu tư thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội số 52 - Pdf 27



LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ tác giả đã nhận được sự
giúp đỡ và tạo điều kiện rất nhiều của Ban Giám hiệu nhà trường, các cán bộ
và giảng viên của trường Đại học Thủy lợi Hà Nội.
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa sau
đại học Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội đã quan tâm và giúp đỡ tác giả trong
suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.
Nguyễn Bá Uân đã dành nhiều thời gian và hướng dẫn nghiên cứu rất tận tình,
chu đáo cho tác giả.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các cán bộ thuộc Công ty
cổ phần đầu tư và phát triền Nhà Hà Nội số 52 đã giúp đỡ nhiệt tình để tác giả
được tiếp cận các tài liệu liên quan và có dữ liệu viết luận văn một cách tốt
nhất.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người bạn và
đồng nghiệp đã hỗ trợ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc
và hoàn thành luận văn.
Với sự nỗ lực và nghiêm túc của bản thân để hoàn thành luận văn tốt
nghiệp cao học này, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác
giả rất mong nhận được những nhận xét, góp ý quý báu của các thầy cô và các
bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2014
Hoàng Thị Khuyên
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6. Kết quả dự kiến đạt được: 3
7. Nội dung của luận văn: 4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 5
1.1. Tổng quan về dự án đầu tư 5
1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư 5
1.1.2. Phân loại dự án đầu tư xây dựng 8
1.1.3. Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng 8
1.2. Quản lý dự án đầu tư xây dựng 11
1.2.1. Khái niệm, vai trò, mục tiêu của quản lý dự án 11
1.2.2. Bản chất, nội dung, nhiệm vụ của quản lý dự án ĐTXD 16
1.2.3. Các phương pháp quản lý dự án đầu tư xây dựng 23
1.2.4. Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng 24
1.2.5. Các hình thức quản lý dự án xây dựng 28
1.3. Yêu cầu về năng lực quản lý dự án 30
1.3.1. Khái niệm về năng lực quản lý dự án 30
1.3.2. Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý dự án 30
1.3.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý dự án 31
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý dự án 32
1.3.5. Những yêu cầu về năng lực trong công tác quản lý dự án 32 Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG TẠI CÔNG TY CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN NHÀ HÀ NỘI SỐ 52 35
2.1. Giới thiệu chung về Công ty cố phần đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội 35
2.1.1. Về bộ máy tổ chức 35

3.2.1. Áp dụng mô hình tổ chức quản lý dự án phù hợp 84
3.2.2. Giải pháp về nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch 89
3.2.3. Giải pháp về tăng cường công tác quản lý thực hiện dự án 94
3.2.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 121
3.2.5. Nâng cao cơ sở vật chất trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý dự án 125
Kết luận chương 3 127
KẾT LUẬN VÀ KIẾM NGHỊ 128

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng 9
Hình 1.2. Chu trình quản lý dự án 14
Hình 1.3. Mục tiêu tổng thể của một dự án 16
Hình 1.4. Sơ đồ các nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng 21
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức của Công ty 37
Hình 2.2. Mô hình Phòng Đầu tư dự án đóng vai trò QLDA 53
Hình 2.3. Mô hình Công ty trực tiếp QLDA thành lập Ban Quản lý trực thuộc 54
Hình 2.4. Mô hình Công ty trực tiếp QLDA thành lập Ban Quản lý trực thuộc 55
Hình 3.1. Mối liên hệ giữa các nguồn lực thực hiện dự án 85
Hình 3.2. Đề nghị quy trình lập kế hoạch của dự án 90
Hình 3.3. Quy trình giám sát và duy trì lập kế hoạch dự án 93
Hình 3.4. Quy trình quản lý công tác đấu thầu 105
Hình 3.5. Mô hình quản lý chất lượng 117


Handico52 Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội số 52

1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là một quá trình phức tạp đòi
hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác, nhiều bộ
phận liên quan. Do đó công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có
sự phát triển chiều sâu và mang tính chuyên nghiệp hơn để đáp ứng nhu cầu
xây dựng của nước ta hiện nay. Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát
triển và đổi mới cùng với sự biến động do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đặc
biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Ngành xây dựng ở
nước ta đang thu hút và là ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, tạo ra
những cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Điều này không chỉ đòi hỏi sự nỗ
lực của Đảng và Nhà nước mà còn phụ thuộc vào sư phát triển của các doanh
nghiệp xây dựng trong đó là lợi nhuận đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
và là động lực chính thúc đẩy hoạt động công tác quản lý các dự án đầu tư
xây dựng đạt hiệu quả cao nhất. Trong cơ chế thi trường hiện nay muốn dự án
đầu tư có lợi nhuân cao các doanh nghiệp xây dựng phải quan tâm đến công
tác quản lý tốt vá định hướng đầu tư có hiệu quả.
Đối với các doanh nghiệp đầu tư dự án xây dựng thì công tác quản lý dự
án được quan tâm nhiều hơn, doanh nghiệp đã đầu tư lớn cho công tác này và
công tác quản lý dự án tốt, không những mang lại lợi nhuận cao mà còn nâng
cao chất lượng công trình, giảm thiểu rủi ro, nâng cao tầm uy tín của doanh
nghiệp. Vì vậy, sự thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều vào công tác
quản lý dự án và là một khâu quan trọng trong việc ra quyết định quản lý điều
hành của lãnh đạo doanh nghiệp, là yếu tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp xây dựng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các công tác quản lý dự án đầu tư xây
dựng nói chung, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng dự án khu nhà ở cán bộ
3 chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện dự án nói riêng mà Công ty cổ
phần đầu tư và phát triển nhà Hà Nội số 52’ đang triển khai tổ chức thực hiện.
b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về mặt không gian và nội dung nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu
chủ yếu vào nội dung công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở cán
bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát trong giai đoạn thực hiện dự án do Công ty làm chủ
đầu tư.
Về mặt thời gian luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động
quản lý các dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng của Công ty đầu
tư từ năm 2011 – 2013 và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý
dự án đầu tư xây dựng cho thời gian tới.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a. Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hệ thống hoá và cập nhật những vấn đề lý luận cơ bản
về công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình, làm rõ nhiệm vụ, vai trò,
trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công
trình tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nhà Hà Nội số 52 nói riêng và
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nói chung.
Những nghiên cứu này cũng có giá trị làm tài liệu tham khảo cho công
tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý đầu tư
xây dựng công trình.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu của đề tài sẽ được ứng dụng để hoàn thiện, nâng cao hiệu
quả công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời kỳ phát
triển và hội nhập kinh tế và hiện đại hóa đất nước trong các năm tiếp theo.

5

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1. Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư xét dưới góc độ
khác nhau:
- Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: dự án đầu tư có thể được
hiểu như là một kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt
được mục tiêu đề ra trong khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công
trình cụ thế cụ thế thực hiện các hoạt động đầu tư.
- Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày
một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch để đạt
được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ hoạch định việc
sử dựng vốn, vật tư,, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội.
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đàu tư là kế hoạch chi tiết để thực
hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xa hội làm căn cứ
cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư.
- Xét về góc độ phân công lao động xã hội: dự án đầu tư thể hiện sự phân
công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mói quan hệ chủ thế
kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên
- Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể,
có mối liên hệ biện chúng nhân quả với nhau đạt được những mục đích nhất
định trong tương lai.

kiện không chắc chắn, có nhiều rủi ro.
7

Về mặt hình thức, dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các hồ
sơ và bản vẽ thiết kế kiến trúc, thiết kế kỹ thuật, và tổ chức thi công công
trình xây dựng cùng các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình
cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án, thời gian thực hiện dự án, hiệu quả
kinh tế - xã hội của dự án.
Theo định nghĩa của Luật Xây dựng Việt Nam số 16/QH 11 tháng 11
năm 2003 thì: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có
liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công
trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công
trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây
dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”.
Dự án đầu tư xây dựng công trình có các đặc điểm:
- Dự án xây dựng hàm chứa tính hai mặt: một mặt dự án xây dựng tập
hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy
hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công… được giải
quyết đối với công trình xây dựng; mặt khác đây là môi trường hoạt động phù
hợp với những mục đích đã đặt ra, nghĩa là một quá trình xây dựng có định
hướng đối với các công trình mới hoặc cải tạo, nâng cấp đối với các công
trình hiện đã và đang tiến hành sản xuất.
- Loại dự án xây dựng thường được xác định bởi quy mô, thời gian thực
hiện, chất lượng, mục tiêu, giới hạn về tiêu dùng tài nguyên (Nhân vật lực, đất
đai, vốn,…). Việc quản lý dự án xây dựng đòi hỏi phải có một tổ chức năng
động gồm các thành viên có kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội và kiến
thức quản lý, thông thạo công việc, biết phối hợp làm việc nhóm một cách
hiệu quả.
- Kết thúc dự án xây dựng được coi như tại thời điểm bàn giao công trình
đưa vào khai thác, sử dụng sản xuất ra sản phẩm. Chủ đầu tư xây dựng công

Hình 1.1. Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng
1.1.3.1. Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn chủ đầu tư lập báo cáo đầu tư,
lập dự án đầu tư hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật và trình người quyết định
đầu tư thẩm định, phê duyệt. Riêng đối với các công trình nhà ở riêng lẻ của
dân, chủ đầu tư không phải lập dự án đầu tư hay báo cáo kinh tế kỹ thuật, tất
cả các dự án đầu tư xây dựng công trình còn lại chủ đầu tư phải căn cứ vào
quy mô, tính chất của các công trình đó để lập dự án đầu tư hoặc lập báo cáo
kinh tế kỹ thuật. Theo Điều 13, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày
10/02/2009, những công trình không phải lập Dự án đầu tư chỉ cần lập Báo
cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình là những công trình xây dựng cho
mục đích tôn giáo, công trình xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp có tổng mức
đầu tư dưới 15 tỷ đồng. Về bản chất, lập dự án đầu tư xây dựng công trình
hay lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đều nhằm mục đích: chứng minh cho người
quyết định đầu tư thấy được sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu, hiệu quả của
dự án đầu tư; làm cơ sở cho người bỏ vốn (cho vay vốn) xem xét hiệu quả dự
án và khả năng hoàn trả vốn. Đồng thời làm cơ sở cho các cơ quan quản lý
Nhà nước xem xét sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng; đánh giá tác động
của dự án tới môi trường, kinh tế xã hội địa phương, mức độ an toàn đối với
các công trình lân cận,

vật liệu , và đưa ra phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư, các ảnh
hưởng của dự án đối với môi trường, sinh thái; an ninh, quốc phòng, phương
án phòng, chống cháy nổ. Về nguồn vốn đầu tư, Báo cáo đầu tư phải xác định
sơ bộ tổng mức đầu tư, thời hạn thực hiện dự án, phương án huy động vốn
theo tiến độ và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án,
1.1.3.2. Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hiện đầu tư
Nội dung các công việc chủ yếu của giai đoạn này gồm:
- Xin xây lắp và mua sắm thiết bị;
- Giao đất hoặc thuê đất để xây dựng công trình;
- Đền bù giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư;
- Thiết kế (Hoặc thuê tư vấn thiết kế) công trình và lập tổng dự toán;
- Xin giấy phép xây dựng;
- Đấu thầu lựa chọn nhà thầu xây dựng, ký kết hợp đồng xây dựng và
thực hiện thi công xây dựng công trình.
Như vậy, kể từ khi có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công
trình, dự án chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư. Trong giai đoạn này, chủ
đầu tư tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi
11

công, dự toán công trình. Lập và đánh giá hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà thầu,
đàm phán ký kết hợp đồng, giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết
bị, quản lý tiến độ, chất lượng thi công xây dựng công trình, Đây là giai
đoạn quan trọng và có tính quyết định đối với sự thành công của một dự án.
1.1.3.3. Giai đoạn 3: Giai đoạn kết thúc xây dựng
Giai đoạn kết thúc xây dựng là giai đoạn chủ đầu tư tiến hành các công
tác như: tổ chức nghiệm thu, kiểm định chất lượng, chạy thử, bàn giao công
trình, đưa vào sử dụng, thực hiện bảo hành công trình và thanh toán, quyết
toán hợp đồng; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình.
Việc chia chu trình của một dự án đầu tư xây dựng công trình làm 3 giai
đoạn như trên chỉ là tương đối về mặt thời gian và công việc, không nhất thiết

công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn. Để thực
hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối
hợp, điều hành, giám sát, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt
đầu đến lúc kết thúc dự án”. Quản lý dự án được thực hiện trong tất cả các
giai đoạn khác nhau của chu trình dự án.
Quản lý dự án xây dựng bao gồm các công việc sau:
- Định ra mục tiêu của dự án;
- Xác định các phương tiện cần huy động (nguyên liệu, nhân lực, vật lực,
thông tin, );
- Đánh giá các rủi ro có thể xảy ra, đề xuất các biện pháp theo dõi và
hành động;
- Động viên nhân lực tham gia và kết phối hợp các hoạt động của họ;
- Theo dõi dự án, thông báo cho ban chỉ đạo dự án thông tin về tiến trình
thực hiện dự án và tất cả những gì có thể dẫn tới sự thay đổi mục tiêu
hoặc chương trình dự án.
13

Vậy, quản lý dự án đầu tư xây dựng không thể chỉ đơn thuần là thực
hiện một khối công việc đã được hoạch định sẵn, mà là việc hình thành lên
khối công việc đó. Cũng không nên quan niệm đơn giản, quản lý dự án chỉ là
theo dõi thực hiện dự án. Để thực hiện mục tiêu đề ra một cách hiệu quả, các
nhà quản lý dự án phải biết và có khả năng vận dụng các lý luận khoa học,
các công cụ khoa học, các phương pháp khoa học và pháp luật vào quá trình
quản lý. Quản lý dự án cũng như các lĩnh vực quản lý khác luôn đòi hỏi các
nhà quản lý phải có năng lực ứng xử và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các
mối quan hệ con người.
Về mặt chu trình, quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu: Đó là lập
kế hoạch, tổ chức điều phối thực hiện, giám sát các công việc nhằm đạt được
mục tiêu xác định.
- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc,


• Phân phối nguồn lực
• Báo cáo

• Phối hợp các hoạt
động
• Giải quyết các vấn đề

• Khuyến khích động
viên Hình 1.2. Chu trình quản lý dự án
1.2.1.2. Vai trò quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quản lý dự án đầu tư xây dựng có các vai trò sau:
- Bảo đảm sự liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án một cách
trình tự và có hợp lý;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của
các thành viên tham gia dự án, chính vì vậy tận dụng một cách có hiệu quả
các nguồn lực;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa

mục tiêu cơ bản của quản lý dự án, giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với
nhau. Sự kết hợp 3 yếu tố này tạo thành mục tiêu tổng thể của quản lý dự án.
Có thể mô tả mối quan hệ giữa 3 mục tiêu cơ bản của quản lý dự án theo
Hình 1.3. 16 Hình 1.3. Mục tiêu tổng thể của một dự án
1.2.2. Bản chất, nội dung, nhiệm vụ của quản lý dự án ĐTXD
1.2.2.1. Bản chất của quản lý dự án đầu tư xây dựng
Nhiệm vụ cơ bản của ngành xây dựng là cung cấp cho xã hội những cơ
sở hạ tầng kỹ thuật như nhà ở, đường giao thông, trường học, bệnh viện, công
trình thủy lợi, Để tạo ra được những sản phẩm này đòi hỏi phải có những
nguồn lực như: vốn, đất đai, nhân lực, tài lực, nguyên vật liệu, máy móc trang
thiết bị phục vụ cho xây lắp. Quản lý dự án trong xây dựng chính là quản lý
các hoạt động cung cấp các nguồn lực này và các quá trình phối kết hợp các

hoặc chưa đúng, thì khi thi công sẽ gặp nhiều trở ngại. Trong trường hợp này,
sẽ phải dừng thi công để chờ xử lý thiết kế bổ sung gây chậm tiến độ thi công
của dự án và làm phát sinh khối lượng, tăng chi phí, dẫn tới tăng tổng mức
đầu tư của dự án so với giá trị được phê duyệt. Đây chính là những yếu bất
định trong dự án xây dựng, đồng thời đó cũng là đặc thù lớn, khác biệt nhất
của dự án xây dựng với các dự án khác. Do vậy, công tác quản lý có hiệu quả
và thành công các dự án đầu tư xây dựng là hết sức quan trọng. Việc phải
nghiên cứu để tìm ra những biện pháp tăn cường công tác quản lý dự án xây
dựng là một đòi hỏi thực sự mang tính quan trọng và cấp thiết.
Mục đích mong đợi của nhà quản lý dự án là làm sao với các nguồn lực
có hạn mà vẫn cho ra được sản phẩm xây dựng có chất lượng. Công việc của
nhà quản lý là lập kế hoạch để phối kết hợp các nguồn lực: thời gian, tiền vốn,
nhân lực, vật tư kỹ thuật để tạo ra sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng, đáp
ứng mực tiêu của dự án. Sản phẩm cuối cùng của hoạt động xây dựng là

Trích đoạn Khỏi quỏt chung về dự ỏn Sự cần thiết phải đầu tư Giải phỏp về nõng cao chất lượng cụng tỏc lập kế hoạch Nõng cao cơ sở vật chất trang thiết bị và ứng dụng cụng nghệ thụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status