A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý Do Chọn Đề Tài
Từ thời kì đồ đá tiến lên thời kì đại kim khí và đồ sắt là một chuyển biên lớn lao
của nhân loại. Đó là cuộc cách mạng luyện kim, xuất hiện nền văn minh và nhà
nước đầu tiên của người việt cổ. Nó đánh dấu một bước phát triển rực rỡ trên
phương diện kinh tế - xã hội cũng như mĩ thuật. Mà trong đó khởi nguồn từ mĩ thuật
Đông Sơn.
Mĩ thuật Đông Sơn tượng trưng cho thời kì cực thịnh của mĩ thuật kim khí đặc
sắc nhất với kĩ thuật chạm khắc. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật đúc đồng- trống
đồng Đông Sơn. Nó là sản phẩm đầy trí tuệ biểu hiện cho tài năng sáng tạo, sự khéo
léo và tinh xảo hiếm có của tổ tiên ta đã tạo nên kĩ thuật luyện kim đồng thau bản
địa, nền văn hoá đồng thau vào loại bậc nhất Đông Nam Á.
Chạm khắc trên trống đồng Đông Sơn là nơi hội tụ những truyền thống văn hóa,
xã hội và quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta - Nhà
Nước Hùng Vương.
Qua đó ta thấy được ý nghĩa quan trọng của nghệ thuật chạm khắc trong mĩ
thuật Đông Sơn với quá trình phát triển lịch sử của dân tộc. Chính vì thế tôi chọn đề
tài này nhằm nâng cao vốn hiểu biết của mình về l
2. Phạm Vi Nghiên Cứu
Trong mĩ thuật Đông Sơn có nhiều loại hình nghệ thuật, song tôi chỉ nghiên cứu
phần nghệ thuật chạm khắc vì nó mang những nét tiêu biểu nhất trong thời kì này.
3. Mục Đích Nghiên Cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu rõ nghệ thuật chạm khắc trong mĩ thuật
Đông Sơn thấy được những đặc sắc mang tính truyền thống của dân tộc.
Ý nghĩa của các hoa văn va các kĩ thuật chạm khắc trên trông đồng.
Ứng dụng các hoạ tiết cổ vào trong các môn học của mình như trang trí, tạo
mẫu,đồ hoạ ...nghành thời trang .
Bảo tồn và phát huy tinh hoa của dân tộc.
Mở rộng kiến thức hiểu rõ văn hoá của người Việt cổ.
4. Nhiệm Vụ Nghiên Cứu
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan tới nghệ thuật chạm khắc trong mĩ
Dựa vào những đặc điểm kỹ thuật này các nhà nghiên cứu cho rằng, trống đồng
được chế tạo bằng cách đúc, tức là không phải gò, rèn, đục đẽo hay là cách gia công
nào khác. Và nó có thể diễn ra các bước sau:
Tạo mẫu: Muốn đúc một vật to nhỏ nào đó đều Phải có mẫu. Vật mẫu làm bằng
đất! Đất là một nguyên liệu dễ tìm, dễ chế tác, dễ trang trí từ chi tiết cụ thể nhất.
Nhưng xét thật kỹ các dấu vết đúc, nhất là ở bốn quai trống thì có thể thấy rằng vật
mẫu làm bằng sáp ong là có khả năng hơn cả, vì sáp ong là nguyên liệu có nhiều ở
nước ta, sáp ong có thể dùng nhiều lần tái sử dụng, dùng sáp ong sẽ lợi về kinh tế, lại
ưu việt hơn về mặt kỹ thuật so với các nguyên liệu khác. Ưu thếcủa sáp là có thể đúc
quai liền với thân.
Giai đoạn tiếp theo là làm khuôn.
Tạo khuôn: Khuôn được làm bằng một loại đất Được chọn lọc và pha trộn với
nhiều vật liệu khác gồm: đất bìa, đất non, đất sa dở, đất se lại, đất quang, đất bờ yến,
đất áp, đất nghiền, đất giáp, đất giấy, đất thao.
Các loại đất nêu trên sẽ khác nhau giữa đất, than, trấu, rơm, giấy... nhưng cơ bản
vẫn giống nhau về mục đích kỹ thuật, là làm cho khuôn bền, nhẹ, xốp dễ thoát hơi,
mềm dễ ấn để in rõ hoa văn. Sau khi các loại đất đã được chuẩn bị, người thợ sẽ đắp
vào thân 2 mảnh khuôn. Do khuôn có 2 mảnh, nên hiện nay trên thân trống còn hiện
rõ hai đường chỉ đúc, khi ráp khuôn chạy suốt từ thân đến ngang mặt trống, cắt trống
làm hai nửa cân xứng. Mặt trống là một mảnh khuôn riêng. Đến đây, việc làm khuôn
đã hoàn tất.
Tiếp đến là sấy khuôn và sửa khuôn: Sau khi đã sửa lại hoa văn, cho khuôn vào
than củi đốt nóng dần, không dùng lửa vì hơi nước bay nhanh sẽ gây ra hiện tượng
nứt nẻ. Sấy khuôn đến khi màu đất gần như gạch mới thôi. Khuôn đã khô có thể ráp
lại để rót, lúc này cần xem kỹ lại khuôn, chỗ nào nút, vỡ thì dùng đất lót sửa lại cho
cẩn thận rồi mới ráp khuôn. Sau đó rót khuôn - đúc đồng.
Ngày xưa, ông cha ta chưa có phương tiện hiện đại, nhưng căn cứ vào cách tính:
trọng lượng của vật đúc bằng cách cân lượng sáp ong tiêu hao khi làm mẫu. Cứ 100gr
sáp phải cho 10kg đồng vào lò. Từ đó, cho biết trọng lượng đồng phải nấu cho trống
làbao nhiêu. Đồng nẩu chảy rót đùn từ đáy lên đỉnh khuôn - rót như thế, nước đồng
toàn cảnh sinh hoạt của người Việt cồ.
Ở mặt trống cũng như tang trống và thân trống đều có trang trí hoa văn chia
thành hai loại: một loại là hoa văn hình học, một loại là hoa văn hiện thực.
Hình hoa văn hiện thực là người hay động thực vật, đây là mảng hoa văn chủ đề
mà người xưa muốn gửi gắm vào đó những suy nghĩ tâm tư, ước nguyện của mình về
cuộc sống ấm no hạnh phúc. Còn những hoa văn hình học như chấm nhỏ thẳng hàng,
vạch chéo và vạch thẳng song song, hình răng cưa, vòng tròn, hình chữ S mang tính
chất làm nền cho hoa văn hiện thực.
Trên mặt trống ở chính giữa là ngôi sao 14 cánh tượng trưng là mặt trời của
những cư dân trồng lúa nước, khoảng cách giưa các ngôi sao là hoạ tiết hình lông
công, sau đó là 16 vòng hoa văn trang trí bằng nhiều hình kỷ hà hay hình vẽ khác
nhau.
Các vòng 1, 5, 11 và 16 là những hàng chấm nhỏ. Các vòng 2, 4, 7, 9, 13 và 14
là những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Vành 3 là những chữ gẫy khúc nối
tiếp. Vòng 12 và 16 là văn răng cưa. Vòng 6, 8 và 10 là vành có hình người, động vật
diễu hành xung quanh ngôi sao và ngược chiều kim đồng hồ.
Hình người: Người có thể đang mặc váy dài, có hai vạt tỏa ra hai phía, vừa đi
vừa múa, có người tay cầm rìu, có người thổi khèn, có người cầm giáo, cán giáo có
trang trí lông chim. Hoặc có thể người đang quay mặt về phía nhà cầu mùa, xõa tóc,
mặc váy hay có đôi trai gái đang cầm chày giã vào một chiếc cối, đầu chày có trang
trí lông chim.
Hình nhà: Dựa theo những hình khắc trên trống đồng thấy có 2 loại hình kiến
trúc là nhà sàn mái cong và nhà sàn mái tròn. Nhà có 2 cột chống ở phía đầu nhà, hai
đầu và ở giữa có kê thang để lên sàn. Nhà mái tròn thường có một người hoặc không có
người đứng giữa cửa, hai bên của có chắn phên. Nhà mái tròn có thể liên quan đến tín
ngưỡng và tạm gọi là "nhà thờ". Còn những ngôi nhà có mái cong như hình thuyền lại
có nhiều người có thể liên hệ rằng đó là "nhà ở". Hai góc mái có những đường hồi hoa
văn trang trí. Có thể nói nhà sàn là loại hình kiến trúc chủ yếu của người Lạc Việt. Nó
là cội nguồn của những ngôi đình Việt. Ngoài ra còn cho ta thấy tiết khí trong năm .
Tiết đông chí :