THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ HOẠT ĐỘNG
THỂ THAO TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
THE CURRENT PRACTICES OF PHYSICAL EDUCATION TASK AND
SPORTS ACTIVITIES IN DANANG CITY’S SENIOR HIGH SCHOOLS
ThS. Võ Văn Vũ
Tóm tắt:
Giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động thể thao ở trường học đóng vai
trò rất quan trọng, nó không chỉ giúp học sinh rèn luyện sức khỏe, trí tuệ, phát
triển thể trạng một cách toàn diện mà còn là nền tảng để xây dựng nền thể thao
nước nhà mạnh mẽ.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác GDTC và hoạt động thể thao
trong các trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn thành phố Đà nẵng,
tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng làm cơ sở để đưa ra những giải
pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC và hoạt động thể thao trong
nhà trường THPT ở Đà Nẵng.
Abstract:
Physical education and sports activities at schools play a very important
role. They not only help students to improve health, mind for all-round physical
development, but also lay a foundation for building a powerful national sports.
On the basis of evaluating current practices of physical educaion task and
sports activities in senior high schools in Danang city, finding out causes
affecting current practices as a foundation to provide solutions which contribute
to enhancing the quality of physical education task and sports activities in
Danang city’s senior high schools.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đà Nẵng là địa phương có phong trào TDTT phát triển khá mạnh mẽ,
trong đó công tác GDTC và thể thao trường học được quan tâm sâu sắc. GDTC
và hoạt động thể thao ở trường học đóng vai trò rất quan trọng, nó không chỉ
1
giúp học sinh rèn luyện sức khỏe, trí tuệ, phát triển thể trạng một cách toàn diện
thao Tự chọn và tổ chức dạy cho học sinh. Học sinh không được tự chọn môn
thể thao yêu thích để học tập.
Để đánh giá mức độ phù hợp của chương trình môn Thể dục trong nhà
trường, chúng tôi tiến hành phỏng vấn 36 cán bộ quản lí và 98 giáo viên thể dục.
Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 1 và bảng 2.
Bảng 1. Kết quả phỏng vấn mức độ phù hợp của chương trình môn Thể dục
trong nhà trường (n = 134)
Mức độ phù hợp của chương trình môn Thể dục trong nhà trường
Rất phù hợp Phù hợp Ít phù hợp Không phù hợp
SL % SL % SL % SL %
0 0 29 21,60 65 48,20 40 30,20
Bảng 2. Kết quả phỏng vấn nguyên nhân chương trình môn học (n = 134)
TT Nguyên nhân làm chương trình môn học chưa phù hợp Tỷ lệ
SL
%
1 Chương trình nặng và khô cứng, không thu hút học sinh 91 68
2
Sự phân bố giữa 2 phần bắt buộc và phần tự chọn không hợp
lý, nặng về bắt buộc, nhẹ về tự chọn, cần tăng số tiết tự chọn
và giảm nhẹ số tiết bắt buộc
116 87
3
Cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu dạy học các nội
dung của chương trình
87 65
4
Tương đối gặp khó khăn khi được phân công giảng dạy một
số nội dung không phải là môn chuyên sâu của giáo viên
82 61
Kết quả ở bảng 1 cho thấy, đa số các ý kiến cho rằng chương trình môn
trung bình mỗi học sinh thực hiện được 5 - 6 lần/nội dung trong một buổi học.
Thời gian trung bình cho phần cơ bản chiếm 52,2%. Mật độ động trung bình của
các giờ học chỉ đạt từ 32% - 35%.
Phần kết thúc ít sử dụng bài tập thả lỏng, > 70% buổi học không giao
nhiệm vụ về nhà và không nhắc nhở, định hướng cho học sinh tập luyện giờ học
sau. Một số buổi học học sinh nghỉ sớm, thời gian trung bình cho phần kết thúc
chiếm 13%.
Khâu tổ chức lớp học thường cứng nhắc, thiếu linh hoạt, thời gian di
chuyển và ngừng tập trung bình chiếm 20% tiết học.
2.1.3. Về thái độ yêu thích môn Thể dục của học sinh
4
Thái độ học tập biểu hiện qua động cơ học tập, hứng thú học tập. Học
sinh có hứng thú và thích học tập vững chắc là cơ sở, là tiền đề để các em tích
cực học tập. Mức độ yêu thích môn Thể dục của học sinh THPT ở Đà Nẵng
được trình bày ở bảng 3.
Bảng 3. Mức độ yêu thích môn học Thể dục của học sinh THPT Đà Nẵng
(n = 6.251)
Đối tượng
(SL)
Lớp
Mức độ yêu thích môn thể dục
Rất thích Thích Bình thường Không thích
SL % SL % SL % SL %
Nam
(n= 2982)
10
(n=1082)
171 15,80 309 28,56 494 45,66 108 9,98
11
(n= 959)
TT
Nguyên nhân Nam (n = 2.982) Nữ (n = 3269)
Lớp 10
(n=1082)
Lớp 11
(n= 959)
Lớp 12
(n= 941)
X
Lớp 10
(n=1126)
Lớp 11
(n=1104)
Lớp 12
(n=1039)
X
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
1
Chương trình học nặng nề,
nội dung không hấp dẫn
28
2
26.0
6
295
30.7
6
30
4
32.3
5
214
20.6
0
22.69
3
Sân bãi tập luyện không đảm
bảo
226
20.8
9
211
22.0
0
14
8
15.7
3
19.5
9
255
22.6
5
20
5
18.5
7
18
8
18.0
12.3
8
53 5.53 72 7.65 8.52 81 7.19 155
14.0
4
10
8
10.3
9
10.54
6
Kết quả bảng 4 cho thấy có nhiều nguyên nhân làm học sinh không
thích học môn Thể dục, tuy nhiên mức độ tập trung cao ở các nguyên nhân
chủ yếu như sau:
- Chương trình môn học nặng nề, không phù hợp với học sinh (có
29,71% học sinh nam và 27,57% học sinh nữ);
- Phương pháp giảng dạy của giáo viên đơn điệu, không có sức hấp
dẫn, lôi cuốn học sinh (25,42% học sinh nam và 22,69% học sinh nữ).
- Cơ sở vật chất, sân bãi không đủ, dễ gây nguy hiểm làm học sinh ngại
học (19,59% học sinh nam và 19,77% học sinh nữ).
- Do học các môn học nhiều, không có thời gian học tập (12,97% học
sinh nam và 14,87% học sinh nữ).
- Chỉ có 3,84% học sinh nam và 4,55% học sinh nữ cho rằng sức khỏe
không tốt, không phù hợp với việc học tập môn Thể dục.
2.2. Thực trạng hoạt động thể thao ngoại khoá
Kết quả nghiên cứu và báo cáo của Sở GD&ĐT cho thấy, 100% trường
THPT ở Đà Nẵng đều có tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa và tổ chức Hội
khỏe Phù Đổng cấp trường cũng như tham gia cấp thành phố. Tuy nhiên, mức
độ, nội dung và hình thức hoạt động thể thao ngoại khóa giữa các trường
khóa trên thu hút khoảng 3.945 học sinh tham gia (đạt 10.62%), nếu theo giới
tính thì nam đạt 12,54% nam và nữ đạt 8,71%. Điều này cho thấy hoạt động
ngoại khóa thể thao trong nhà trường còn đơn điệu, chủ yếu tập trung phục vụ
cho các hoạt động thi đấu giải thể thao, chứ chưa thực sự quan tâm đến nhu
cầu tập luyện của học sinh.
Để đánh giá vấn đề này, đề tài đã tiến hành điều tra xã hội học với
6.251 học sinh, kết quả cho thấy: tỷ lệ số học sinh tham gia các lớp, các câu
lạc bộ thể thao (chủ yếu ngoài trường) và tập luyện thường xuyên khá lớn, số
lượng môn thể thao học sinh tham gia tập luyện cũng đa dạng, song chủ yếu
tập trung ở khu vực có điều kiện sân bãi và phong trào thể thao phát triển
mạnh. Số liệu khảo sát được trình bày ở bảng 6 và 7.
Bảng 6. Mức độ học sinh tham gia lớp học và câu lạc bộ thể thao
(n = 6.251)
Lớp
Nam Nữ
SHS STLTX % SHS STLTX %
10 1.082 228 21.07 1.126 149 13.23
11 959 257 26.79 1.104 218 19.74
12 941 268 28.48 1.039 120 11.54
(Ghi chú: SHS: số học sinh, STLTX: số học sinh tập luyện TDTT thường xuyên)
8
Bảng 7. Các môn thể thao được học sinh tham gia tập luyện
ngoại khoá (n = 1.240)
TT
Môn Thể
thao
Lớp 10 (%) Lớp 11 (%) Lớp 12 (%)
Nam
(n= 228)
Nữ
3. KẾT LUẬN
- Thực trạng chương trình chính khóa môn Thể dục ở các trường THPT
thành phố Đà Nẵng có những đặc điểm sau:
+ Chương trình chưa phù hợp (78,4%). Có nhiều nguyên nhân như:
chương trình nặng và khô cứng (68%); sự phân bố giữa 2 phần bắt buộc và tự
chọn không hợp lý (87%); sân bãi, cơ sở vật chất không đáp ứng (65%), gặp
khó khăn khi được phân công giảng dạy một số nội dung không phải là môn
chuyên sâu của giáo viên (61% ).
9
+ Hoạt động dạy học của giáo viên chưa khoa học, sự phân bổ thời
gian giữa các phần trong giáo án chưa thực sự phù hợp, phương pháp tổ chức
chưa khoa học, phương pháp giảng dạy chưa đổi mới.
+ Mức độ ưa thích môn Thể dục của học sinh THPT cả nam và nữ chỉ
ở mức bình thường (nam 44,58%, nữ 39,4%). Những nguyên nhân làm học
sinh không thích học môn Thể dục là chương trình môn học nặng nề, không
phù hợp với học sinh (29,71% nam, 27,57% nữ); phương pháp giảng dạy của
giáo viên đơn điệu, không có sức hấp dẫn, lôi cuốn (25,42% nam và 22,69%
nữ); cơ sở vật chất, sân bãi không đủ, dễ gây nguy hiểm làm học sinh ngại
học (19,59% nam và 19,77% nữ); do học các môn học nhiều, không có thời
gian học tập (12,97 % nam và 14,87% nữ); sức khỏe không tốt, không phù
hợp với việc học tập môn thể dục (3,84% nam và 4,55% nữ).
- Về hoạt động thể thao ngoại khóa được thực hiện ở hầu hết các
trường. Tuy nhiên mức độ, nội dung và hình thức hoạt động thể thao ngoại
khóa giữa các trường chưa đều và chưa có sự thống nhất; chủ yếu tập trung
vào hình thức tổ chức giải thể thao cấp trường (76,21%) và tham gia các giải
thể thao học sinh cấp thành phố, khu vực, toàn quốc (100%). Còn các hình
thức ngoại khóa khác như: câu lạc bộ thể thao trong nhà trường, các lớp học
ngoại khóa cho các môn thể thao rất ít. Trong khi đó, qua điều tra xã hội học
ở 6.251 học sinh cho thấy nhu cầu tập luyện thể thao của học sinh THPT ở
Đà Nẵng khá cao và đa dạng.