BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
ỨNG QUỐC KHANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NBD DO BĐKH ĐẾN
XÂM NHẬP MẶN SÔNG TRÀ LÝ VÀ NHIỄM MẶN NƯỚC NGẦM
TỪ SÔNG TRÀ LÝ
Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 60.44.90 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Hoàng
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS. Phạm Thị Hương Lan
Hà Nội - 8/2014 LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Ứng Quốc Khang. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa
được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.
TÁC GIẢ…
Ứng Quốc Khang
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.3.2 Cấu trúc mô hình EFDC 34
3.3.3 Mô hình thủy động lực học và bài toán lan truyền nhiệt, mặn 35
3.3.4 Một số đặc điểm tính năng của phần mềm 35
3.4 Miền mô hình và địa hình. 36
3.5 Thiết lập điều kiện ban đầu và biên mô hình. 37
3.6 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy động lực 38
3.7 Kịch bản nước biển dâng do biến đổi khí hậu 40
3.8 Kết quả xâm nhập mặn nước sông Trà Lý theo các kịch bản 43
3.8.1 Kịch bản chưa có nước biển dâng 43
3.8.2 Kịch bản khi nước biển dâng 50cm 49
Chương 4 . ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN
XÂM NHẬP MẶN NƯỚC NGẦM 57
4.1 Hệ thống các tầng chứa nước tỉnh Thái Bình 57
4.2 Phương trình mô tả chuyển động NDĐ trong tầng chứa nước 61
4.3 Phương trình mô tả lan truyền mặn trong nước ngầm 63
4.4 Mô hình đánh giá ảnh hưởng NBD đến xâm nhập mặn nước ngầm khu vực
sông Trà Lý 65 iii
4.4.1 Mô hình phần tử hữu hạn 68
4.4.2 Lựa chọn điều kiện mô hình đánh giá: 71
4.4.3 Kết quả mô hình về mực nước dưới đất 75
4.4.4 Kết quả mô hình phần tử hữu hạn lan truyền mặn nước ngầm 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
Kết luận 84
Kiến nghị 84
Hình 1.1.Vị trí địa lý tỉnh Thái Bình 14
Hình 2.2. Bản đồ mạng lưới sông suối địa phận tỉnh Thái Bình 21
Hình 2.3. Đồ thị tỷ lệ diện tích theo độ cao của toàn tỉnh 25
Hình 3.1. Cấu trúc cơ bản mô hình EFDC 34
Hình 3.2. Cấu trúc mô hình thủy động lực học EFDC 34
Hình 3.3 Cấu trúc mô hình chất lượng nước 35
Hình 3.4. Miền mô hình sông Trà Lý và vị trí các mặt cắt địa hình 37
Hình 3.5. Địa hình lòng sông Trà Lý miền mô hình và lưới mô hình minh họa 37
Hình 3.6. Bản đồ vị trí các trạm quan trắc mặn sông Trà Lý 39
Hình 3.7. Nồng độ muối thực đo và theo MH tại trạm Định Cư-sông Trà Lý 40
Hình 3.8. Vị trí các điểm thể hiện diễn biến mặn theo thời gian 43
Hình 3.9. Diễn biến mặn theo thời gian tại một số vị trí 47
Hình 3.10. Thời gian nước sông có hàm lượng muối nhỏ hơn 1g/l tại các vị trí 49
Hình 3.11. Diễn biến mặn theo thời gian tại một số vị trí ứng với kịch bản giả định NBD
50cm 53
Hình 3.12. Thời gian nước sông có hàm lượng muối nhỏ hơn 1g/l tại các vị trí 54
Hình 3.13. Số ngày trong năm nước sông có hàm lượng muối nhỏ hơn 1g/l tại các vị trí
ở chế độ thủy văn sông có tần suất 85% 56
Hình 4.1. Ranh giới mặn nhạt 2 tầng chứa nước Holocen trên (qh
2
) và qp 61
Hình 4.2. Bản đồ ranh giới mặt nhạt tầng qh2 và vị trí mặt cắt ĐCTV 66
Hình 4.3. Mặt cắt ĐCTV qua khu vực huyện Thái Thụy 67
Hình 4.4. Mặt cắt ĐCTV qua khu vực huyện Tiền Hải 67
Hình 4.5. Lưới phần tử hữu hạn 70
Hình 4.6. Minh họa số thứ tự các nút một phần lưới mô hình 71
Hình 4.7. Lượng mưa tháng TB thời kỳ 1990-2009 tại Thái Bình 74 vi
trong môi trường nước mặt và xâm nhập mặn nước mặt và nước ngầm có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn cao do tính phức tạp của quá trình này ở các vùng cửa sông
nước ta nói chung và của sông Trà Lý nói riêng. Nội dung cụ thể của luận văn này
bao gồm:
- Tính cần thiết của dự báo mặn cho khu vực cửa sông, đặc biệt trong bối
cảnh nước biển dâng do biến đổi khí hậu (BĐKH);
- Phân tích đặc điểm địa hình, mạng lưới sông, hiện trạng xâm nhập mặn
trên địa bàn khu vực nghiên cứu, xác lập các phương án mô hình (MH) mô
phỏng;
- Áp dụng mô hình phầm mềm thủy lực môi trường chất lỏng (EFDC) và
hiệu chỉnh thông số mô hình;
- Thực hiện mô hình dự báo xâm nhập mặn trên sông Trà Lý tỉnh Thái Bình
theo một số kịch bản, trong đó có kịch bản nước biển dâng (NBD);
- Thực hiện mô hình phần tử ữu hạn đánh giá xác định xâm nhập mặn nước
ngầm từ nước sông Trà Lý của các kịch bản.
Việc nghiên cứu tương tác giữa dòng chảy sông và triều ở vùng cửa sông
luôn luôn đặt ra cho các nhà khoa học một sự thách thức vì đây là một khoa học
tổng hợp có liên quan đến nhiều lĩnh vực như diễn biến bồi xói cửa sông, sinh thái
vùng ngập mặn, nước dâng, trong đó vấn đề xâm nhập triều, mặn có tính đặc thù
cho mỗi cửa sông. Do tác động ảnh hưởng đồng thời của nước sông từ thượng lưu,
yếu tố địa hình và chế độ thuỷ triều, ranh giới xâm nhập mặn biến đổi theo không
gian và thời gian rất dễ thấy theo thời đoạn (giờ, ngày). Hơn nữa, đối với khu vực
đồng bằng ven biển nói chung và khu vực tỉnh Thái Bình nói riêng xâm nhập mặn
nước sông còn có nguy cơ dẫn đến xâm nhập mặn một số tầng nước ngầm nhạt có
quan hệ thủy lực với sông. Vì vậy, việc dự báo xâm nhập mặn nước ngầm do xâm 2
nhập mặn nước sông cũng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong lĩnh vực tài
lớn đối với quá trình lấy nước từ sông, chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp trên một
phạm vi rộng lớn của đồng bằng vào các tháng kiệt.
- Do không dự báo trước tình hình xâm nhập mặn nên nhiều địa phương rất
lúng túng khi quyết định thời điểm lấy nước cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ
sản, đặc biệt trong vụ Đông Xuân.
- Sự suy giảm dòng chảy vào mùa khô trên các triền sông Hoá, sông Trà Lý
và sông Hồng, cùng với sự biến đổi khí hậu, đã khiến nước mặn từ biển Thái Bình 3
ngày càng lấn sâu vào nội tỉnh, khiến cho vụ xuân mấy năm qua, hai huyện Thái
Thụy và Tiền Hải bị ảnh hưởng nặng nề.
Hàng năm, Thái Bình thường xuyên có từ 10 - 20 ngàn héc-ta vụ xuân, tức là
10 - 20% diện tích gieo cấy, bị hạn thường xuyên và khoảng 30 ngàn héc-ta khó
khăn về nước tưới, chưa kể diện tích nuôi trồng thuỷ sản ven biển khoảng 10 ngàn
héc-ta nữa.
Việc mở cống lấy nước từ các đập, cống ngăn triều cho nông nghiệp và thuỷ
sản có độ mặn hoặc vượt quá (với cây trồng) hoặc thấp hơn (thuỷ sản) nồng độ cho
phép đã gây thiệt hại không nhỏ đến năng suất cây trồng.
Theo kết quả đánh giá sơ bộ của Viện Quy hoạch Thủy lợi về tác động của
biến đổi khí hậu đến lưu vực sông Hồng, Thái Bình cho thấy, biến đổi khí hậu toàn
cầu sẽ tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Cụ
thể đối với cấp nước: Hệ thống cống bị mặn như Ngô Đồng, Nguyệt Lâm, Lịch Bài,
Thái Học trên sông Hồng, Thuyền Quang, Dục Dương, Sa Lung, Ngữ trên sông Trà
Lý, Hệ trên sông Hoá, Đồng Câu, Mới, Rỗ trên sông Văn Úc, Hệ, Ba, Đồng, Lý Xã,
Cao Nội trên sông Thái Bình, Cống Thốp trên sông Ninh Cơ.
Vì vậy việc xem xét đánh giá xâm nhập mặn sông Trà Lý và nhiễm mặn nước
ngầm từ sông Trà Lý đặc biệt trong bối cảnh nước biển dâng do biến đổi khí hậu là
rất cần thiết.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến lĩnh vực của đề tài.
Chương 2 Giới thiệu về khu vực nghiên cứu
Giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, ảnh hưởng của NBD do
BĐKH đến kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình.
Chương 3
Ứng dụng mô hình EFDC đánh giá xâm nhập mặn sông Trà Lý
Trình bày tổng quan về lý thuyết cơ học chất lỏng, lan truyền mặn nước mặt,
phương pháp sai phân hữu hạn, phầm mềm mô hình EFDC được sử dụng trong
nghiên cứu.
Trong chương này, trình bày chi tiết các bước thiết lập mô thủy lực và lan
truyền mặn bằng phần mềm EFDC theo các kịch bản lựa chọn, trong đó có kịch bản
NBD.
Phân tích đánh giá xâm nhập mặn nước sông Trà Lý ở chế độ thủy văn ứng
với tần suất 85%, ảnh hưởng của NBD đến xâm nhập mặn trong sông Trà Lý.
Chương 4 Đánh giá ảnh hưởng của nước biển dâng đến xâm nhập mặn nước
ngầm.
Trình bày cơ sở lý thuyết chuyển động và lan truyền mặn trong nước ngầm,
điều kiện địa chất thủy văn và nước ngầm khu vực tỉnh Thái Bình, phương pháp
phần tử hữu hạn trong mô phỏng chuyển động nước ngầm và lan truyền mặn trong
nước ngầm, kết quả lan truyền mặn của kịch bản không có và có NBD.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị 5
CHƯƠNG 1 . TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
6
Ngày 11/5/2008 tại cuộc họp của các Bộ trưởng khối G8 gồm Anh, Canada,
Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Nga và Mỹ diễn ra tại thành phố cảng Niigata (Nhật
Bản), vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đã được chọn làm chủ đề chính trong chương
trình. Tại Hội nghị thượng đỉnh G8 diễn ra tại Hokkaido (Nhật Bản) từ ngày 7 đến
9/7/2008, các nước công nghiệp phát triển đã thỏa thuận đầu tư hơn 10 tỉ USD cho
hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chống nguy cơ nóng lên toàn cầu.
Theo đó, những cuộc nghiên cứu chôn khí CO2 vào lòng đất được các nhà khoa học
trên thế giới chính thức thông qua. Cũng tại hội nghị G8 nói trên, mục tiêu giảm
thiểu khí nhà kính được đặt ra cho từng quốc gia từ năm 2013. Chính vì vậy việc
xây dựng một "Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH và nước biển
dâng" là vấn đề hết sức cấp thiết, mà các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải
chung tay ứng phó.
Trong các nghiên cứu của IPCC, UNDP [37, 40] về các kịch bản BĐKH thì hệ
thống các mô hình toán khí động học khí quyển, mô hình thủy động lực học cho các
đại dương được xây dựng và sử dụng để đánh giá định lượng tác động của BĐKH
đến khí hậu toàn cầu, mực nước các đại dương trên thế giới. Với từng vùng lãnh
thổ, từng quốc gia trên cơ sở các kịch bản BĐKH toàn cầu sẽ có các nghiên cứu chi
tiết đánh giá tác động của BĐKH đến từng yếu tố khí tượng (nhiệt độ, mưa, độ ẩm,
bốc hơi…), điều kiện thủy văn, hải văn (dòng chảy trong sông, dao động triều, biến
đổi mực nước biển). Mô hình toán được sử dụng trong trường hợp này thường là
mô hình thủy động lực học HEC (Mỹ), SOBEK (Hà Lan), MIKE (Đan Mạch), ISIS
(Anh).
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Khái quát chung
Theo kết quả đánh giá sơ bộ của Viện Quy hoạch Thủy lợi về tác động của
biến đổi khí hậu đến lưu vực sông Hồng, Thái Bình cho thấy, biến đổi khí hậu toàn
cầu sẽ tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Cụ
hình giải tích chính xác, xâm nhập mặn nước ngầm bằng mô hình phần tử hữu hạn
hiện đại.
+ Thứ tự về nguy cơ ngập úng từ cao xuống thấp của các huyện, thành phố tỉnh
Thái Bình như sau: 1) Thái Thụy và Tiền Hải; 2) Kiến Xương; 3) Quỳnh Phụ; 4)
TP. Thái Bình và huyện Đông Hưng; 5) Hưng Hà.
+ Với điều kiện DCST là 211m3/s thì chiều dài xâm nhập mặn vào sông Hồng ứng
với điều kiện mực nước biển hiện tại và NBD thấp (0,5m) không khác nhau nhiều. 8
Tuy nhiên khi mực nước biển ứng với NBD TB (0,75m) và cao (1m) thì chiều dài
xâm nhập mặn tăng lên đáng kể (gần 9km) so với mực nước biển hiện tại nếu lấy vị
trí nồng độ muối 1g/l. Theo xu thế quan hệ giữa mực nước biển dâng và chiều dài
xâm nhập mặn thì chiều dài xâm nhập mặn ứng với nồng độ muối 4g/l có dạng gần
tuyến tính, nhưng ứng với nồng độ muối 1g/l thì có dạng hàm mũ, tức là chiều dài
xâm nhập mặn sẽ tăng nhanh hơn nhiều. Nếu mực nước biển dâng cao 1,5m thì
chiều dài xâm nhập mặn 1g/l đạt tới khoảng 38km, lớn gần gấp đôi so với mực
nước biển dâng 1m.
+ NBD dẫn đến thời gian xâm nhập mặn các công trình khai thác nước ngầm tầng
Pleistocen khu vực ven biển tăng nhanh. Ở điều kiện với mực nước biển hiện tại,
xâm nhập mặn xảy ra theo thời gian và theo dự báo thì khoảng 30 năm sau xâm
nhập mặn vào các lỗ khoan ở cách bờ biển khoảng trên dưới 1km, và ở kịch bản
NBD=1m chiều sâu xâm nhập mặn tăng lên khoảng 1,7 lần so với điều kiện mực
nước biển hiện tại. Bổ sung nhân tạo nước ngầm tầng Holocen trên tại một số khu
vực bằng nguồn nước mưa và nước mặt là khả thi nhằm thay thế nước ngầm mặn-lợ
và tăng nguồn nước nhạt đảm bảo cấp nước sinh hoạt cho người dân địa phươngtới
trên 200m3/ngày.
+ Với điều kiện địa chất tự nhiên của nền đê và bờ sông biển nhạy cảm với dao
động gia tăng mực nước sông biển và mực nước ngầm, dễ bị phá hủy dưới những
Sông Đáy: Chiều dài xâm nhập mặn lớn nhất ứng với kịch bản BĐKH-NBD đến
năm 2030 (>1‰) lên đến 45km, tức là lớn hơn so với kịch bản hiện trạng 15km. Từ
Km số 10 đến km số 45 độ mặn tại cùng một vị trí mặt cắt ở 2 kịch bản chênh lệch
nhau trung bình là 3,5‰.
Sông Hồng: Chiều dài xâm nhập mặn lớn nhất ứng với kịch bản BĐKH-NBD đến
năm 2030 (>1‰) là 47km, tăng lên hơn so với hiện trạng khoảng 5km. Tại cùng
một vị trí độ mặn tăng lên trung bình khoảng 2-3,5‰
Các sông Trà Lý, Thái Bình, Đá Bạc, Cấm, Lạch Tray chiều dài xâm nhập mặn và
độ lớn lưỡi mặn không có sự khác nhau đáng kể giữa 2 trường hợp. Chiều dài xâm
nhập mặn tương ứng với kịch bản năm 2030 tăng lên 2-3 km.
Kết quả này cho thấy trong tương lại độ mặn tại các cửa cống lấy nước ven sông sẽ
vượt quá giới hạn cho phép, không thể lấy nước tưới phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp. Điều này cho thấy mức độ căng thẳng về nguồn nước ngày càng tăng và sự 10
cấp thiết phải tìm ra các giải pháp công trình và phi công trình để cải thiện việc cấp
nước trong mùa kiệt trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
4. Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định nguyên nhân, để xuất giải pháp ứng phó
với xâm nhập mặn trong điều kiện BĐKH ở vùng ĐBSCL. (Đề tài do Cục Quản lý
Tài nguyên nước chủ trì năm 2012-2013).
Đề tài đã nghiên cứu xâm nhập mặn vào các sông do BĐKH và NBD, cụ thể
như sau:
Độ mặn l%:
Trong thời kỳ nền, chiều dài xâm nhập mặn ở các cửa sông Cửu Long khoảng
62-63km và trên sông Vàm Cỏ Tây là 120km.
+ Theo kịch bản A2:
Giai đoạn 2020-2039:
Ở cửa sông Hậu, Cổ Chiên, Mỹ Tho, chiều dài xâm nhập mặn từ 67-70km. So
(9,5km).
Trên sông Vàm cỏ Tây: Chiều dài xâm nhập mặn tới 104km, tức là tăng 9km,
xấp xỉ với mức tăng tại các cửa sông Cửu Long.
+ Theo kịch bản B2:
Tương tự như kịch bản AI, chiều dài xâm nhập mặn và mức gia tăng của độ
mặn 4‰ đều nhỏ hơn nhưng không đáng kể trong cả 2 giai đoạn ở tất cả các cửa
sông.
Như vậy, thông qua phân tích, so sánh kết quả tính toán về chiều dài xâm nhập
của độ mặn l‰ và 4‰ trong điều kiện BĐKH (kịch bản A2 va B2), thời kỳ 2020-
2039 và 2040-2059, có thể rút ra một số nhận định:
Theo cả 2 kịch bản, trong cả hai thời kỳ, chiều dài xâm nhập của độ mặn 1%
và 4% trên sông Mỹ Tho tăng lớn nhất và thấp nhất ở sông Hậu, có thể do lưu lượng
thượng nguồn về qua cửa sông Hậu lớn hơn.
Mức tăng trong thời kỳ 2040-2059 cao hơn so với thời kỳ 2020-2039 do mức
giảm của lưu lượng thượng nguồn trong thời kỳ 2020-2039 thấp hơn thời kỳ 2040-
2059. 12
Trên sông Vàm Cỏ Tây, mức tăng của chiều dài xâm nhập mặn trong thời kỳ năm
2020-2039 nhỏ hơn so với các cửa sông Cửu Long, nhưng trong thời kỳ 2040-2059
thì xấp xỉ.
Mức tăng chiều dài xâm nhập mặn của độ mặn 4‰ nhỏ hơn so với mức tăng
chiều dài xâm nhập mặn của độ mặn 1‰.
Việc đánh giá ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sử dụng đất ở ĐBSCL được
thực hiện thông qua chổng lớp bản đồ đường ranh giới độ mặn l‰, 4‰ với bản đổ
sử dụng đất hiện tại và tương lai. Trong 30 năm tới, diện tích đất lớn nhất có thể bị
ảnh hưởng bởi độ mặn lớn hơn 4‰ khoảng 1.605.200 ha, chiếm 41% diện tích toàn
ĐBSCL, tăng 255.100 ha so với thời kỳ nến năm 1991-2000; diện tích chịu ảnh
khí hậu đến năm 2050.
Kết quả dự báo cho thấy, tác động của biến đổi khí hậu chủ yếu làm mực nước
dềnh lên cao, mặn xâm nhập sâu vào trong theo các ngưỡng chưa đến 2 km. Qua
phân tích, phương án kiểm soát mặn khả thi trong tương lai là điều tiết xả đẩy mặn
từ công trình Dầu Tiếng. Từ đó, nghiên cứu cũng đề xuất các mức xả cần thiết
tương ứng với từng kịch bản biến đổi khí hậu.
Hạ lưu Hệ thống sông Đồng Nai là vùng rất nhạy cảm với vấn đề xâm nhập
mặn trong mùa kiệt (tháng 3 và 4) do đặc điểm địa hình, gây khó khăn cho hoạt
động sản xuất và dân sinh. Kết quả nghiên cứu giúp hỗ trợ kiểm soát tình hình xâm
nhập mặn nhằm khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước cho mục tiêu phát
triển kinh tế, xã hội. 14
CHƯƠNG 2 . GIỚI THIỆU VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Thái Bình là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm ở hạ du châu
thổ sông Hồng và là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng. Vị trí tỉnh Thái
Bình ở vào khoảng 20
0
17
'
đến 20
0
44
'
2.2 Đặc điểm địa hình
Tỉnh Thái Bình nằm trong khu vực đồng bằng ven biển, địa hình không có
đồi núi, tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%. Đây là một trong những
vùng có địa hình trũng thấp và bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới sông ngòi dầy đặc.
Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông, biển khép kín nằm bao quanh chạy vòng
ôm lấy tỉnh Thái Bình. Bờ biển dài trên 50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của
tỉnh: Phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35,3 km, phía bắc và tây bắc có sông
Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông
Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ
tây sang đông dài 65 km. Đồng thời có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt,
Trà Lý, Lân). Kết quả điều tra, phân tích chi tiết về các đặc điểm địa hình chính
trong tỉnh cho thấy độ cao của tỉnh phổ biến từ 1-2m so với mặt nước biển, chỗ cao
nhất +3.4m, chỗ thấp nhất -0.5m và độ cao địa hình có xu thế giảm dần từ phía Bắc
xuống phía Đông Nam.
Dọc theo các sông đều có đê chia cắt đồng bằng thành những ô tương đối
độc lập. Vùng cửa sông giáp biển có nhiều cồn cát và bãi phù sa. Do độ cao mặt đất
của tỉnh chủ yếu ở mức thấp hơn 2m, ở cao trình này hoàn toàn bị ảnh hưởng thủy
triều nếu không có hệ thống đê biển và hệ thống đê vùng cửa sông. Do dọc theo các
con sông đều có hệ thống đê bảo vệ từ nhiều năm nay vì vậy do tác dụng bồi lắng
của phù sa sông, cao trình của vùng mặt đất bãi sông ngoài đê thường cao hơn cao
trình mặt đất trong dòng chính.
Địa hình ở đây hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ của phù sa sông Hồng
và có thể chia làm hai vùng:
+ Vùng đồng bằng châu thổ đất đai màu mỡ, có khả năng phát triển nông
nghiệp theo hướng thâm canh, phát triển công nghiệp và các ngành dịch vụ.
+ Vùng đồng bằng ven biển có khả năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển.
2.3 Đặc điểm khí hậu
2.3.1 Chế độ gió
Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với mùa Đông lạnh, khô,
ít mưa và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Tỉnh chịu tác động của cơ chế gió mùa Đông