Một số chú thích trong Phong Kiều dạ bạc - Pdf 27

Một số chú thích trong Phong Kiều dạ bạc
[1] Các chữ Hán trong bài: Bạc: bỏ neo, đỗ thuyền, dạ bạc: đỗ thuyền lúc về
đêm. Lạc: rơi rụng, mất đi, nguyệt lạc: trăng khuất, bị mất đi, không thấy
được (mây che, sương phủ), không nhất định phải có nghĩa là trăng lặn lúc
về sáng. (Có lẽ vì hiểu như thế nên cũng có dư luận đặt câu hỏi, về thời
gian, sao tác giả mở bài lúc trăng lặn, gần sáng, lại kết thúc bài lúc nửa
đêm.) Ô: con quạ, Đề: Kêu, tiếng kêu, ô đề: quạ kêu thành tiếng. Mãn: đầy,
(như nước lên đầy tới bờ.), trọn vẹn, toàn khắp (sung mãn) sương mã thiên:
sương phủ đầy bầu trời. Giang phong: cây phong, hàng phong, mọc theo
bờ sông, phong: (chiết tự: mộc + phong: cây uốn theo gió) cây phong Tàu,
theo người sinh trưởng tại vùng này, cho biết tương tự như giống phong
(maple) ở Ontario, Canada, nhưng nhỏ cây và nhỏ lá hơn. Ngư hỏa: đèn
(hay ánh đèn) của thuyền đánh cá trên sông. Miên: giấc ngủ, sầu miên: giấc
ngủ buồn. Dạ bán: nửa đêm, thời khắc đêm bị cắt làm đôi. Chung thanh:
tiếng chuông. Đáo: đến, tới nơi, đến khắp (Phật học: đáo bỉ ngạn: sang bờ
bên kia, giác ngộ)
[2] Trương Kế: Tự là Ý Tôn, người Tương Châu (tỉnh Hồ bắc). Năm 573, đỗ
tiến sĩ đời Đường Huyền Tông, Từng giúp việc trong mạc phủ và làm quan
thu đo thuế muối, sắt (diêm thiết phán quan). Cuối đời Đại Lich, Đường Đại
Tông, vào triều làm tư bộ viên ngoại lang. Rồi ra coi việc tài phú tại Hồng
Châu, mất tại đây. Theo Trần trọng San, Thơ Đường. Toronto: Bắc Đẩu,
1993. p.127. Trương chỉ làm vài bài thơ, và như chỉ còn bài thơ này được
truyền tụng (bài duy nhất của Trương trong tập Đường Thi Tam Bách Thủ -
300 bài thơ đời Đường), nhưng lưu danh thiên cổ vì giai thoại đi kèm.
[3] Phong Kiều: Tên đất ở phía tây huyện Ngô, tình Giang Tô, nay là Tô
Châu, gần Hàng Châu, trong vùng đất cổ nhiều di tích lịch sử., châu thổ hạ
lưu sông Dương Tử. Cũng là vùng đất Ngô Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc:
Tô châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang nam
(thơ Hồ Dzếnh)
[4] Cô Tô: ở Tô Châu, Đời Đông Chu, vua nước Ngô là Phù Sai, đắp đài cho

có tiêng chuông và đoán rằng âm thanh đó phát ra từ chiếc chuông Thập
Đắc. Hàn San gọi thợ làm một chiếc chuông, là chuông Hàn San, có âm
vang rất xa, mỗi khi thỉnh, chuông vọng âm đến chỗ Thập Đắc. Hai người
giao cảm bằng cách này.
Cũng theo truyền thuyết, Chỗ Thập Đắc đến là Nhật bản ngày nay.
Nguyễn Tường Bách trong thiên du ký Mùi Hương Trầm, cho biết gốc tích
chùa Hàn San:
“Hàn Sơn một cuồng sĩ sống ở khoảng thế kỷ VII, trong hang đá núi Thiên
thai, nơi có hòa thượng Tế Điên ở. Trên núi Thiên Thai có chùa Quốc Thanh
nổi tiếng, bấy giờ do thiền sư Phong Can trụ trì. Hàn Sơn hay lui tới chùa
này, giao du với Thập Đắc. Thập Đắc (lượm được) cũng không khá gì hơn,
vốn là đứa trẻ bị bỏ rơi, được Phong Can lượm đem về chùa nuôi. Thập
Đắc quí hàn Sơn, thường thu góp thức ăn, đựng trong một ống tre, cho Hàn
Sơn mang đi. Thế nhưng Hàn Sơn không biết thân phận, đã không biết cám
ơn chùa mà còn chửi đời. Sách Tống cao tăng truyện viết “Hàn Sơn đi trong
hành lang chùa, chốc chốc lại kêu gào chửi bới lăng mạ mọi người, hoặc
ngẩng mặt lên trời mà chửi đổng. Các vị sư trong chùa không chịu nổi vác
gậy đuổi thì Hàn Sơn lăn lộn, vỗ tay cười hà hà rồi bỏ đi. Quần áo rách
bươm, mặt mũi hốc hác, đầu đội mũ bằng vỏ cây hoa, chân kéo lê đôi guốc
mộc” Hán Sơn, Thập Đắc thường bá cổ bá vai đi chơi với nhau và cũng
thường lui tới chùa Hàn Sơn.
Ngày nọ có vị quan là Lưu Khâu Dẫn đến hỏi Phong Can, ở đây có ai là
người hiền? Phong Can là một thiền sư đắc đạo, cảm hóa được cả cọp,
đáp: “Có Hàn Sơn tức là Văn Thù, có Thập Đắc tức là Phổ Hiền, dáng dấp
của một người nghèo, điệu bộ như người cuồng”. Lưu Khâu Dẫn đến chùa
gặp hai vị đó liền cúi lạy vái chào. Các vị sư khác kinh ngạc hỏi “ngài là
quan to sao lại cúi lạy kẻ cuồng phu?” Hàn Sơn Thập Đắc cười hà hà nói
“Phong Can lắm chuyện!” rồi bỏ đi. Về sau Lư đến tìm thì Hàn Sơn chỉ la
lớn “Các người hãy cố gắng” rồi biến mất trong hang để lại nhiều thơ ca.
Còn Thập Đắc cũng bỏ đi đâu không ai biết.

Lửa chài cây bãi đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
(Trần Trọng Kim)
Quạ kêu sương tỏa trăng lui
Đèn chài cây bến đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô Tô
Tiếng chuông đưa đến bên đò canh khuya
( Ngô-Tất-Tố)
Trăng lặn sương mờ nghe tiếng quạ
Lửa chài cây ánh giấc chưa yên
Cô Tô bên mái Hàn sơn tự
Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền
(Bùi Khánh Đản)
Quạ kêu trăng lẩn sương trời
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài Bến Phong
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn Sơn đến thuyền sông Phong Kiều
(Trần Trọng San)
[7] Cũng theo GS Nguyễn Quảng Tuân, chuyện chuông chùa nửa đêm
cũng bị các nhà phê bình Tàu ngờ là hư tạo, theo bài viết dẫn trên:
“Hai câu này cũng gây thắc mắc cho người đọc vì vào lúc nửa đêm làm gì
có tiếng chuông chùa.Vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Ấu Dương Tu thì cho rằng: "Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý bất thông giả,
diệc ngữ bệnh dã" (Nhà thơ vì muốn đặt câu cho hay nên lý không được
thông, đó là một ngữ bệnh vậy).
Sô Nghiêu trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản thì cho rằng: "Hậu
nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh, vị miễn xuy mao cầu tì".
(Người đời sau lấy cớ nửa đêm không có tiếng chuông và cho là một ngữ
bệnh, như thế thì chưa tránh khỏi cái thói bới lông tìm vết.)

Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế,
Ô đề nguyệt lạc hựu chung thanh.
(Mấy lần qua Phong Kiều đều nhớ Trương Kế,
Quạ kêu, trăng lặn với tiếng chuông nửa đêm.)
Nhà thơ Văn Trưng Minh đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:
Thủy minh nhân tĩnh Giang thành cô,
Y nhiên lạc nguyệt đề sương ô.
(Nước trong, lòng tĩnh, Giang thành vắng,
Trăng lặn, quạ kêu trong sương vẫn y như cũ.)”
[10] Các âm Hán Việt trong các câu có cú pháp Hán, đẩy người Việt đọc
thơ, trước hết, vào một tầng chưa có nhận thức toàn vẹn, nếu so với khi đọc
các chữ Việt, hay Việt gốc Hán nhưng theo cú pháp thuần Việt. Thí dụ, khi
đọc: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên”, câu này mở ra nhiều lối giải - vì là
ngọai ngữ, (hay cổ ngữ) hơn là khi đọc “Trăng lặn, quạ kêu, trời đầy sương”,
câu này đến thẳng với nhận thức bằng con đường nhanh, gần hơn – vì là
tiếng mẹ. Trong tiến trình nhận thức: đọc - hiểu, câu thơ Hán có thêm một
bước, bước chuyển dịch, đọc – lập nghĩa - hiểu. Câu thơ Việt không có
bước lập/tìm nghĩa này, nên tiến trình ngắn hơn. Trong bóng tối của các chữ
đang-trở-thành-vẹn-nghĩa, các âm Hán Việt có thêm sức-gợi.
Có lẽ vì thế, vẫn có tác giả Việt thích viết thơ Hán Việt, rồi cung cấp bản
Việt ngữ của mình liền sau đó. Trong trường hợp này, bài chuyển dịch của
tác giả sang Việt ngữ, đóng vai của một trong nhiều bản dịch có thể có. Một
trong nhiều lối hiểu có thể xây trên bài thơ chữ Hán.
[11] Peirce, Charles Sanders (1894) What is a Sign? – theo ông, ký hiệu
(sign) truyền thông gồm: dấu thay (icon), dấu chỉ (index) và dấu hiệu
(symbol)
[12] Điển cố có tác dụng làm mỗi chữ, mỗi âm có thêm rất nhiều chiều dày,
tựa trên cái-nhắc-đến để đẩy thêm sức gợi-lên, đem đến ý-tại-ngôn-ngoại.
Điển cố là chữ mang theo hành lý ẩn tàng, là những hình thay (icons), hình
ảnh thu nhỏ để thay thế cho cái nói về, nhắc đến.

Lư sơn yên tỏa Triết giang triều
(Lư Sơn - Tô Ðông Pha)
Mù tỏa Lô Sơn, sóng Chiết Giang
Khi chưa đến dó luống mơ màng
Ðến rồi, hóa chẳng không gì khác
Mù toả Lô Sơn sóng Chiết Giang.
(Trúc Thiên dịch )
Tô Thức muốn nói về chuyện di tìm cái Tâm (Tự Tánh).Khi chua gặp thì
thấy thật xa vời, siêu việt, khi gặp rồi thì lại thấy không khác với diều dã
biết, cung chỉ là cái tâm bình thuờng (bình thuờng tâm thị đạo).
[20] “Tout dit dans l’infini quelque chose à quelqu’un”. – Victor Hugo
Nhưng có phải những gì giữa-các-chữ cũng diễn tả nhiều như chính các
chữ? những gì không “nói”cũng bằng những gì “nói”.( “Mais si le langage
exprime autant par ce qui est entre les mots que par les mots? Par ce qu’il
ne “dit” pas que par ce qu’il “dit”) - Merleau-Ponty.
[21] Khác với phê bình cổ điển quen thuộc; trong đó có mọi cố gắng nhằm
tìm cho được chủ đích, tư tưởng, đại ý,… của tác giả. (Lối phê bình chịu
ảnh hưởng của truyền thống diễn dịch kinh thánh tây phương; tìm ý tác giả
như tìm thánh ý sau lời kinh, phê bình là diễn dịch (intepretation) – lấy ra cái
ý mà tác giả đã đưa vào - ). Khi tuyên bố cái chết của tác giả, quan niệm
tác giả là kẻ tạo văn bản từ không, là gốc, là kẻ thai nghén, là cha đẻ, …đã
bị thay thế bằng quan niệm “tác giả” chỉ cũng là một sản phẩm, một phần vụ
trong quá trình viết (“deconstructing" the idea that the author is the origin of
something original, and replacing it with the idea that the "author" is the
product or function of writing, of the text.)
Thi sĩ, tác giả, như con tằm nhả tơ, nhưng không tạo ra tơ. Tơ đến từ mây
trắng, dâu xanh, rồi tay ngà đưa hoa văn cổ truyền vào khung dệt,…
Nay, khi “tác giả đã chết“ (Foucault & Barthes), cái ý gửi (context) đã được
tách riêng, và xem không hoàn toàn là của tác giả, thi sĩ được lui vào hậu
trường. Còn văn bản và người đọc.

giáo, bài thơ dễ trở nên nhạt nhẽo, khó gợi được những điều như chúng ta,
người Việt (hay Hàn, Nhật) cảm nhận. Dịch sang Anh, Pháp ngữ, thường có
bốn câu văn xuôi vô cảm. Cái contact đã bị mất, cái code đã bị lạc khi sang
một văn hóa lạ. Đó cũng là hiện tượng chung khi dịch thơ.
(A Night-Mooring Near Maple Bridge
While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell
Witter Bynner -
trích từ: />poem=273)
Với thiên nhuệ thi hào, Tản Đà đã thu gọn tất cả [context + code+ contact]
rồi chuyển lại tất cả trong:
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Tôi không thể làm hơn, đành để nguyên các âm cổ kính!
“Cô Tô thành ngoại, Hàn San tự”
Chuông vọng đến thuyền lúc nửa đêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status