skkn một số kinh nghiệm trong phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta được biết, sức khỏe là vốn quí báu nhất của con người, để
tham gia vào các hoạt động thì con người cần phải có sức khỏe. Đặc biệt đối với
trẻ mầm non thì sức khỏe vô cùng quan trọng, vì ở giai đoạn này cơ thể trẻ đang
phát triển mạnh, các cơ quan chức năng tâm sinh lý của trẻ đang dần được hoàn
thiện. trẻ khỏe mạnh thì mới tích cực tham gia vào các hoạt động như hoạt động
vui chơi, học tập, lao động, thể dục....Muốn có cơ thể khỏe mạnh cần phải biết
cách chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.... Nếu
lứa tuổi mầm non mà để trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thì sẽ liên quan đến nhiều
vấn đề khác rất phức tạp, kéo theo sa sút về kinh tế gia đình, ảnh hưởng rất lớn
đến mọi hoạt động sau này của trẻ....
Ngày nay qua các phương tiện thông tin đại chúng, trên đài phát thanh,
truyền hình, báo chí... chúng ta được biết chiều cao cân nặng của người Việt
Nam, hiện nay đang đứng trong tốp 10 nước thấp nhất thế giới. Trong khi chiều
cao trung bình của nước Hà Lan cao nhất thế giới là 1,838 m. Còn chiều cao
trung bình của người Việt Nam là 1,621m. Khoảng cách 0,217m là một khoảng
cách vô cùng lớn mà chúng ta phấn đấu để có được.
Chiều cao, cân nặng là tiêu chí vô cùng quan trọng trong việc quyết định
sức khỏe của mỗi con người và là tương lai của một dân tộc. Một dân tộc có sức
khỏe, có tầm vóc cao lớn sẽ có lợi thế rất nhiều trong việc phát triển kinh tế xã
hội của một đất nước.
Chính vì vậy mà chúng ta cần phải quan tâm đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng
trẻ ngày từ khi còn trong bụng mẹ và nhất là lứa tuổi mầm non. Đó chính là việc
chăm lo chế độ ăn cho trẻ và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt việc
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non là một việc làm hết sức
quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân cần phải quan tâm đến. Riêng đối với bậc học
mầm non việc chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe của trẻ được đặt lên hàng
đầu, vì mục tiêu giáo dục mầm non là hình thành nhân cách con người mới xã hội
chủ nghĩa giúp cho trẻ khỏe mạnh hồn nhiên vui tươi phát triển trí tuệ, phát triển cơ
thể hài hòa, cân đối.... Nếu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn

và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất
đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể trẻ.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là trẻ mầm non đang học tập tại trường mầm
non của địa phương. Với tổng số trẻ là 302 cháu. trong đó:
Mẫu giáo lớn 5-6 tuổi là : 75 cháu.
Mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi là : 123 cháu.
Mẫu giáo bé 3-4 tuổi là : 66 cháu.
Trẻ nhà trẻ từ 25- 36 tháng là: 38 cháu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu: Tài liệu sách báo, tập san, báo mạng... có nội
dung hướng dẫn cách chăm sóc nuôi dưỡng phòng chống bệnh suy dinh dưỡng
cho trẻ em.
* Phương pháp điều tra: Điều tra số trẻ khoẻ mạnh, số trẻ có nguy cơ bị suy
dinh dưõng, số trẻ bị suy dinh dưỡng ở các lớp.
* Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn cách chăm sóc nuôi dưỡng cách thực
hiện các chế độ sinh hoạt của tẻ ở từng nhóm lớp, từng gia đình.
* Phương pháp thống kê: Tổng hợp kết quả theo dõi khám sức khoẻ định kỳ và
theo dõi trên biểu đồ tăng trưởng của trẻ.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận.
Theo các nhà khoa học đã nghiên cứu và cho biết, trẻ em ở lứa tuổi mầm non
nhu cầu về dinh dưỡng và nhu cầu về hoạt động của trẻ rất lớn, hơn thế nữa
cơ thể trẻ đang phát triển, nhu cầu về năng lượng đối với trẻ so với cân nặng cao
hơn người lớn. Trẻ mầm non cần 100-120 kcalo/cân nặng/ ngày( Nhu cầu năng
lượng của trẻ mầm non cần từ cần từ 1180-1470 kcalo/ngày). Người lớn chỉ cần
400-500 kcalo/ cân nặng/ ngày (Người lớn cần 2000-3000kcalo/ngày). Nhu cầu
về dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi phải đảm bảo cân đối giữa 4 nhóm thực phẩm.
2



Trình độ đại học là 14/19= 68,4%
Trình độ cao đẳng là 2/19= 10,5%
Trình độ trung cấp là 3/19= 15,8%
- Nhân viên tổng số là 6:
Trình độ đại học 1/6 = 16,6 %
Trình độ cao đẳng 1/6= 16,6 %
Trình độ trung cấp 4/6 = 66,6 %
Tổng số trẻ trong trường là 302 cháu.
- Cháu nhà trẻ có 2 nhóm lớp với tổng số trẻ là : 38 cháu.
- Cháu mẫu giáo có 7 lớp, với số trẻ là :
264 cháu.
a - Thuận lợi:
Trường mầm non chúng tôi đóng trên địa bàn một thị trấn nằm ở phía tây
nam của huyện Thọ Xuân. Nơi đây là một Thị trấn đang trên đà phát triển kinh
tế, nơi có nhiều cơ quan đơn vị bộ đội,cảng hàng không, sân bay, xí nghiệp…
đóng trên địa bàn Thị trấn, nên người dân sinh sống trên địa bàn chủ yếu là cán
3


bộ, công nhân giáo viên, bộ đội và một phần nhỏ là làm nghề tiểu thương, làm
nghề tự do và nông nghiệp….
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của phòng giáo dục - Đào tạo Thọ
Xuân, phòng giáo dục đã mở các lớp tập huấn theo chuyên đề, bồi dưỡng, nâng
cao nghiệp vụ trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ cho đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên chúng tôi.
Được sự quan tâm của Đảng ủy, ủy ban nhân dân Thị trấn Sao Vàng trong
việc xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường đảm bảo tương đối đầy đủ cho công
tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Địa phương có hệ thống loa đài truyền thanh tốt, tuyên truyền tới các bậc
phụ huynh học sinh và mọi người dân trên địa bàn thị trấn về phòng chống các loại

Thực trạng điều tra về chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đầu năm
học (tháng 9/2016) như sau:
4


Bảng A
Độ tuổi

Tổng số

Nhà trẻ

38

Trẻ suy DD
thể nhẹ cân
2

5.3%

Trẻ suy DD
thể thấp còi
0

Mẫu giáo

264

18


quả khảo sát đang còn nhiều trẻ suy dinh dưỡng, tôi thực sự trăn trở, làm thế nào
để nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của
trẻ xuống thấp hơn 2-3%. Để nâng cao chất lượng việc phòng chống suy dinh
dưỡng cho trẻ. Trong quá trình nghiên cứu đề tài và qua thực tế quản lý nhà
trường, tôi đã thực hiện một số biện pháp để giải quyết vấn đề như sau:
2.3. Biện pháp thưc hiện để nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy
dinh dưỡng cho trẻ
Biện pháp 1. Tăng cường công tác tự học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực
chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên và các
cô nuôi .
Tự học tập bồi dưỡng:
Để làm tốt công tác chăm sóc dinh dưỡng trẻ đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên luôn học hỏi không ngừng để nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Bản thân tôi cũng phải luôn học hỏi nâng cao trình độ chăm sóc nuôi dưỡng
trẻ qua các lớp chuyên đề, các tài liệu sách báo, kinh nghiệm của đồng nghiệp.
Thường xuyên cập nhật các công văn chỉ thị mới của trung ương và các cấp,
ban ngành.
Ví dụ như:
- Thông tư số17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/07/2009 của bộ trưởng bộ
giáo dục và đào tạo về việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ trong trường
mầm non.
- Nghị quyết số 47/NQ-CP về phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng
6/2014. Đối với công tác an toàn thực phẩm, Ngày 08/7/2014, Thủ tướng Chính
phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành.
- Nghị quyết số 04-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
Ngày 18-8-2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa.
- Công văn số 108/KH- UBND ngày 04/10/2016 của UBND huyện Thọ xuân
ban hành kế hoạch hành động.


Giáo viên nuôi biết tính khẩu phần ăn cho trẻ để biết được lượng KCal
cung cấp cho trẻ trong ngày đạt bao nhiêu (%) so với nhu cầu cần đạt KCal do
các chất P,L, G cung cấp có được cân đối , hợp lý hay không? Vì khẩu phần ăn
6


của trẻ cân đối, hợp lý sẽ giúp cho quá trình tiêu hóa, vận chuyển, trao đổi các
chất được tốt hơn.
Thường xuyên sinh hoạt chuyên môn, đánh giá rút kinh nghiệm hàng
tuần, hàng tháng cho giáo viên, nhân viên. Sau thời gian học tập, tham khảo tài
liệu sách báo, rút kinh nghiệm trong công việc, trình độ chuyên môn bản thân tôi
và giáo viên, nhân viên trong nhà trường được nâng lên rõ rệt, chúng tôi đã nắm
vững chuyên môn nghiệp vụ trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ.
Biện pháp 2. Xây dựng thực đơn chuẩn cho trẻ trong trường mầm non.
Để trẻ có được những bữa ăn ngon và đảm bảo cân đối giữa các chất dinh
dưỡng, thì chúng ta cần phải xây dựng 1 thực đơn chuẩn cho trẻ. Theo tuần,
tháng, mùa….
Phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương.Tôi phải tìm hiểu ở địa
phương có những loại thực phẩm nào phổ biến, mang giá trị dinh dưỡng cao.
Như về mùa hè thường có các loại rau muống, rau mùng tơi, rau đay.....
Chỉ đạo nhân viên thực hiện tốt công tác kiểm tra, tiếp nhận thực phẩm.
Hợp đồng mua thực phẩm sạch tại những cơ sở có uy tín, chất lượng đáp
ứng được yêu cầu, rõ nguồn gốc, tươi sạch, phù hợp với điều kiện, khả năng của
nhà trường
Thực hiện tốt chế độ vệ sinh nhà bếp, vệ sinh cá nhân, vệ sinh đồ dùng
dụng cụ nhà bếp, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chế biến món ăn đúng qui trình, đúng nguyên tắc bếp một chiều, hợp lý,
vệ sinh.
Thực hiện nghiêm túc việc lưu mẫu thức ăn hàng ngày.

+ Bước 1: Tính tổng số năng lượng ,lượng protêin và các chất dinh dưỡng khác
của khẩu phần qui ra số bữa chính của trẻ, từ đó quy ra lượng yêu cầu một bữa
cho tổng số trẻ cùng ăn một khẩu phần giống nhau
+ Bước 2: Chọn lương thực chính của trường là gạo
+ Bước 3:Chọn một số thức ăn giàu protein từ nguồn thực vật sẵn có và rẻ tiền
ở địa phương .
Ví dụ: Đậu phụ, đậu xanh, đậu tương, lạc,vừng ...thêm một vài protêin động vật
để cân đối khẩu phần như thịt, cá, tôm, cua, thịt....
+ Bước 4: Tính lượng thịt và gạo hoặc lượng thức ăn khác nhau để nấu
+ Bước 5: Bổ xung năng lượng bằng một số loại chất béo, tốt nhất là dưới dạng
dầu thực vật .
+ Bước 7: Tính khối lượng nước để nấu
+ Bước 8: Thêm gia vị
Các bữa ăn trong ngày cần đa dạng các loại thực phẩm. Chế biến ngon,
hợp khẩu vị với trẻ.
Màu sắc đẹp mắt, hấp dẫn trẻ.
Các món ăn được thay đổi thường xuyên, tránh nhàm chán cho trẻ.
Nấu ăn phải hợp khẩu vị với trẻ.
Đảm bảo mùa nào thức ấy, sử dụng thực phẩm có sẵn ở địa phương.
Một khẩu phần ăn cân đối sẽ giúp cho cơ thể có đủ năng lượng và các
chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển, duy trì sự sống và làm việc, vui chơi
giải trí. Nếu ăn nhiều mà không hoạt động dẫn đến thừa năng lượng thì sẽ gây
béo phì, nếu để trẻ đói, ăn không đủ chất, đủ lượng, trẻ sẽ mệt mỏi, kém hoạt
động và dẫn đến bị suy dinh dưỡng.
Xây dựng thực đơn theo tuần, phù hợp theo mùa. Đảm bảo khoảng cách
giữa các bữa ăn của trẻ trong ngày sao cho 2 bữa ăn của trẻ không quá gần nhau,
kịp thời bổ sung năng lượng cho cơ thể trẻ không để trẻ bị đói mới cho ăn hoặc
vẫn còn no lại cho ăn tiếp gây lên sự chán ăn ở trẻ.
Nhân viên thực hiện 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm của
tổ chức WHO.

Nhà trẻ: - Cơm - Thịt ngan
- Xôi lạc
rim- Canh rau nấu ngao
- Ruốc

THỨ
HAI

THỨ
BA

Mẫu giáo: - Cơm - Thịt
Mẫu giáo: ngan rim - Canh rau nấu
ngao
Nhà trẻ:

THỨ


THỨ
NĂM

THỨ
SÁU

BỮA
CHIỀU

BỮA PHỤ


Nhà trẻ: - Cơm- Thịt lợn
Nhà trẻ: đúc trứng- Canh rau nấu
cua
Mẫu giáo: - Cơm- Thịt lợn
Mẫu giáo: đúc trứng- Canh rau nấu
cua

Nhà trẻ:
- Sữa đậu nành

Nhà trẻ:
- Chuối tiêu

Mẫu giáo:
- Cháo đậu
vịt

Mẫu giáo:
- Chuối tiêu

Nhà trẻ:
- Phở ngan

Nhà trẻ:
- Sữa Ông thọ

Mẫu giáo:
- Phở ngan

Mẫu giáo:

Nhà trẻ: - Cơm- Cá sốt cà
chua- Canh rau nấu sò

Mẫu giáo: - Cơm- Cá trắm
Mẫu giáo: sốt cà chua- Canh rau nấu

Nhà trẻ: - Cơm- Thịt xốt
Nhà trẻ:
đậu phụ sốt cà chua- Canh
rau láo nháo nấu cua
Mẫu giáo: - Cơm- Thịt
Mẫu giáo: nạc, đậu phụ sốt cà chua Canh rau láo nháo nấu cua
Nhà trẻ:

BỮA
CHIỀU

Nhà trẻ: - Cơm- Thịt ngan Nhà trẻ:
rim - Canh rau nấu tép
- Bánh cuốn

Mẫu giáo: - Cơm- Thịt
Mẫu giáo: ngan rim - Canh rau nấu
tép
Nhà trẻ:

THỨ
BA

BỮA TRƯA

- Chè đậu
đen
Nhà trẻ:
- Sữa Ông
Thọ
Mẫu giáo:
- Sữa Ông
Thọ

Nhà trẻ:
- Phở gà

Nhà trẻ:
- Chuối tiêu

Mẫu giáo:
- Phở Gà

Mẫu giáo:
- Chuối tiêu

Nhà trẻ:
- Xôi lạc
- Ruốc
Mẫu giáo:
- Xôi lạc
- Ruốc

Nhà trẻ:
- Chè đậu

Biện pháp 3. Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ, chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng đến
từng đối tượng.
Việc giáo dục dinh dưỡng và chăm sóc trẻ là việc làm rất quan trọng và cần
thiết. Nắm được điều này, trước tiên tôi chỉ đạo cho giáo viên khảo sát chất
lượng sức khỏe đầu năm cho trẻ.
khảo sát chất lượng dinh dưỡng theo định kỳ:
Hàng năm khảo sát sức khỏe cho trẻ vào đầu năm học tháng 9, tháng 11,
tháng 2 và tháng 5. Theo dõi biểu đồ tăng trưởng cho trẻ.
Kết quả khảo sát chất lượng dinh dưỡng chăm sóc nuôi dưỡng đầu năm
tháng 9/2016 của trẻ trong trường là :
- Trẻ nhà trẻ suy dinh dưỡng: 2/38 = 5,3%
- Trẻ mẫu giáo suy dinh dưỡng: 13/264= 4,9%
Với kết quả như vậy, tôi thật sự trăn trở, phối hợp với giáo viên, tìm hiểu
hoàn cảnh gia đình của từng em, để tìm ra nguyên nhân dẫ đến tình trạng suy
dinh dưỡng của trẻ. Sau một thười gian tìm hiểu, tôi đã xác định được nguyên
nhân dẫn đến suy dinh dưỡng của từng em và tôi đã rút ra kết luận :
Đa số trẻ bị suy dinh dưỡng là do bố mẹ chưa thật sự quan tâm đến việc
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, đa số trẻ bị suy dinh dưỡng là ở các xã xung quanh
đến địa phương, một số gia đình phó mặc cho nhà trường, cho trẻ ăn không đảm
bảo về thời gian, không theo nhu cầu thực tế của trẻ trong độ tuổi ...
Một số trẻ gia đình có điều kiện nhưng trẻ do bố mẹ chăm sóc quá, cho trẻ
ăn tự do, không điều độ, dẫn đến tình trạng lười ăn.
Còn lại số ít trẻ là do thể lực sinh non hoặc hay ốm đau...
Sau khi xác đinh được nguyên nhân, tôi đã xây dựng kế hoạch phòng
chống suy dinh dưỡng cụ thể cho từng đối tượng, tìm ra biện pháp để giải quyết.
Đến bữa ăn cho trẻ ngồi đúng vị trí, thời gian, số lượng, sắp xếp hợp lý số
bữa ăn mỗi ngày.
Điều này rất quan trọng vì như thế làm cho trẻ hình thành phản xạ có điều
kiện, đến giờ ăn nhất định, vị trí môi trường đã định, thì đại não sẽ chỉ huy các
cơ quan tổ chức toàn thân làm tốt công việc chuẩn bị vào bữa tiếp thu thức ăn.

Thông qua các môn học lồng ghép và giáo dục dinh dưỡng ví dụ cho trẻ đi
tham quan vườn trường. Các cô giới thiệu cho trẻ biết lợi ích của từng loại cây
ăn quả, lợi ích của các loại thực phẩm chứa nhiều chất đạm, chất béo...
Thông qua giờ ăn, các cô giáo giới thiệu cho trẻ biết hôm nay có những
món gì.
Ví dụ: Ăn thịt thì trẻ biết được thịt cung cấp cho cơ thế chất gì?

12


Kiểm tra sức khỏe cho trẻ, để bổ sung chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng.
Nhà trường đã rèn cho trẻ thói quen tự chăm sóc bản thân bằng cách tự tuyên
truyền trong bữa ăn.
Ví dụ: Hôm nay lớp mình ăn cơm với những thức ăn nào? Ngon không?
Bạn nào ăn giỏi? Từ những biện pháp nhỏ này đã giúp trẻ cố gắng ăn hết suất.
Lồng giáo dục dinh dưỡng qua các hoạt động:
Chúng tôi lên kế hoạch cho các giáo viên đưa giáo dục dinh dưỡng vào các
hoạt động, đây là vấn đề quan trọng bởi trẻ thường xuyên được chơi mà học.
Ví dụ: Hoạt động làm quen với chữ cái gây hứng thú cho trẻ giáo viên có
thể đọc đồng dao, hò, vè về các loaị rau, quả ở chủ đề thế giới thực vật.
Cứ như vậy sẽ giúp trẻ hiểu và có một số kiến thức nhất định về dinh
dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Phòng học phải thoáng đãng, sạch sẽ, đảm bảo thoáng về mùa hè, ấm về
mùa đông.
Cho trẻ được rèn luyện thẻ dục sáng và các vận động trong nhà trường. cho trẻ
được tắm nắng thường xuyên, phòng chống suy dinh dưỡng còi xương cho trẻ.
Cho trẻ ngủ đủ giấc, đúng thời gian qui định. buổi trưa từ 11h30- 13h45.
Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra, giám sát các hoạt động của giáo
viên trên lớp, trong giờ lên lớp không được dùng điện thoại, phải quan tâm, để
mát đến từng trẻ, coi trẻ như con em ruột thịt của mình, xứng đáng là người mẹ

ngon, an toàn sức khỏe”, “Nhiết liệt hưởng ứng “Tháng hành động vì an toàn cjh
phẩm” năm 2017, “Vì sức khỏe người tiêu dùng, đảm bảo thời gian cách ly khi sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật”....
Những câu khẩu hiệu ấy cũng đã có tác dụng rất lớn đến nhận thức của
người dân, phụ huynh học sinh trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm và bảo vệ môi trường.
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ,
cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình với nhà trường. Đây là một việc
làm hết sức quan trọng.
Nhận thức được vấn đề này, tôi đã lập kế hoạch, chỉ đạo giáo viên phải chủ
động, trao đổi thông tin về trẻ đối với phụ huynh,. ..đặc biệt là những trẻ suy
dinh dưỡng, để phụ huynh nắm bắt được tình hình của trẻ, để có những biện
pháp phối hợp kịp thời.
Xây dựng góc dinh dưỡng, tháp dinh dưỡng tuyên truyền đến các bậc phụ
huynh.
Tuyên truyền với phụ huynh thông qua các buổi họp phụ huynh, giờ đón trả
trẻ, các buổi họp khu dân cư, biểu bảng tuyên truyền ở nhà trường, các lớp.... về
cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, phòng chống các dịch bệnh, cho trẻ ăn uống điều
độ, không mang quà vặt đến lớp......
Cách động viên, khích lệ trẻ, giúp trẻ tự tin, chủ động trong các bữa ăn.
Không chiều chuộng trẻ quá, không đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi mà trẻ đòi
khi trẻ thấy những gì ăn được mà trẻ thích....
Không nên cho trẻ ăn đồ ngọt vào trước bữa ăn chính gây chán ăn.
Chế biến các món ăn hợp khẩu vị với trẻ, hình thức đẹp mắt. gây hứng thú
cho trẻ.
Không nên cho trẻ ăn quá no trước khi đi ngủ, nhất là ban đêm vì gây tiết
dịch tiêu hoá, làm tăng hưng phấn thần kinh, khiến trẻ khó ngủ. Buổi tối chỉ nên
cho trẻ ăn nhẹ các loại trái cây, ăn nhẹ, uống sữa trước khi đi ngủ.
Không nên cho trẻ ăn quá nhiều trong một bữa, trẻ sẽ chán ăn mất ngon, hôm
khác gặp thức ăn ấy trẻ sẽ sợ, chưa kể đến trẻ bị đầy bụng, khó tiêu. Nếu trẻ cần bồi

Nghị quyết số 04-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh đến năm 2020. Ngày
18-8-2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa.
Nhận thức sâu sắc vấn đề này, tôi đã cùng với ban giám hiệu nhà trường.
triển khai mô hình trồng rau sạch phía sau nhà trường, phát động phong trào nhà
nhà trồng ra, tận dụng mọi khoảng đất trống trong gia đình và sân thượng để
trồng rau sạch.
Tuyên truyền đến các bậc phụ huynh về trồng rau sạch để cung cấp cho nhà
trường. Kết quả mùa nào thức ấy rau cải, bắp cải, cải cúc, rau muống đậu
xanh....nhà trường đa phần đều được cung cấp bởi những địa chỉ đáng tin cậy.
15


Nhiều năm qua nhà trường đã đảm bảo tuyệt đối về vệ sinh an toàn thực
phẩm, không để sảy ra ngộ độc thực phẩm và những trường hợp không đảm bảo
về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hình ảnh vườn ra xanh ỏ sau trường.

16


Nhờ có phong trào trồng rau sạch, mà các nguồn cung cấp rau xanh trong
nhà trường đã được đảm bảo, các bữa ăn cho trẻ luôn được đảm bảo rau xanh,
sạch, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ trong các bữa ăn.
* Vệ sinh môi trường.
Vệ sinh sạch sẽ là một trong những vấn đề hết sức quan trọng. Nên nắm
vững vấn đề này tôi đã chỉ đạo giáo viên làm tốt những việc như sau:
- Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt vệ sinh môi trường xung quanh và trong
trường học, khơi thông cống rãnh.
- Quét dọn quanh khu vực sân trường, phát quang cây xanh, bui rậm.

đạo trong việc phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non” thì
kết quả đạt được rất khả quan đề tài được thực hiện với tổng số: 302 trẻ. Kết quả
cụ thể được thực hiện ở bảng sau:
Bảng B
Độ tuổi

Tổng số

Trẻ suy DD
thể nhẹ cân

Tỷ lệ

Trẻ suy DD
thể thấp còi

Tỷ lệ

Nhà trẻ

38

1

2.6%

0

0%


giáo đầu năm là 15 trẻ chiếm tỉ lệ 15/264= 5,7%. Nhưng đến cuối năm còn
11/264 = 4,2%. Giảm 1,5%.Trẻ mẫu giáo kênh bình thường là 253/264= 95,8%.
Với toàn trường, tỷ lệ suy dinh dươgx thể nhẹ cân, đầu năm là 20/302=
6,6%. Cuối năm kết quả là 9/302 = 3% giảm 3,6 %.
- Thể thấp còi đầu năm là 15/302 = 5%, cuối năm kết quả là 11/302 =
3,6%, giảm tỷ lệ 1,4%.
Từ những kết quả nêu trên cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng so với đầu
năm đã giảm đi đáng kể, trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực vào
các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày.
Như vậy trong năm học 2016- 2017 kết quả về chất lượng chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ đã được nâng lên rõ rệt. Đây chính là kết quả một kết quả đạt được rất
cao và khả quan, đáp ứng được nguyện vong của nhà trường và của phụ huynh
học sinh, giúp phụ huynh thêm tin tưởng, gửi gắm con em vào nhà trường.
Từ sáng kiến trên đã giúp trẻ tự tin, tự giác trong việc ăn uống, giúp trẻ ăn
ngon miệng, hào hứng trong các bữa ăn, nhà trường luôn được sạch sẽ, thoáng
đãng, gọn gang. Nhà trường, và gia đình trẻ chú trọng hơn nhiều trong công tác
vệ sinh và an toàn thực phẩm và công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Tỷ lệ trẻ suy
18


dinh dưỡng đã giảm rõ rệt, tất cả các trẻ đều được tăng cân, sức khỏe của trẻ
ngày càng được nâng cao, điều này đã tạo được niềm tin và uy tín với không chỉ
với người dân địa phương mà cả người dân các xã lân cận.
*Bài học kinh nghiệm:
Để bữa ăn của trẻ được cải thiện nâng cao về chất lượng thì việc chế biến
món ăn bữa chính chiều cho trẻ trong trường mầm non là hết sức cần thiết vì bữa
chính chiều giúp bổ xung thêm dinh dưỡng và năng lượng trong ngày cho trẻ.
Giúp trẻ có cơ thể khoẻ mạnh phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, tình cảm
quan hệ xã hội, góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ. để làm được điều
đó cần thực hiện tốt những vấn đề sau:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1

2

3
4

TÊN TÀI LIỆU

NHÀ XUẤT BẢN

Sổ tay hướng dẫn chăm sóc sức
khỏe, vệ sinh trẻ em lứa tuổi mầm NXB Đại học sư phạm
non và bảo vệ quyền trẻ em
Hướng dẫn tổ chức thực hiện
chương trình giáo dục mầm non
(Nhà trẻ 3-36 tháng)
Hướng dẫn tổ chức thực hiện
chương trình giáo dục mầm non
(Nhà trẻ 3-5 tuổi)
Tài liệu BDTX cho giáo viên
giai đoạn 2

NXB Giáo dục

NXB Giáo dục

NĂM

trẻ mầm non 4-5 tuổi đạt hiệu
C
quả cao
2. Một số kinh nghiệm dạy văn
học cho trẻ 4-5 tuổi trong
PGD&ĐT
C
trường mầm non.
3. Một số biện pháp chỉ đạo dạy
kỹ năng sống cho trẻ mầm
PGD&ĐT
C
non.
4. Một số biện pháp chỉ đạo
thực hiện công tác phổ cập
PGD&ĐT
B
cho trẻ 5 tuổi trong trường
mầm non đạt hiệu quả cao.
5. Một số kinh nghiệm chỉ đạo
trong việc phòng chống suy
PGD&ĐT
B
dinh dưỡng cho trẻ ở trường
mầm non

Năm học
đánh giá
xếp loại
2004- 2005

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2

2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng

2–3
3–5

2.3. Các giải pháp thực hiện

5 - 16

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

17-19

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
* Kết luận

19
19

* Kiến nghị

19

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status