SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO
PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ
Ở TRƯỜNG MẦM NON THÀNH SƠN
Người thực hiện: Lê Thị Huệ
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường MN Thành Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA, NĂM 2017
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thực trạng
2.2.2. Kết quả thực trạng
2.3. Các giải pháp tổ chức thực hiện
2.3.1. Xây dựng kế hoạch phòng chống suy dinh dưỡng
7
12
12
14
15
15
16
16
17
18
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là nền tảng là cơ sở ban đầu trong việc hình thành và phát triển
nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Vì lứa tuổi này vốn có một tiềm lực
phát triển mạnh mẽ, nó là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong sự hình thành con
người mới nên hiện nay chúng ta đang nỗ lực phấn đấu dành những gì tốt đẹp nhất
cho trẻ em. Bởi vì những ưu tiên đầu tư cho chăm sóc trẻ em ngay từ những năm
đầu đời có một ý nghĩa sinh học xã hội và nhân văn cực kỳ quan trọng mà mọi đứa
trẻ có quyền được đón nhận, đó là “Quyền được dinh dưỡng tốt nhất” của trẻ em.
Có thể nói rằng, yếu tố giúp trẻ phát triển cân đối, hài hoà hoàn toàn phụ thuộc
vào chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Trong những năm gần đây, hoạt động
chăm sóc giáo dục dinh dưỡng, bảo vệ sức khoẻ cho trẻ trong trường mầm non
không ngừng phát triển. Để đảm bảo công tác phòng chống suy dinh dưỡng được
phát huy theo chiều hướng tích cực, nâng cao chất lượng chăm sóc, phòng chống
suy dinh dưỡng cho trẻ đang là mối quan tâm của toàn xã hội trong giai đoạn hiện
nay. Vì vậy cần phải giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ xuống mức thấp nhất.
Là một Phó Hiệu trưởng được nhà trường phân công phụ trách dinh dưỡng,
1→2%/năm.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp quản lý chỉ đạo cải thiện chế biến nâng cao chất
lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường Mầm non Thành Sơn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra thực trạng.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp tuyên truyền: Phối hợp với các ban ngành liên quan để tuyên
truyền cách phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
“Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng
và protein cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển.
Suy dinh dưỡng làm ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động
của trẻ”.
Nguyên nhân trẻ suy dinh dưỡng là do nuôi trẻ không đúng phương pháp khi
mẹ thiếu hoặc mất sữa, cho trẻ ăn bổ sung không đúng cả về lượng và chất, và đặc
biệt là do các bà mẹ thiếu hiểu biết về kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Các nhà khoa học nghiên cứu và cho biết: Trẻ em ở lứa tuổi mầm non nhu cầu
về dinh dưõng và nhu cầu về hoạt động của trẻ là rất cao. Hơn thế nữa cơ thể trẻ là
cơ thể đang phát triển, tính theo cân nặng ở trẻ nhỏ cân từ 100 – 120kcal cân
nặng/ngày. Nhưng ở người lớn chỉ cần 100kcal cân nặng/ngày. Nhu cầu về dinh
dưỡng cho trẻ đòi hỏi phải đảm bảo đầy đủ các chất và cân đối phối hợp, hợp lý đủ
4 nhóm thực phẩm trong mỗi bữa [1].
Một trong những vấn đề dinh dưỡng trẻ em là thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng
cho sự phát triển của trẻ về thể chất và tinh thần, cho đến nay vấn đề dinh dưỡng của
trẻ em chưa được giải quyết đầy đủ. Trẻ em cần dinh dưỡng phát triển thể lực, trí
tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì và phát huy sự sống để làm việc, cống hiến
cho xã hội. Nếu trẻ không được nuôi dưỡng tốt sẽ chậm lớn, còi cọc, chậm phát triển
thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non.
Sự quan tâm của các cấp, các ngành lãnh đạo địa phương và sự ủng hộ nhiệt
tình của các bậc phụ huynh đối với việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình, yêu nghề mến
trẻ có trách nhiệm cao trong công việc, có tinh thần đoàn kết, đồng lòng, đồng sức
thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ của năm học 2016 - 2017.
Xã Thành Sơn có vườn rau sạch, có lò giết mổ lại gần chợ Co Lương (Mai
Châu – Hòa Bình) nên việc mua bán rất thuận tiện; có trang thiết bị tương đối đảm
bảo theo yêu cầu của giáo dục. Phó hiệu trưởng phụ trách dinh dưỡng và giáo viên
phụ trách dinh dưỡng nắm vững quy trình lựa chọn, chế biến thực phẩm cho trẻ.
Cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng khang trang, công trình vệ sinh,
nguồn nước đã được đảm bảo cho trẻ sử dụng, đồ dùng học tập cũng như đồ dùng
phục vụ bán trú cho trẻ được trang bị đầy đủ.
Với sự quản lý chặt chẽ cùng việc làm tốt công tác tham mưu của ban giám
hiệu nhà trường, đã vận động được sự ủng hộ của các ban ngành đoàn thể, hội cha
mẹ học sinh trong việc dồn trẻ từ điểm trường lẻ về điểm trường chính để nuôi ăn
bán trú và chia lớp theo độ tuổi dễ dàng trong việc dạy và học cũng như việc đầu tư
về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Trong quá trình quản lý nuôi dưỡng đã được tập thể cán bộ giáo viên, lãnh
đạo địa phương và đặc biệt là các bậc phụ huynh tin tưởng giúp đỡ, tạo điều kiện
để đầu tư vào công tác nuôi dưỡng.
- Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên nhà trường vẫn còn gặp không ít những
khó khăn: Do điều kiện kinh tế của xã còn gặp nhiều khó khăn nên việc đầu tư cơ
sở vật chất phục vụ cho chăm sóc nuôi dưỡng còn hạn chế như: Bếp chưa đảm bảo
quy trình bếp một chiều, chưa có nhà kho chứa các đồ dùng, dụng cụ.
3
Một số giáo viên mới vào ngành nên việc chăm sóc, vệ sinh dinh dưỡng cho
178
Tỉ lệ
%
85
Kênh suy
dinh
dưỡng
Số Tỉ lệ
trẻ
%
31
15
Chiều cao
bình
thường
Số
Tỉ lệ
trẻ
%
175
84
Kênh thấp
còi
Số
trẻ
34
4
đổi thực đơn theo mùa, theo tuần để trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất tăng sự tiêu
hoá, hấp thu, giúp trẻ phát triển tốt góp phần giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng.
Căn cứ vào nhu cầu năng lượng của từng độ tuổi để xây dựng khẩu phần ăn cho
phù hợp. Khẩu phần ăn hàng ngày phải đủ về số lượng và cân đối về chất lượng,
cân đối giữa các chất sinh ra năng lượng (chất đạm, chất bột đường, chất béo,
vitamin và muối khoáng), cân đối giữa thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật.
Nhà trường phối hợp với gia đình cho trẻ ăn đủ bữa, ăn phù hợp theo tháng
tuổi, chia thành nhiều bữa ăn để cung cấp đủ năng lượng, bổ sung dầu mỡ trong
các bữa ăn. Ưu tiên các thức ăn chứa nhiều chất đạm như: Thịt gà, trứng...thay đổi
thức ăn thường xuyên để kích thích trẻ ăn ngon miệng, ăn rau xanh và các loại quả
chín để giúp trẻ phát triển cân đối. Nhà trường phối hợp với gia đình để có thực
đơn phù hợp, đảm bảo đủ chất, đủ dinh dưỡng cho trẻ.
Ví dụ:
+ 7h: Ăn cháo;
+ 11h: Ăn cơm + Thịt (cá, trứng, tôm...) + Canh rau;
+ 14h: Ăn cháo + Thịt, rau, dầu ăn;
+ 18h: Ăn cơm + Trứng (cá, tôm, cua...) + canh rau;
+ 21h: Uống sữa.
Ngoài ra, phụ huynh nên cho trẻ ăn thêm các loại quả chín theo nhu cầu của
trẻ; tìm ra các nguyên nhân trẻ suy dinh dưỡng để có biện pháp cụ thể, phù hợp với
mỗi trẻ suy dinh dưỡng. Nhà trường phối hợp với phụ huynh tăng khẩu phần ăn,
đảm bảo chế độ ăn cho những trẻ suy dinh dưỡng để hạ số trẻ bị suy dinh dưỡng
xuống mức thấp nhất có thể.
Chỉ đạo giáo viên ở các nhóm lớp tổ chức bữa ăn, động viên khuyến khích trẻ
ăn hết xuất, ăn không làm rơi vãi thức ăn. Đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc về
tinh thần, tạo bầu không khí đầm ấm giúp trẻ có cảm giác như bữa ăn tại gia đình,
trẻ ăn ngon miệng.
sinh an toàn thực phẩm.
- Mua rau, quả tươi không bị dập nát.
- Thịt cá phải qua kiểm dịch động vật.
- Sản phẩm thực phẩm ăn ngay phải được đóng gói kín có nhãn mác rõ ràng,
còn thời hạn sử dụng.
Cách chế biến món ăn phù hợp theo từng độ tuổi, chế biến đúng kỹ thuật biết
bảo tồn dinh dưỡng trong quá trình chế biến. Cụ thể:
- Thức ăn của trẻ cần chế biến nhỏ, nhừ, thơm ngon, đẹp mắt.
- Kết hợp nhiều loại thực phẩm để nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn, tạo
món ăn đa dạng về màu sắc, mùi vị để kích thích trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất.
- Kết hợp nhiều loại thực phẩm để nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn,
tạo món ăn đa dạng về màu sắc, mùi vị để kích thích trẻ ăn ngon miệng, ăn hết
định lượng, tạo điều kiện cho sự tiêu hoá thức ăn tốt.
Cách bảo quản thực phẩm và lưu mẫu thức ăn:
- Thức ăn phải được nấu chín kĩ, đảm bảo nhiệt độ cao, chín đều. Bảo quản
cẩn thận thức ăn đã nấu chín. Thức ăn chưa ăn phải được bảo quản che đậy kĩ và
phải giữ trong tủ lạnh.
- Thức ăn trong ngày phải được lưu mẫu trong suốt 24h trong tủ lạnh với nhiệt
độ là 50C, nếu không có ngộ độc thực phẩm xảy ra mới được hủy [3].
- Có sổ lưu mẫu thực phẩm và sổ kiểm định 3 bước.
Cách tổ chức bữa ăn, làm sao cho trẻ được ăn ngon miệng, ăn hết xuất để đảm
bảo cả số lượng và chất lượng được nhằm phát triển toàn diện cho trẻ.
6
(Các cháu lớp 5 tuổi trường MN Thành Sơn đang trong giờ ăn trưa)
Cách tổ chức giấc ngủ cho trẻ làm sao cho trẻ ngủ đúng giờ, đủ giấc để trẻ
được phát triển bình thường, khoẻ mạnh.
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG MẦM NON THÀNH SƠN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THỰC ĐƠN TUẦN TỪ NGÀY 13/02/2017 ĐẾN NGÀY 17/02/2017
THỨ
------------------------NGÀY THÁNG
THỨ HAI
13-02-2017
BỮA SÁNG
Nhà trẻ:
Mẫu giáo:
Nhà trẻ:
THỨ BA
14-02-2017
Mẫu giáo:
THỨ TƯ
15-02-2017
Nhà trẻ:
Mẫu giáo:
Mẫu giáo:
Nhà trẻ:
Nhà trẻ: Cơm tẻ - Cá sốt cà chua - Canh rau ngót nấu thịt
Nhà trẻ:
Mẫu giáo:
Mẫu giáo: Cơm tẻ - Cá sốt cà chua - Canh rau ngót nấu thịt
Mẫu giáo:
BỮA PHỤ
Nhà trẻ: Xôi lạc
Mẫu giáo: Xôi lạc
Nhà trẻ: Cháo đậu xanh hầm xương
Mẫu giáo: Cháo đậu xanh hầm
xương
Nhà trẻ: Sữa đặc có đường
Mẫu giáo: Sữa đặc có đường
Nhà trẻ: Cháo thịt băm
Mẫu giáo: Cháo thịt băm
Nhà trẻ: Bún bò
Mẫu giáo: Bún bò
NGƯỜI LẬP BIỂU
mỡ
Số xuất mẫu giáo: 92
THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG
TỔNG
LƯỢNG
[gam]
QUY ĐỔI
[gam]
6.300,00
6.174,00
110.000
693.000
1.018,7
1
0,00
1.327,4
1
ĐƠN GIÁ
0,00
0,00
0,00
6.279,00
0,00
0,00
0,00
0,00
5,24
136,6
2
104,88
10.369,4
6
1,57
13,6
6
524,40
920,00
50.000
46.000
0,00
0,00
0,00
4
Cà chua
2,76
82.800
0,00
13,80
14.000
193.200
0,00
30.000
27.600
65,32
0,00
0,00
0,00
0,00
6,08
6.080,00
5.472,00
5.000
30.400
0,00
142,27
0,00
9.411,8
4
409,20
354,10
334,90
13.000
12,20
13,40
14,60
9,10
115,20
27.44%
59.32%
0,00
7
8
Rau láo nháo (rau
0,00
0,00
2
0,00
B1
2
Dầu thực vật
0,30
300,00
300,00
50.000
15.000
0,00
0,00
0,00
520,00
494,00
30.000
15.600
0,00
2,96
0,00
0,99
46.997,28
0,00
257,60
3,28
1.039,68
0,03
296,67
19,76
59,28
0,30
98,80
10
5
Gạo tẻ máy
2,80
2.800,00
2.772,00
14.000
39.200
0,00
218,99
0,00
0,00
0,00
0,00
0,00
0,00
67,20
1,36
1.360,00
1.224,00
5.000
6.800
0,00
31,82
0,00
0,00
0,01
53,94
301,67
286,65
12.000,00
11,94
10,57
14,31
13,66
89,61
172,59
0,51
700,29
35.94%
51.18%
tính khẩu phần ăn cho trẻ tôi luôn cố gắng để chế biến được những món ăn ngon,
hấp dẫn để khi ăn trẻ cảm thấy ngon miệng và ăn hết xuất.
Để làm được điều đó tôi luôn phối hợp chặt chẽ với cô nuôi, các giáo viên
trên lớp để động viên trẻ ăn ngon hết xuất, qua đó chúng tôi còn lồng ghép giáo
dục về dinh dưỡng cho trẻ thông qua các món ăn.
Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng chăm sóc trẻ ăn các cô giáo chuẩn
bị giờ ăn cho trẻ phải đảm bảo yều cầu sau:
Chuẩn bị bàn ăn phải sạch sẽ, gọn gàng, đủ cho trẻ ngồi, trên bàn phải có đĩa
đựng cơm rơi, khăn ẩm để lau tay, thìa, tô phải đủ so với trẻ.
Khi cho trẻ ăn cô cần chú ý đến những trẻ biếng ăn để động viên cháu ăn hết suất.
Thông qua giờ ăn các cô giáo dục cho trẻ phát triển về nhận thức, ngôn ngữ.
Ví dụ: Về nhận thức giúp trẻ nhận biết được những thức ăn như thịt, cá,
trứng; trẻ ăn sạch, uống sạch.
Về ngôn ngữ: Trẻ biết kể tên các thực phẩm mà trẻ được ăn như: Thịt, cá, trứng , ...
Thông qua các môn học lồng ghép và giáo dục dinh dưỡng, ví dụ cho trẻ đi tham
quan vườn trường, các cô giới thiệu cho trẻ biết lợi ích của từng loại cây ăn quả.
Thông qua giờ ăn, các cô giáo giới thiệu cho trẻ biết hôm nay có những món gì.
Ví dụ: Ăn thịt thì trẻ biết được thịt cung cấp cho cơ thế chất gì?
Kiểm tra sức khỏe cho trẻ, để bổ sung chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng. Nhà
trường đã rèn cho trẻ thói quen tự chăm sóc bản thân bằng cách tự tuyên truyền
trong bữa ăn.
Ví dụ: Hôm nay lớp mình ăn cơm với những thức ăn nào? Có ngon không?
Bạn nào ăn giỏi? Từ những biện pháp nhỏ này đã giúp trẻ cố gắng ăn hết suất.
Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng qua các hoạt động:
Chúng tôi lên kế hoạch cho các giáo viên đưa giáo dục dinh dưỡng vào các
hoạt động, đây là vấn đề quan trọng bởi trẻ thường xuyên được chơi mà học.
Ví dụ: Hoạt động làm quen với chữ cái gây hứng thú cho trẻ giáo viên có thể
đọc đồng dao, hò, vè về các loaị rau, quả ở chủ đề thế giới thực vật.
Giáo viên có thể lồng ghép giáo dục dinh dưỡng:
Ví dụ: Trong giờ đón – trả trẻ là thời gian thuận lợi trong việc tuyên truyền,
Tăng cường phối hợp với hội phụ huynh của các nhóm lớp đến kiểm tra định
kỳ đầu tháng hoặc đột xuất trong tháng. Kiểm tra khâu cung ứng đến sơ chế và chế
biến thực phẩm đến khẩu phần ăn của trẻ. Quan sát bữa ăn của trẻ, cùng chăm sóc
trẻ theo đúng khoa học. Song song với những công việc trên, nhà trường tổ chức
hội thi nấu ăn được phụ huynh ủng hộ nhiệt tình. Cuộc thi thể hiện kết quả quản lý
và thực hành về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm rất tốt.
Phối hợp với các chi hội phụ nữ ở các thôn đưa ra các nội dung có liên quan
đến vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thông qua các ngày lễ như ngày 08/03, ngày
20/10 để chị em tìm hiểu, học hỏi, rút kinh nghiệm.
Thường xuyên xây dựng góc tuyên truyền tại các nhóm lớp như: “Những
điều phụ huynh cần biết”, “Bé thích ăn gì”,... để giúp cho cha mẹ trẻ nắm được
những thông tin cần thiết và từ đó thực hiện tốt nội quy của nhà trường như: cho
trẻ ăn ngủ đúng giờ giấc, không cho trẻ mang quà bánh đến lớp. Hướng cho giáo
viên lồng ghép giáo dục dinh dưỡng vào các hoạt động như: Làm quen văn học,
Khám phá khoa học, Thể dục, Giáo dục Âm nhạc,... thể hiện rõ nhất vào hoạt động
vui chơi của trẻ chính là hoạt động “bé tập làm nội trợ”, giáo viên dạy trẻ biết sử
dụng thành thạo các đồ dùng dụng cụ như dao, thớt, cốc, chén,... thông qua trò
chơi bé tập làm nội chợ. Hàng ngày phải công khai tài chính cho các bậc phụ
huynh được biết và giám sát. Phối hợp với phụ huynh để mua thực phẩm do chính
phụ huynh trồng và chăn nuôi, chế biến ra để phụ huynh yên tâm về chất lượng.
Giáo viên thông báo và trao đổi trực tiếp cho phụ huynh biết tình hình sức
khoẻ của trẻ qua các cuộc họp, qua các buổi đưa đón trẻ, từ đó giúp cho giáo viên
và phụ huynh cùng nắm và hiểu được đặc điểm, cá tính của từng trẻ để có biện
pháp uốn nắn kịp thời và ủng hộ nhà trường trong công tác phòng chống suy dinh
dưỡng cho trẻ.
13
(Góc tuyên truyền với phụ huynh của nhóm 25-36 tháng Trường MN Thành Sơn).
lý (học trực tuyến) tôi thấy rất cần thiết và bổ ít, tôi đã áp dụng ngày vào việc quản
lý chỉ đạo chuyên môn, cũng như tìm hiểu qua tài liệu do phòng cung cấp và mua
thêm sách về cách chế biến các món ăn cho trẻ dưới 6 tuổi để vận dụng vào tình
hình thực tế của nhà trường. Trường Thành Sơn cách xa trung tâm huyện nên thức
ăn chủ yếu khai thác từ địa phương, để thay đổi khẩu phần ăn cho trẻ là một điều
rất khó đối với trường chúng tôi. Nhưng bằng lòng tâm huyết với công việc của
mình phụ trách tôi liên hệ với người bán hàng, để đặt hàng theo mùa theo thực đơn
mà tôi đã xây dựng. Để xây dựng một thực đơn mẫu cũng như tính khẩu phần ăn
cân đối các chất cho trẻ, tôi đã được nhà trường cũng như Phòng Giáo dục và Đào
tạo huyện Quan Hóa quan tâm nên việc xây dựng và tính khẩu phần ăn cho trẻ, đối
với tôi là rất tốt vì được sử dụng trên phần mềm quản lý năm nay là năm thứ 6. Từ
phần mềm quản lý này giúp tôi học hỏi được rất nhiều và bớt đi thời gian làm việc,
như cân đối các chất dinh dưỡng và tính khẩu phần ăn cho trẻ, thời gian còn lại tôi
tự tìm tòi để đưa ra những biện pháp tốt nhất, chế biến được những món ăn hấp
dẫn đối với trẻ đồng thời phải đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng cung cấp cho trẻ
hoạt động.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Do đổi mới kịp thời về công tác quản lý chỉ đạo, đổi mới công tác chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho công tác nuôi dưỡng mà năm học
2014 – 2015, năm học 2015 – 2016 và năm học 2016 - 2017 số trẻ suy dinh dưỡng
đã giảm dần, tạo được lòng tin của các bậc phụ huynh đối với chất lượng chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ của nhà trường, chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đã được nâng
lên rõ rệt. Cụ thể:
Tình trạng
Số trẻ cân nặng bình thường
Số trẻ suy dinh dưỡng
Số trẻ chiều cao bình thường
Số trẻ thấp còi
Đầu năm Tỷ lệ % Học kỳ I Tỷ lệ %
98,5
1,5
97,6
2,4
15
Trong năm không xảy ra bất kì trường hợp ngộ độc thực phẩm nào ở nhà
trường. Thể lực trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹ, linh hoạt tinh thần thoải mái, hoạt bát
năng động tích cực tham gia các hoạt động chơi, hoạt động học.
Một trong những nội dung giúp trẻ có được các điều kiện trên đó là do công
tác chỉ đạo sát sao của cán bộ quản lý và sự nhiệt tình của đội ngũ cán bộ giáo viên
nhân viên trong trường mầm non nhận thức được tầm quan trọng của công tác
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, phải nhận rõ được trách nhiệm của mình là đảm bảo
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khoẻ mạnh và an toàn.
Tăng cường mối quan hệ giữa phụ huynh trẻ và nhà trường giúp cho các bậc
phụ huynh nắm được những phương pháp chăm sóc nuôi dạy trẻ một cách khoa
học. Vì vậy mà chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường đã được nâng lên
một bước, chất lượng bữa ăn hàng ngày của trẻ cũng được nâng lên, đảm bảo định
lượng khẩu phần ăn, nên tỷ lệ trẻ SDD giảm hơn so với năm học trước. Quy trình
hợp đồng thực phẩm, chế biến, chia ăn, lưu mẫu thức ăn, công tác bảo vệ trẻ được
thực hiện nghiêm túc. Nhà trường đã tổ chức cân đo cho 100% số trẻ đi học.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Qua một năm nghiên cứu và thực hiện, bản thân đã rút ra một số kinh nghiệm
trong quá trình quản lý, chỉ đạo thực hiện phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở
trường mầm non như sau:
Cần thiết lập hồ sơ quản lí chế độ ăn cho trẻ chặt chẽ, có sự thống nhất phù
hợp với tình hình thực tế của nhà trường.
Trên đây là một số kinh nghiệm phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mà tôi
đã áp dụng thấy có hiệu quả, tôi xin được mạnh dạn trình bày ra đây để các bạn
đồng nghiệp cùng tham khảo. Những kết quả gặt hái được mới chỉ là bước đầu. Rất
mong sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để tôi rút ra những kinh nghiệm bổ ích
trong quá trình quản lý và để sáng kiến ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần nhỏ
vào phong trào chung trong sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ hiện nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Quan Hóa, ngày 05 tháng 4 năm 2017
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT
Lê Thị Huệ
17
PHỤ LỤC
Tài liệu tham khảo:
[1]. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên (Vụ giáo dục Mầm non)
[2]. Sách hướng dẫn chăm sóc sức khỏe vệ sinh trẻ em lứa tuổi Mầm non (Đại
học sư phạm)
[3]. Một số biện pháp phòng tránh ngộ đọc thức ăn (Trung tâm y tế dự phòng)
[4]. Kế hoạch phòng, chống phục hồi trẻ suy dinh dưỡng (kế hoạch)
18
Phòng
GD&ĐT
C
2012 – 2013
2.
Giải pháp nâng cao chất lượng
bữa ăn và phòng chống suy
dinh dưỡng cho trẻ ở trường
MN
Phòng
GD&ĐT
B
2013 – 2014
3.
Một số biện pháp nâng cao chất
lượng giáo dục ở trường MN
Phòng
GD&ĐT
B