SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỮA ĂN
VÀ PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ
TRONG TRƯỜNG MẦM NON NGA THẠCH
HUYỆN NGA SƠN - TỈNH THANH HÓA
Người thực hiện: Phạm Thị Hằng
Chức vụ: P. Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Thạch
Huyện Nga Sơn – Tỉnh Thanh Hóa
SKKN lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA NĂM 2019
MỤC LỤC
Tên đề mục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
6
7
8
12
13
16
18
18
18
19
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Sinh thời Bác Hồ kính yêu đã từng nói !
“Trẻ em như búp trên cành.
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”[1].
Thật vậy, đó là điều ai ai cũng mong muốn. Trẻ em là thế hệ tương lai của
đất nước. Sự quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ngay từ nhỏ, sẽ tạo ra
một đứa trẻ khoẻ mạnh, hồn nhiên “Ăn ngon,ngủ ngoan, tích cực hoạt động”[2].
Đây là nền tảng quan trọng để trẻ phát triển toàn diện nhân cách.Các cháu đến
trường được cân đo khám sức khoẻ định kỳ, có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp
lý theo đúng độ tuổi để phát triển toàn diện. Cụ thể của các mục tiêu đó là phát
triển ở trẻ thể lực đúng yêu cầu chuẩn độ tuổi, hình thành ở trẻ các khả năng ban
đầu về nhân cách con người và phát triển toàn diện các mặt giáo dục.
“Trong các mặt giáo dục trên thì giáo dục thể chất cho trẻ là nhiệm vụ
hàng đầu, quan trọng nhất, vì sức khoẻ là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa sống
còn với con người, đặc biệt đối với trẻ mầm non. Ở lứa tuổi này cơ thể của trẻ
còn non nớt chưa chủ động được, chưa có ý thức đầy đủ về dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm, nếu dinh dưỡng không đảm bảo được chất lượng thì rất
trường mầm non. Vì vậy việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non vẫn luôn được quan tâm và chú trọng. Để có món ăn ngon,
đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng một cách an toàn, hợp lý không phải là đơn
giản, nhất là bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non. Xuất phát từ nhận thức trên
bản thân tôi là một cán bộ quản lí phụ trách công tác nuôi dưỡng, chăm sóc sức
khỏe cho trẻ. Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non Nga
Thạch - Huyện Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ những lý do đã trình bày ở trên tôi viết sáng kiến này
nhằm trao đổi một số kinh nghiệm của bản thân, giúp các đồng chí tìm ra cách
chế biến món ăn phong phú hơn, hấp dẫn hơn, mùi vị thơm ngon hơn và phối
hợp được nhiều loại thực phẩm sẵn có ở địa phương. Đảm bảo cho trẻ có được
nguồn dinh dưỡng hợp lý, giữ được vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống
suy dinh dưỡng cho trẻ. Giúp cho trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất và cơ thể của
trẻ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cần thiết.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng áp dụng sáng kiến này là đội ngũ giáo viên, tất cả các cháu học
sinh trong trường mầm non Nga Thạch - Huyện Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện sáng kiến này tôi đã sử dụng một số phương
pháp cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu: (Đọc, tìm hiểu các loại tài liệu có liên quan
và nghiên cứu tình hình thực tế …)
-Phương pháp thực hành:(Mang ý tưởng, sáng kiến vào thực hành
trong thực tế để đánh giá và tích lũy kinh nghiệm…).
- Phương pháp quan sát: (Dùng quan sát, khả năng thực hiện…) và một
số phương pháp khác.
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
trong bữa ăn của trẻ. Vì vậy để chế biến được những món ăn phong phú, hấp dẫn
đạt tiêu chuẩn phải đòi hỏi các cô nuôi luôn luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá ra
các món mới, ăn ngon và hấp dẫn để chế biến cho trẻ ăn tại trường. Bên cạnh đó
phải tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh về công tác chăm sóc, giáo dục
và nuôi dưỡng trẻ.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Để tiến hành thực hiện nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong
trường mầm non tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau:
* Những thuận lợi:
Nhà bếp được đầu tư xây dựng theo quy trình bếp một chiều thuận lợi
cho việc giao nhận thực phẩm cũng như chế biến món ăn.
Ngoài cơ sở vật chất, 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường
được tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm và được cấp giấy xác nhận kiến
thức. Đội ngũ cô nuôi có lòng nhiệt tình, tự giác và có ý thức trách
nhiệm, thường xuyên tìm hiểu và tham khảo tài liệu để nâng cao trình độ, chăm
sóc, nuôi dưỡng và chế biến thức ăn cho trẻ.
Căn cứ vào thực tế bữa ăn của trẻ với mức đóng góp của phuynh là
15.000đồng/1 trẻ/1 ngày. Trẻ ăn tại trường, đối với trẻ mẫu giáo một bữa chính
và một bữa phụ, trẻ nhà trẻ hai bữa chính và một bữa phụ.
Được sự tin tưởng và ủng hộ kịp thời của các bậc phụ huynh lên tỷ lệ trẻ
ăn bán trú tại trường đạt 100%.
* Khó khăn:
Cô nuôi đa phần tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều trong việc chăm
sóc nuôi dưỡng trẻ.
Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện mua sắm trang thiết bị phục vụ
cho khâu nuôi dưỡng nhưng vẫn còn một số đồ dùng chưa đảm bảo và đúng quy
cách.
3
cho trẻ. Vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên làm tốt việc nâng cao chất lượng bữa ăn
cho trẻ tại trường mầm non. Cụ thể như sau:
2.3.1. Tích cực tham mưu với Ban giám hiệu, xây dựng thực đơn giàu
dinh dưỡng cho trẻ.
Nói về tầm quan trọng của việc xây dựng thực đơn. Để nâng cao được
chất lượng bữa ăn, trước hết cần phải tham khảo món ăn, kết hợp cùng kế toán
xây dựng thực đơn sao cho đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm đảm bảo về lượng và
chất. Bên cạnh đó, cần phải biết kết hợp nhiều loại thực phẩm đa dạng phong
phú tạo sự hấp dẫn. Sau đây là 1 số thực đơn tôi xây dựng:
Xây dựng thực đơn 1 tuần cho trẻ. (Kèm theo phụ lục 3)
- Thực đơn xây dựng 1 tuần cho trẻ Mẫu giáo (Kèm theo phụ lục 3.1)
- Thực đơn xây dựng 1 tuần cho trẻ Nhà trẻ (Kèm theo phụ lục 3.2)
Nhận thức được tầm quan trọng chăm sóc dinh dưỡng của trẻ, cùng với
4
lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm cao ngay từ đầu năm học tôi đã nghiên cứu
thực đơn của nhà trường. Bên cạnh đó, tôi cũng tham mưu phối hợp cùng với
hiệu trưởng, kế toán nhà trường xây dựng thực đơn của trẻ hợp lý, thay đổi theo
ngày, tuần, phù hợp theo mùa, cân đối về dinh dưỡng. Nghĩa là phải đủ chất, đủ
lượng, cân đối giữa thức ăn động vật và thực vật, đảm bảo tỷ lệ các chất đầy đủ
4 nhóm thực phẩm sau:
- Nhóm cung cấp chất đạm như: Thịt, cá, tôm, cua, các loại đỗ hạt, đậu
tương giúp xây dựng cơ bắp tạo kháng thể đặc biệt là sự phát triển của các tế bào.
- Nhóm cung cấp chất béo (Lipit) như: Dầu, mỡ, lạc, vừng, nhóm vừa
cung cấp năng lượng cao vừa làm tăng cảm giác ngon miệng giúp trẻ hấp thu sử
dụng tốt các Vitamin trong chất béo như Vitamin A, D, B, K…
- Nhóm cung cấp Vitamin và khoáng chất như: Rau quả đặc biệt các loại
rau có màu xanh thẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, mồng tơi…và
các loại quả có màu đỏ hoặc vàng như chuối, đu đủ, xoài chín, cam, cà chua,
- Lạc vừng rang - Ruốc cá thu.
- Bún thịt gà.
4
- Canh ngao rau vặt.
- Uống sữa GowIQ
- Giá xào tim cật.
- Thịt rim trứng.
- Cháo ngao.
5
- Canh rau ngót nấu thịt.
- Uống sữa GowIQ
- Lươn xào đậu phụ.
Nhà trường đã áp dụng một số thực đơn của tôi xây dựng, luôn luôn thay
đổi theo mùa, theo tuần. Nhờ vậy, bữa ăn của trẻ hàng ngày luôn đa dạng nguồn
thực phẩm tươi ngon, an toàn, đáp ứng với yêu cầu bữa ăn của trẻ phải đảm bảo
5
và đa dạng các loại thực phẩm.Vì mỗi loại thực phẩm cung cấp một số chất dinh
dưỡng, nếu ta chế biến hỗn hợp nhiều loại thực phẩm thì ta sẽ có thêm nhiều
chất dinh dưỡng và các chất sẽ bổ sung cho nhau để tạo cho trẻ có một bữa ăn
ngon cân đối, đủ chất và đảm bảo.
Đồng thời, Khi xây dựng thực đơn trong bữa ăn của trẻ cần phải cân
đối: Cơ thể có đủ các chất dinh dưỡng, đủ năng lượng để duy trì sự phát triển,
vui chơi, giải trí phải nhờ có một khẩu phần ăn cân đối, điều độ và đảm bảo chế
độ dinh dưỡng. Trẻ em chỉ cần ăn đủ chất và hoạt động, vui chơi đều đặn sẽ phát
triển bình thường. Nếu ăn nhiều mà không hoạt động dẫn đến thừa năng lượng
sẽ gây béo phì. Nhưng nếu để trẻ ăn không đủ chất, đủ lượng trẻ sẽ mệt mỏi,
hoạt động kém và dẫn đến suy dinh dưỡng.
giảm lượng dinh dưỡng và sinh ra những chất có hại gây ngộ độc thức ăn.
Cùng với sự bùng nổ về CNTT, các kiến thức về dinh dưỡng, nội trợ nuôi
6
dưỡng cũng được phổ biến rộng rãi trên mạng Internet. Tôi tìm hiểu từ bạn bè,
đồng nghiệp các địa chỉ trang Wed liên quan đến công việc chuyên môn của
mình, thường xuyên truy cập mạng để tìm kiếm, cập nhật những công thức, kỹ
thuật chế biến những món ăn mới như: Tôm xào súp lơ nấm hương….
Sau khi học hỏi kinh nghiệm tôi luôn ghi chép cẩn thận và lưu giữ những
công thức chế biến, các bí quyết nấu ăn, các phương pháp kết hợp dinh dưỡng
có lợi cho sức khoẻ của trẻ như: Chế độ dinh dưỡng họp lý giúp trẻ phát triển
chiều cao “Những thực phẩm an toàn cho bé” dưỡng chất cho sự phát triển của
trẻ, cho trẻ ăn nhiều hải sản để phòng thiếu máu, thiếu sắt, 6 nguyên tắc cơ bản
để có 1 chế độ ăn tốt nhất cho bé. Dầu gấc cà rốt, đu đủ - tốt hay xấu đối với trẻ
em? Phối hợp thức ăn để bé có bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng… một cách có hệ
thống trong sổ tay “Cẩm nang dinh dưỡng” và sử dụng thường xuyên khi thực
hiện công việc.
VD: - Dầu gấc: có chứa các vi chất rất cần thiết cho trẻ như Vitamin E,
chất béo thực vât, sắt, kẽm..giúp trẻ phát triển hệ thần kinh, sáng mắt, khỏe…
- Cà rốt: không chỉ chứa nguồn dinh dưỡng quý giá như vitaminA,
khoáng chất, các loại tinh dầu của các axit béo… Cà rốt còn ngăn ngừa một số
bệnh nguy hiểm như tim mạch, tăng cường thị lực cho trẻ vv…
Chính vì vậy công việc quản lý chỉ đạo tổ nuôi chế biến các món ăn ngày
càng đạt hiệu quả cao hơn, chất lượng bữa ăn cũng được nâng lên rõ rệt.
* Nâng cao trình độ cho giáo viên nuôi:
Các cô trong tổ nuôi dưỡng phải có kỹ năng chế biến các món ăn cho
trẻ mầm non, có như vậy khi chế biến các cô mới thực hiện nghiêm túc thực đơn
đã đề ra. Đảm bảo thường xuyên thay đổi các món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn
hết xuất. Các cô trong tổ nuôi dưỡng phải biết tính khẩu phần ăn cho trẻ, để biết
các chất dinh dưỡng cần thiết theo nhu cầu cơ thể.
- Cân đối về năng lượng: Năng lượng chủ yếu là do 3 chất Protein,
Lipit, Gluxit. Trong khẩu phần ăn tỷ lệ của 3 chất này phải thích hợp, nên có tỷ
lệ 1:1:5.
- Cân đối về Protein: Xác định tỷ lệ % giữa Prôtêin động vật với
Protein thực vật để đánh giá mức độ, thông thường Protein động vật ở trẻ em là
50 - 60%.
- Cân đối về Lipit: Tỷ lệ Lipit động vật và tỷ lệ Lipit thực vật đối với trẻ
em là 50/50%.
- Cân đối về Gluxit: Trong khẩu phần ăn của trẻ Gluxit là thành phần
cung cấp năng lượng chủ yếu, vì Gluxit có giá thành rẻ nhất đồng thời lại có số
lượng nhiều nhất.
- Cân đối về Vitamin: Vitamin tham gia vào chuyển hóa trao đổi chất
trong cơ thể, vì vậy phải cung cấp đủ các Vitamin. Nếu thiếu Vitamin trong khẩu
phần ăn sẽ làm rối loạn quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng cung như trao đổi
chất trong cơ thể.
- Cân đối về chất khoáng: Các chất khoáng trong khẩu phần giữ vai trò
cân bằng để duy trì tính ổn định. Muốn có khẩu phần ăn cân đối cho trẻ cần phối
hợp nhiều loại thực phẩm với nhau và đảm bảo đủ lượng theo lứa tuổi.
2.3. 4: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe
vào các hoạt động học và các hoạt động trong ngày của trẻ tại trường mầm
non.
Lồng ghép chuyên đề về dinh dưỡng, sức khỏe vào hoạt động các hoạt
động trong ngày của trẻ. Xây vườn cây cho bé tại lớp để trẻ tiếp xúc với thiên
nhiên, thông qua đó nhằm giúp trẻ được trải nghiệm với thực tế trong sinh hoạt
cũng qua đó nhằm giúp trẻ có sức khỏe và thể lực tốt để vận động và phát triển
tốt về mọi mặt.
* Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào các
hoạt động học
Tôi chỉ đạo giáo viên khéo léo, linh hoạt lồng ghép các nội dung giáo dục
xuyên được học và chơi, được thực hành chế biến các món ăn sẽ tạo cho trẻ sự
hứng thú vào hoạt động và kích thích trẻ thích ăn nhiều món ăn, nhiều loại thực
phẩm khác nhau.
- Trong hoạt động đón - trả trẻ giáo viên có thể tích hợp lồng ghép giáo
dục dinh dưỡng.
VD: Giáo viên có thể tuyên truyền, giáo dục cho cha, mẹ trẻ bằng cách
hỏi thăm cha, mẹ trẻ về chế độ ăn uống hàng ngày của trẻ ở nhà và hỏi cha, mẹ
trẻ xem ở nhà trẻ thường được ăn cơm với những loại thức ăn gì?
Giáo viên cần giải thích cho trẻ thấy được giá trị của từng loại thức
ăn thông qua các giờ vui chơi và hoạt động hàng ngày. Giúp trẻ biết được khi ăn
uống đầy đủ chất con người sẽ trở lên khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, thông minh
học giỏi. Nếu không ăn uống đầy đủ chất con người sẽ bị ốm yếu, gầy còm ...
Vấn đề bảo vệ môi trường sạch sẽ trong và ngoài lớp học cũng chính là
bảo vệ sức khỏe trẻ em. Vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên vệ sinh phòng lớp sạch
sẽ, thông thoáng, khô ráo, khơi thông cống rãnh ... trước khi đón trả trẻ, điều đó
cũng góp phần giúp trẻ khỏe mạnh.
- Chỉ đạo giáo viên tích hợp lồng ghép giáo dục dinh dưỡng trong hoạt
động góc.
Tôi chỉ đạo giáo viên thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ” ở
9
lớp nhất là khối mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Mục đích thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ” là giúp trẻ có
nhiều cơ hội được trải nghiệm để:
+ Trẻ biết tên gọi các loại thực phẩm:
Ví dụ: Với các loại rau (rau cải, rau muống...) giáo viên cần hướng dẫn trẻ
thực hành các thao tác chế biến đơn giản để chế biến thành rau xào, luộc. Trong
quá trình hướng dẫn trẻ, giáo viên hỏi trẻ tên các loại rau, trẻ đang chế biến món
cá nhân.
Ví dụ: Tôi chỉ đạo giáo viên cho trẻ chơi trò chơi đôi bàn tay đẹp, miệng
ai xinh hơn, ai sạch sẽ hơn, Để trẻ biết giữ gìn vệ sinh trong ăn uống và có thói
quen vệ sinh cá nhân như: rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, không
nói chuyện, cười đùa trong giờ ăn, không làm cơm rơi vãi.
+ Trẻ biết hoạt động chế biến các món ăn đơn giản.
10
Tôi chỉ đạo giáo viên khối mẫu giáo 5 - 6 tuổi tổ chức cho trẻ được thực
hành chế biến một số món ăn đơn giản như: Cho trẻ làm quen với quy trình làm
muối lạc, pha sữa, trứng rán, làm bánh mỳ kẹp bơ. Nhờ đó kết quả rất khả quan
trên trẻ, có gần 90 % trẻ thực hiện đúng các quy trình và hoạt động chế biến các
món ăn đơn giản như trên.
Qua hoạt động “Tập làm nội trợ” trẻ được thực hành, trải nghiệm và học
tập một cách tích cực các bài học về dinh dưỡng như cách ăn, cách chọn thức ăn
giàu dinh dưỡng.
* Thông qua các buổi dạo chơi ngoài trời chỉ đạo giáo viên lồng ghép
giáo dục dinh dưỡng: Quan sát một số loại cây ăn quả, tìm hiểu về một số loại
củ, quả, chăm sóc vườn rau ... Giáo viên giới thiệu cho trẻ ích lợi của từng loại
cây, loại quả, loại rau.
+Thông qua các buổi dạo chơi ngoài trời trẻ được khám phá nhận thức và
hiểu thêm một số thực phẩm có từ thiên nhiên từ đó làm giàu kiến thức cho trẻ,
giúp trẻ hiểu thêm về lợi ích và tác dụng của các loại thực phẩm. Giúp trẻ ăn
ngon miệng trong các buổi ăn khi có thực phẩm mà trẻ được khám phá.
+ Trong hoạt động này giáo viên rèn cho trẻ thói quen tự chăm sóc
bản thân, biết yêu thiên nhiên và động viên khuyến khích trẻ để trẻ ăn hết xuất
từ đó góp phần làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trong nhà trường.
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 4 - ảnh 2)
Hình ảnh 2: Hình ảnh trẻ chăm sóc vườn rau trong hoạt động ngoài trời.
Hình ảnh 3: Hình ảnh giờ ăn của trẻ.
2.3. 5: Chỉ đạo đội ngũ cô nuôi Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
theo đúng quy định.
Cho dù thực phẩm có tươi ngon đến đâu. Nhưng trong quá trình chế biến
không tuân thủ quy tắc vệ sinh an toàn thực phẩm thì cũng dễ dẫn đến ngộ độc
thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ. Vì vậy đảm bảo vệ sinh trong chế
biến luôn là điều đầu tiên.
Khi vệ sinh:
Đối với dụng cụ như dao, thớt khi chế biến thực phẩn sống và chín để
riêng, đối với mùa hè các dụng cụ thường xuyên được phơi nắng.
Vệ sinh lau sàn bếp tôi chỉ đạo tổ sử dụng nước nóng già để lau sàn nhà
để diệt vi khuẩn và bốc hơi nhanh giúp cho sàn nhà luôn khô sạch.
Khâu chia thức ăn phải thực hiện đúng nguyên tắc.
Đồ dùng dụng cụ thiết bị nhà bếp mầm non phải gọn gàng, ngăn nắp,
đúng khoa học để tiện cho việc sử dụng trong chế biến.
Khi làm việc phải mặc bảo hộ lao động, mũ, khẩu trang, găng tay. Với đặc
thù làm việc đều là chị em nên mọi người rất tiết kiệm đối với găng tay nilông
chỉ sử dụng một lần nhưng mọi người đã giặt và sử dụng lại. Tôi đã mạnh dạn đề
xuất chỉ sử dụng găng tay một lần rồi bỏ không tái sử dụng.
Đối với dẻ rửa bát, cọ xong, khăn lau tay, lau sàn…cuối buổi được giặt
sạch bằng sà phòng và ngâm nước nóng già, sau đó phơi khô.
Trong sơ chế và chế biến thực phẩm phải luôn thực hiện nội quy “Làm đâu
sạch đấy, đứng dậy sạch ngay”.
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 5 - ảnh 1)
Hình ảnh 1: Đồ dùng, dụng cụ nhà bếp vệ sinh sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng.
Sơ chế thực phẩm:
Thực phẩm phải được sơ chế tại nơi đảm bảo vệ sinh thoáng mát, đúng
quy định của bếp một chiều. Các loại rau quả tươi phải được ngâm kỹ và rửa ít
nhất 3 lần nước sạch hoặc được rửa sạch dưới vòi nước chảy. Các loại thực
phẩm sau khi rửa sạch phải để ráo nước, sau đó làm nhỏ theo yêu cầu món ăn.
thường xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Chỉ đạo giáo viên tuyên
truyền phòng chống suy dinh dưỡng đến các bậc phụ huynh.
* Phối kết hợp với trạm y tế xã cân, do, khám sức khỏe định kỳ, thường
xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm
Để đánh giá và kiểm tra tình trạng sức khỏe của trẻ, phát hiện sớm những
trẻ cần đi khám chuyên khoa như răng, tai, mũi , họng, mắt… hoặc làm các xét
nghiệm cần thiết để phát hiện những trẻ có mang vi khuẩn gây bệnh. Chính vì
vậy một năm học 2 lần tôi đã xây dựng kế hoạch phối kết hợp với trạm y tế xã
và trung tâm y tế Huyện tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho các cháu tại trường.
trong mỗi đợt chuẩn bị kiểm tra sức khỏe, tôi đều liên hệ với trạm y tế xã thông
báo thời gian kiểm tra, kế hoạch kiểm tra. Đặc biệt với những trẻ suy dinh
dưỡng, có sức khỏe không tốt, chúng tôi đều mời cha mẹ đến để nghe bác sỹ tư
vấn và có những lời khuyên hay, biện pháp khắc phục tình trạng sa sút về sức
khỏe của con em mình. Sau mỗi lần khám tôi tổng hợp kết quả và phiếu khám
sức khỏe được gửi lại cho phụ huynh, giúp phụ huynh nắm được tình hình bệnh
tật của trẻ, kết hợp cùng nhà trường, trạm y tế tìm nguyên nhân và cách giải
quyết, điều trị kịp thời nếu cháu bị mắc bệnh. Mỗi lần khám các cháu đều được
trạm y tế xã trực tiếp cho uống Vitamin A,B1,C và thuốc giun với điều kiện cháu
chưa uống thuốc giun ở nhà.
Việc khám sức khỏe định kỳ cho các cháu được phụ huynh rất ủng hộ,
những cháu nghỉ học ở nhà cũng được gia đình đưa đến trường để khám.
Cùng với việc phối kết hợp khám sức khỏe định kỳ cho các cháu, công tác
kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được nhà trường chú trọng, nhà trường
13
xây dựng kế hoạch kiểm tra theo hàng tháng phối hợp với trạm y tế xã, trung
tâm y tế dự phòng huyện Nga Sơn có kế hoạch kiểm tra định kỳ theo tháng và
quý về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, được đánh giá cao trong công tác vệ
sinh an toàn thực phẩm, không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra tại
khoa học. Phổ biến thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, chất bột đường, chất
vitamin muối khoáng có sẵn tại địa phương đảm bảo, rẻ tiền nhưng giàu chất
dinh dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Phổ biến cách bảo quản thực
phẩm sống, thực phẩm chín một cách an toàn, tránh thực phẩm bị ôi thiu, nhiễm
độc. Tuyên truyền đến các cha, mẹ trẻ biết tầm quan trọng của việc cho trẻ ăn
hết suất ăn, động viên trẻ trong khi ăn giúp trẻ ăn ngon miệng hơn.
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 6 - ảnh 3)
Hình ảnh 3: Buổi họp phụ huynh tuyên truyền nâng cao chất lượng bữa ăn
và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
14
*. Tuyên truyền thông qua xây dựng góc tuyên truyền với phụ huynh ở
các nhóm lớp.
Thông qua góc những điều cha mẹ cần biết và góc tuyên truyền của nhà
trường, giáo viên tuyên truyền cho cha, mẹ trẻ biết “10 nguyên tắc vàng trong
chế biến thực phẩm”, “10 lời khuyên về dinh dưỡng hợp lý”, điển hình hay gặp
cho cha, mẹ trẻ, in ấn và treo các hình ảnh, tranh minh họa về các hoạt động giáo
dục kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ, những kiến thức về an toàn và phòng
tránh nguy hiểm cho trẻ để giúp cha, mẹ trẻ biết rõ hơn. Đặc biệt là tranh về 4
nhóm thực phẩm chính cụ thể là:
Nhóm lương thực (cung cấp năng lượng chủ yếu): gạo, mì, ngô, khoai...
Nhóm thức ăn động vật (đạm động vật): thịt, cá, trứng, tôm... Đạm thực
vật: đậu phụ, đậu tương....
Nhóm dầu ăn (cung cấp chất béo): vừng, lạc…
Nhóm rau xanh, hoa quả cung cấp vitamin, muối khoáng.
Hàng quý cân, đo trẻ và báo cáo cho cha, mẹ trẻ rõ về tình trạng sức khỏe
của trẻ qua góc tuyên truyền.
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 6 - ảnh 4)
Hình ảnh 4: Góc tuyên truyền.
Kiểm tra sức khỏe của trẻ thông qua đánh giá biểu đồ tăng trưởng hàng
tháng.
Tuyên truyền đến cha, mẹ trẻ về tình hình thời hoạt động để phụ huynh có
thể nắm bắt và biết cách phòng tránh các loại bệnh tật cho trẻ thông qua các bản
tin, hình ảnh để thu hút được sự quan tâm chú ý của phụ huynh. Thông báo cho
phụ huynh về tình hình sức khỏe của trẻ thông qua những buổi đưa đón trẻ, từ
đó giúp giáo viên nắm bắt kịp thời những thông tin từng trẻ để qua đó có biện
pháp xử lý các tình huống kịp thời để công tác phòng chống suy dinh dưỡng ở
trẻ đạt kết quả tốt. Hạ thấp được tình trạng, nguy cơ của bệnh suy dinh dưỡng
cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nói riêng và cho toàn xã hội nói chung.
Tăng cường phối hợp với Ban Đại Diện cha mẹ học sinh của các nhóm
lớp kiểm tra định kì đầu năm hay cuối tháng hoặc đột xuất trong tháng từ khâu
cung cấp nguyên vật liệu đến khâu sơ chế và chế biến thực phẩm đến việc chia
khẩu phần ăn của trẻ và cùng chăm sóc trẻ theo đúng quy định, đảm bảo tính
khoa học, vệ sinh an toàn thực phẩm, để giúp trẻ luôn có một sức khỏe tốt, phát
triển cả về thể chất lẫn tinh thần một cách toàn diện.
2.3.7: Phối hợp với Cha, mẹ trẻ nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ
thông qua các hội thi.
Thực hiện kế hoạch năm học 2018 - 2019 tổ chức các phong trào thi đua
trong các họat động chăm sóc giáo dục do nhà trường phát động. Tôi cùng Ban
giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch các hội thi , đó là hội thi “Ngày hội
dinh dưỡng cho trẻ mầm non” và hội thi “Cô nuôi giỏi” cấp trường.
* Thông qua tổ chức hội thi “Ngày hội dinh dưỡng cho trẻ mầm non”
lồng ghép với hội thi “Bé khoẻ bé tài năng” tại lớp.
- Động viên khuyến khích, huy động sự tham gia của các bậc cha mẹ
trong việc tổ chức cho trẻ thực hiện các nội dung “Tập làm nội trợ” Qua đó trẻ
gọi tên, phân biệt được các loại quả, các món ăn cách trang trí sắp sếp và vệ sinh
sau khi tiến hành hoạt động “Tập làm nội trợ” như: Đóng góp các thực phẩm
để trẻ thực hành (đóng góp rau, củ, quả, tiền….) thu thập các tài liệu, tranh ảnh
có liên quan; tham gia “Triển lãm” tranh “ Bé tập làm nội trợ”; tham gia tổ
chuyên môn về nghiệp vụ dinh dưỡng, đồng thời tiếp tục rút kinh nghiệm, điều
chỉnh, tổ chức thực hiện bếp ăn , cách tính khẩu phần ăn và chế biến dinh
dưỡng hợp lý cho trẻ tại trường mầm non hiện nay.
Tuyên truyền tới các bậc phụ huynh, các ban ngành đoàn thể và cộng
đồng về kiến thức chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ theo khoa học và đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm. Đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trao
đổi, chia sẻ kinh nghiệm về công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong các trường
mầm non.
Hội thi “Cô nuôi giỏi” cấp trường giúp các nhân viên dinh dưỡng đang
trực tiếp nấu ăn tại trường có cơ hội nâng cao tay nghề và sáng tạo hơn trong
công việc. Nhân viên tham gia dự thi phải có chứng chỉ, có sức khỏe tốt, có
phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và đồng nghiệp đánh giá cao,
được lãnh đạo nhà trường xác nhận. Tôi xây dựng nội dung thi: Gồm 2 phần: bài
thi năng lực và thực hành. Qua hai phần thi đánh giá đúng năng lực của cô nuôi
và tạo cơ hội cho họ được rèn luyện, không ngừng nâng cao tay nghề, học tập
được nhiều kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
(Hình ảnh minh họa kèm theo phụ lục 7 - ảnh 2)
Hình ảnh 2: Hội thi “Cô nuôi giỏi”
Kết quả: Thông qua 2 hội thi được tổ chức tại trường đã được đông đảo
CBGV,NV và cha, mẹ trẻ nhiệt tình hưởng ứng và tham gia, thông qua hội thi
này đã phần nào cải thiện nhận thức của cha, mẹ trẻ về chất lượng bữa ăn cho
con em mình tại gia đình, góp phần không nhỏ tới việc chăm sóc nuôi dưỡng
cho trẻ về chất lương bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, với đồng nghiệp và nhà trường.
Sau một năm thực hiện một số biện pháp về “Một số biện pháp nâng cao
17
phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non đạt kết quả cao.
* Đối với nhà trường:
Đối với sáng kiến“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn và
phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non” mà tôi nêu ở trên
được áp dụng tại nhà trường nơi tôi công tác và nhân rộng thêm, lan tỏa trong
công tác quản lý chỉ đạo.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non có vai trò hết
sức quan trọng trong việc hình thành và nhân cách cho trẻ. Để trẻ luôn khỏe
mạnh phát triển một cách toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, tình cảm quan hệ xã hội
thì việc chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng trẻ theo khoa học là hết sức quan
trọng và cần thiết.
18
Bằng sự cố gắng không ngừng của bản thân trong công tác chỉ đạo, sự
nhiệt tình của các đồng chí cán bộ giáo viên, sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh
đạo cấp trên trong những năm qua nhà trường đã gặt hái được những kết quả
đáng khích lệ.
Từ những khó khăn ban đầu trong công tác chọn và chế biến thực phẩm
đến nay giáo viên đã thực hiện thành thạo và thường xuyên thay đổi khẩu vị cho
trẻ giúp trẻ ăn ngon miệng, hết xuất, sức khỏe của trẻ ngày một tăng, số trẻ bị
suy dinh dưỡng giảm, trẻ đến trường ngày một đông. Bởi vậy mà việc cải thiện
và nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non là hết sức cần thiết.
Từ những kết quả trên bước đầu có thể khẳng định sáng kiến đã mang
lại kết quả rất đáng khích lệ đối với đội ngũ giáo viên nâng cao kiến thức về chế
biến đảm bảo chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Thành công của sáng
kiến này đã giúp tôi rút ra được bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình
Nga Thạch, ngày 10 tháng 4 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác
Người viết sáng kiến
Phạm Thị Hồng
Phạm Thị Hằng
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bài viết: “Trẻ em như búp trên cành” - />[2]. Một số tài liệu có liên quan về công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ - Tài
liệu tập huấn “Vệ sinh an toàn thực phẩm”
[3]. Tổ chức hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ học bán trú tại trường mầm non.
[4]. Bài hát “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” - Nhạc sĩ Lê Mây (phổ nhạc
từ bài thơ “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” - nhà thơ: Phùng Ngọc Hùng)
[5]. Giáo dục dinh dưỡng và đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non.
[6]. Tài liệu bồi dưỡng hè năm học 2017 - 2018.
+ Hướng dẫn thực hiện chế độ dinh dưỡng và đánh giá sức khỏe trẻ mầm non.
+ Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm trong cơ sở giáo dục mầm non.
[7]. Sổ tay hướng dẫn bếp ăn tập thể đảm bảo an toàn thực phẩm năm 2018
- Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Thanh Hóa.
Một số giải pháp giáo dục
dinh dưỡng cho trẻ mẫu
giáo 3 - 4 tuổi ở trường
mầm non Nga Bạch.
3
Một số giải pháp chỉ đạo
nâng cao chất lượng giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh
ATTP ở trường mầm non
Nga Bạch.
4
Một số giải pháp giúp giáo
viên sáng tạo trong tổ chức
hoạt động chung cho trẻ
mẫu giáo theo chương trình
giáo dục mầm non mới tại
Trường mầm non Nga
Thạch.
PGD&ĐT
Huyện Nga
Sơn.
PGD&ĐT
Huyện Nga
Sơn.
2015 - 2016
KÈM THEO SKKN: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG BỮA ĂN VÀ PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ”
Phụ lục 1:
*Qua khảo sát chất lượng đầu năm trên trẻ cho thấy:
Bảng 1: Kết quả khảo sát về tình trạng sức khỏe của trẻ tại thời
điểm tháng 9 năm 2018.
Nội dung
Tổng số trẻ trong toàn trường
Trẻ ăn bán trú tại trường
Trẻ ăn hết xuất
Trẻ phát triển bình thường về cân nặng
Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
Trẻ phát triển bình thường về chiều cao
Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi
Số lượng
279
240
219
256
23
254
25
Tỷ lệ %
100
279
243
87
36
279
238
85
41
279
210
75%
69
25%
Trẻ có thói quen vệ sinh văn minh
trong ăn uống.
279