Tiếng chuông chùa trong Phong Kiều dạ bạc - Pdf 27

Tiếng chuông chùa trong Phong Kiều Dạ Bạc
Lê Dọn Bàn
"Tiếng chuông đêm ấy vang vọng đến mãi chiều nay. Ở đây không có bến Cô Tô, nhưng có lá phong rụng đầy
trong nắng, vẽ những đỉnh đồi rực màu thu lộng lẫy, soi trên mặt sáng bừng ánh nước hồ lắng sóng. Xa lắm
bến Phong Kiều, cách nửa vòng trái đất, không có đêm trên sông với hàng phong ngái ngủ, nhưng có chiều
thu đang xuống, giữa chập chùng."
楓楓楓楓楓楓
楓楓
月落烏啼霜満天
江楓漁火満愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘満到客船
Thơ:
Phong Kiều Dạ Bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền [1]
Trương Kế (? -756?) [2]
Nghĩa:
Đêm đỗ thuyền trên bến Phong Kiều [3]
Trăng khuất, quạ kêu, sương đầy trời
Cây phong bờ sông, đốm lửa thuyền chài, đối nhau trong giấc ngủ buồn
Ngoài thành Cô Tô [4], từ chùa Hàn San[5]
Lúc nửa đêm, tiếng chuông vọng đến thuyền khách.
Tạm dịch:
Trăng lặn, quạ kêu, trời đầy sương
Lửa chài, phong bến, giấc buồn vương
“Cô Tô thành ngoại, Hàn San tự”
Chuông vọng đến thuyền lúc nửa đêm.
Bản dịch phổ biến (Tản Đà):

- Câu thứ ba, như một câu văn nói: Xa ngoài thành Cô Tô, ở chùa Hàn San.
- Câu cuối: có tiếng chuông chùa nửa đêm, âm thanh vọng đến tận thuyền khách.
Có cảnh nào trong tranh Tàu mà thiếu người, nên câu cuối, có khách trên sông, nửa đêm giữa bến nước, không ngủ.
Khách là kẻ nhìn cảnh vật đã kể ở trên, và bởi tiếng chuông ngân nên giờ ra chính diện.
Tiếng chuông từ ngoài thành xa, trên chùa vắng đưa đến thuyền khách, và âm thanh cũng tỏa vọng về mọi vật đã kể
trong bài. Về câu thứ hai, giờ có thể hiểu: đám cây phong, đám lửa chài đối diện với giấc chập chờn của khách. Về
đến câu đầu: khách là kẻ vọng mảnh trăng khuất, nghe tiếng quạ kêu, và là người nhìn sương trời đang giăng phủ.
Sự vật không “chết” nữa, đã có một cái nhìn…có một người trong cảnh.
Đến đây thơ thành một bức họa sơn thủy Tàu quen thuộc: có sông, có cây phong, có đám thuyền đánh cá, có nền xa
là đồi núi chập chùng, ẩn hiện cổ thành, chắc có mái cong, tháp chuông của ngôi chùa lẫn trong đám lá dày. Trong
đám thuyền trên sông, chiếc thuyền nào là của tác giả? Có phải đây không? trong một góc tranh, có kẻ áo văn nhân,
bút mực trước mặt, đang nhìn trời… như nghe tiếng chuông ngân.
Mọi chốn trong tranh, tiếng chuông chùa đều vọng đến. Trăng hẳn vẫn còn mờ, nhưng tiếng quạ chắc đã tắt. Có chút
đột nhiên (suspense) ở câu cuối. Câu thứ ba đưa cái bất ngờ lên bằng vào nhịp và vận thơ đổi, mạch thơ đến cuối
câu ba phải ngừng lại, như chờ đợi, trước khi sang câu cuối có chuông đổ nửa đêm. Khi tiếng chuông buông, mọi vật
sống dậy, như tỉnh giấc sầu miên.
Cả bài thơ có tiếng chuông điểm khắp cảnh vật. Tiếng chuông cũng soi cho thấy người trong cảnh.
Đêm trong Đường thi, thường có trăng mà thành thơ, như trong Lý Bạch hay Trương nhược Hư (Xuân giang hoa
nguyệt dạ), trăng đi với hoa, rượu, gợi những hoài tình, dựng bao sầu mộng. Nhưng đêm ở đây, trên bến Cô Tô, chỉ
có tiếng quạ kêu sương, lửa chài le lói, hàng phong bên cầu vắng gió. Nhưng tất cả đã nhờ một tiếng chuông buông
nên sống động thành thơ.
Tiếng chuông đến bất ngờ sau nhịp điệu chờ đợi
Hai câu đầu đang theo nhịp thơ:
2 - 2 - 3 TT - BB - BTB Nguyệt lạc / ô đề / sương mãn thiên
2 - 2 – 3 BB - TT - TBB Giang phong / ngư hỏa / đối sầu miên
đối vận tề chỉnh và đều hết câu ở vận bằng, êm ả (thiên, miên)
Đến câu thứ ba, ở đây, đột chuyển sang nhịp khác:
4 – 3 B B B T - B B T Cô Tô thành ngoại / Hàn San tự
lại dừng câu ở vận trắc “… Hàn San tự”, lững lờ chờ đợi…… tiếng chuông ngân … đến trong câu câu cuối, đưa tất cả
về êm ả nhịp cũ, kết như một cadence nhạc:

Cả bài thơ là một tổng thể quanh tiếng chuông ngân.[13] Tiếng chuông có màu thiên cổ vang trên những lối đi về của
nghìn năm, phơi mở những miếu đài, đình tạ, gợi những nghiệp chướng trần ai.
Tiếng chuông đêm ấy vang vọng đến mãi chiều nay. Ở đây không có bến Cô Tô, nhưng có lá phong rụng đầy trong
nắng, vẽ những đỉnh đồi rực màu thu lộng lẫy, soi trên mặt sáng bừng ánh nước hồ lắng sóng. Xa lắm bến Phong
Kiều, cách nửa vòng trái đất, không có đêm trên sông với hàng phong ngái ngủ, nhưng có chiều thu đang xuống, giữa
chập chùng. Những vòm cao đang đổi sắc, im lắng, chỉ có tiếng lá, mỗi chiếc lá là một sự rạng rỡ quằn qụai trong gió
tháng mười, là một bi tráng của cái đẹp kiêu hãnh biết mình sẽ tàn tạ nhưng vẫn mong mãi sống giữa lòng ngưỡng
mộ. Cảnh thu nơi đây không có tiếng quạ kêu đêm, nhưng có tiếng nhạc của Hòa Tấu Khúc Dang Dở [14], hồ cầm, vĩ
cầm tremolo rồi cả bộ huyền bi tráng, òa lên cao như tiếng khóc không giữ được khi phải đối diện với cái đẹp sắp mất.
Những mảnh thu đang tự huỷ trong gió chớm lạnh. Chuông ngân đâu phải chỉ trên bến Cô Tô, đêm ấy giữa Đường
Thi; chuông ngân khắp chốn, vọng đến mọi nơi của tâm cảnh sâu thẳm và ngoại cảnh bao la. Chuông ngân mãi trong
tâm thức người đọc, nhắc nhở cuộc hiện sinh là những mảnh luân hồi ngắn ngủi trong bất tận cõi sống vô thường. Và
còn gì đẹp hơn cái Đẹp phô sắc trên những cuống mong manh với sắc lá vẽ màu thời gian đi, trong các đang-trở-
thành ở mỗi khoảnh khắc? [15]
Tiếng chuông rơi mở ra một hành trình nhận thức
Bay lên thành một hành trình sáng tạo thơ
Hai câu đầu có thể tách thành một đoạn (stanza):
Câu đầu: cho biết các chủ và thuộc từ sau: Trăng - lặn, Quạ - kêu, Trời - đầy sương. Cảnh chưa có người, các thuộc
từ khách quan.
Câu hai: Cây phong - ngủ buồn, Lửa thuyền đánh cá - ngủ buồn: các thuộc từ đã nhuốm chủ quan, có người đâu đó
đang nhìn, gửi cảm quan của mình (sầu miên) vào cảnh vật vô tình khiến chúng thành hữu tình
Hai câu cuối có thể xem là một đoạn khác
Trong hai câu thơ đầu …thiên nhiên tự tại, trong đó trăng, hoa, cây cỏ, chỉ là trăng hoa, cây cỏ. Vẫn có đó, trước khi
có con người, và mai sau, khi không còn có con người…
Hai câu sau, khi tiếng chuông buông xuống vạn vật, một thế giới văn hóa mở ra, ở đó trăng thành nguyệt, phong
thành thu mộng, hoa cỏ thành thơ…Tiếng chuông là biểu tượng của thế giới có văn hóa, đã nhân hóa, Từ tiếng
chuông, con người đem cái nhìn của mình chiếu lên vạn vật, làm cho muôn vật sống dậy, mang một ý nghĩa, vạn vật
thành vạn pháp. Tiếng chuông từ một hành trình đi tìm giải thoát, đêm nay đã vang đến một hành trình thơ, nâng cánh
cho thơ bay lên, giúp người thơ lý giải được những khổ đau của cuộc sống, thấy được vị mặn của đời người. Thế giới
của gỗ đá nay thành thế giới của cây và núi. Sông là giòng đời, trăng mờ là chân thực còn ẩn dấu, quạ kêu như nhắc

đêm,
Sáng Tỏ
Sông thuyền. Kiến, Ngộ
Cái đẹp,
sự sống
khách
Nhắn, Gửi
Thơ

Tiếng chuông đến thuyền tác giả lúc “dạ bán”. Là khoảnh khắc đặc biệt của chu kỳ sinh diệt, ngày cũ vừa qua nhưng
vẫn tưởng còn, ngày mới tuy chưa thấy, nhưng đã bắt đầu…Con chim chạm đất [18], chuông không phải chỉ đơn giản
vang đến thuyền, vọng đến khách, nhưng “đáo khách thuyền”. Thanh âm giải thoát đến với người. Chữ “đáo” cho cả
bài thơ một thiền vị. Lúc ấy, với người trầm tư, hay đang thiền quán, tiếng chuông cũng có thể có tác dụng của tiếng
quát, tiếng gậy đập như trong các công án Thiền.
Sông nước mở ra dưới sương mờ, rồi tiếng chuông nửa đêm chiếu lên cảnh vật, sông nước như vẫn là sông nước
[19] cũ (nên không nói đến nữa) nhưng trên sông nước ấy, có thơ theo tiếng chuông bay lên …
Từ tâm khách trên thuyền., đã đổi…
Tiếng chuông buông “giữa vô cùng, nói đôi điều cùng ai”.[20]
Tác giả đang có tâm trạng nào? ông chờ đợi gì? Làm nghề thu đo thuế muối sắt, ông lẫn giữa đám thương hồ. Đêm
ấy thuyền buông ở bến Tô Châu, ông không ngủ, vì sao? Trương đang nghĩ gì lúc ấy? hay ông hành thiền quán?
Thi thoại cho biết ông kết bài thơ trên sau khi nghe tiếng chuông. Phải chăng ông đợi một cảm hứng để viết cho trọn
bài thơ đã mở sẵn? Hay cảm hứng đến từ tiếng chuông, bài thơ được tạo từ hai câu cuối chính để ngược về hai câu
đầu là phần mở, thêm vào cho trọn bài luật thi? Tiếng chuông bất ngờ nửa đêm đã đem thi hứng và đánh thức nguồn
sáng tạo cuả thi sĩ. Cảnh có đó, nhưng chưa có tình trọn ý, còn chết, nên chưa có thơ. Chỉ khi tiếng chuông đổ vọng
đến thuyền, đem cái kỳ diệu làm bừng tia sáng tạo, Trương vội hạ bút với lòng xúc cảm. Cái xúc cảm ấy ông không
san xẻ với người đọc, để chúng ta ngẩn ngơ bâng khâng mãi mãi, tự hỏi đêm khuya trên bến Cô Tô, tiếng chuông
Hàn San tự ấy đã đánh lên những sắc màu, âm hưởng gì trong lòng Trương Kế?
Có lẽ Trương cũng không thể biết rõ, ông chỉ “sống” cái giây phút đó, “chứng ngộ” giây phút đó, xong tiếng chuông
ngân, trang giấy vội đầy. Tiếng chuông đó ra sao? Lòng Trương nghe thế nào? [21]
Không bao giờ biết được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status