Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong một thời gian rất dài, khi nghiên cứu văn chương, người ta luôn
kiếm tìm lời giải cho tác phẩm từ tác giả. Bởi vậy mà, trong tiềm thức của
rất nhiều người hôm nay vẫn luôn tự tin khẳng định rằng tác phẩm
Baudelaire cho thấy sự suy sụp của con người Baudelaire, tranh Van Gogh
là sản phẩm trong những phút thăng hoa của hội chứng điên, nhạc
Tchaikovsky là ẩn ức của những tội lỗi, sám hối day dứt nhất… Không phủ
nhận tác giả có một vai trò quan trọng hình thành nên tác phẩm song đó
không phải là đối tượng quan trọng nhất và càng không phải là yếu tố duy
nhất để ta xoáy vào khi nghiên cứu văn học. Bởi lẽ nói như Trương Đăng
Dung rằng “tác phẩm văn học như là quá trình”, tác phẩm được phôi thai từ
sự chiếm lĩnh nghệ thuật về hiện thực của nhà văn và kết quả là người đọc
có được một văn bản nghệ thuật. “Nhưng sự sống của nó chỉ thực sự bắt đầu
khi trải qua quá trình chiếm lĩnh thẩm mỹ về tác phẩm của người đọc. Văn
bản chỉ trở thành tác phẩm khi có người đọc xuất hiện” [12, 108]. Đó là lí
do vì sao từ cổ chí kim, không ít nhà văn, nhà thơ sáng tác nên hàng triệu
tác phẩm nhưng không phải tất cả số đó vượt qua được dòng chảy nghiệt
ngã của thời gian để đứng vững cùng bạn đọc.
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã có một nhận xét rất chính xác rằng:
“Khoa học văn chương trong hai thế kỷ gần đây có ba phát hiện quan trọng:
Thế kỷ XIX phát hiện ra tác giả, nửa đầu thế kỷ XX: tác phẩm, nửa cuối thế
kỷ XX là độc giả. Mối quan hệ ba ngôi này đã tạo ra một nhất thể, một chỉnh
thể văn học mà tùy theo từng thời điểm và từng phương pháp tiếp cận người
ta tôn một ngôi nào đó là trung tâm nhưng vẫn không đặt ra ngoài mối quan
hệ với hai ngôi kia.”[50, 28]. Đề cao vị thế của độc giả, tiếp cận tác phẩm từ
góc độ người đọc là một bước tiến của lí luận văn học thế giới cũng như bước
đầu ở Việt Nam. GS. TS Trần Đình Sử cũng đã đưa ra quan điểm của ông
rằng “về tác phẩm văn học, nhất thiết phải có khái niệm tác phẩm văn học
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
người đồng sáng tạo. Lý luận tiếp nhận đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan
trọng trong lịch sử tác phẩm văn học. Theo dõi đời sống lịch sử của các tác
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-2
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
phẩm văn học, dễ nhận thấy tiếp nhận văn học ngày càng chiếm lĩnh tác
phẩm một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn, cụ thể hơn trong nhiều tương
quan và bình diện hơn.
Tiếp nhận là một vấn đề rất mới mẻ và hấp dẫn, nó mở ra những chiều
sâu khám phá sức sống nội tại của một tác phẩm văn học, đặc biệt là đối với
những tác phẩm kinh điển, có sức sống mạnh mẽ trong lịch sử văn học.
Người ta luôn tự hỏi: Cái gì làm nên sức sống tiềm tàng mãnh liệt ấy? Tác giả
là một cây bút đầy tài năng? Thông điệp của nó ẩn chứa nhiều vấn đề hấp dẫn
mang tính thời đại? Và độc giả mọi thế hệ chính là chiếc cầu nối kì diệu đã
tiếp nhận, cất cánh cho những áng văn chương ấy vươn xa hơn. Bởi vậy mà
có người đã nói không ngoa rằng: Lịch sử văn học là lịch sử của những cách
đọc. Từ thời đại này sang thời đại khác, từ người này qua người khác sẽ nới
rộng dần ra không gian thẩm mỹ của tác phẩm. Tác phẩm mở ra vô vàn
những cái nhìn khác lạ.
Thơ Đường là một trong những áng văn chương mang trong mình sức
sống tiềm tàng như vậy. Thơ Đường là một dạng thơ nổi tiếng bởi sự thâm
trầm, bí ẩn. Để hiểu hết được những tầng bậc ý nghĩa của nó không phải là
một điều giản đơn. Nói như Will Durant thì: “Khắp thế giới đâu thấy được
một thứ thơ nào so sánh được với thứ thơ đó về cách diễn tả thanh nhã, tế
nhị, về những tình cảm dịu dàng điều độ, về sự bình dị và cô đọng của một
câu ngắn thôi mà bao trùm được tư tưởng cân nhắc kĩ lưỡng.” Có phải thế
chăng mà cho đến nay, nhiều văn bản Đường thi vẫn như những nguồn suối
không cạn, có sức hút lớn, mời gọi bạn đọc khám phá.
Thơ Đường là tinh hoa của văn học Trung Quốc, là thành quả rực rỡ của
một thời đại văn chương một đi không trở lại, không chỉ với Trung Hoa mà
Trương Kế tìm hiểu và lí giải một vài vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam.
Khóa luận của chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu hai cách đọc, hai hướng tiếp
nhận chính bên cạnh rất nhiều cách tiếp nhận phong phú khác đó là việc
“giảng nghĩa” thơ Đường trong sách giáo khoa phổ thông và việc giải nghĩa
thơ Đường trong nghiên cứu - phê bình để từ đó có cái nhìn tổng quát, nhận
diện và lí giải vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam. Ở một khía cạnh nào đó có
thể gợi mở những chân trời của mĩ học tiếp nhận, nhìn nhận tác phẩm ở góc
độ người đọc.
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-4
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Có thể nói nghiên cứu quá trình tiếp nhận văn học ở góc độ người đọc
là một vấn đề khá mới mẻ ở nước ta. Cụ thể, trong khóa luận của chúng tôi có
nghiên cứu một vài vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam nói chung, tiêu biểu
qua hai trường hợp Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị và Phong kiều dạ bạc của
Trương Kế lại là một vấn đề ít gặp.
Viết về quá trình tiếp nhận thơ Đường ở Việt Nam có thể kể tới Luận
án phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn của Nguyễn Tuyết Hạnh với đề tài: Vấn đề
dịch thơ Đường ở Việt Nam (TP Hồ Chí Minh, 1996). Luận án gồm có ba
chương: Chương đầu tiên nói về lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam với việc
nêu ra truyền thống dịch thuật ở Việt Nam, truyền thống dịch thơ Đường và
tổng kết lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam. Chương hai đưa ra vấn đề
những phát sinh do quan hệ giao tiếp văn hóa nhiều đời giữa Việt Nam và
Trung Quốc trong việc dịch thơ Đường, chủ yếu là những thuận lợi và vấn đề
thể loại chuyển dịch. Chương cuối tác giả viết về nghệ thuật dịch thơ Đường
cần phải có sự đồng cảm giữa dịch giả và tác giả, ngôn ngữ thơ Đường trên
góc độ dịch và chủ yếu người viết đi sâu nghệ thuật dịch thơ Đường trên góc
độ thủ pháp. Có thể nói, luận án của Nguyễn Tuyết Hạnh đã nghiên cứu được
rất chi tiết sự vận động và phát triển của việc dịch thơ Đường qua các giai
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với việc chia ra ba ý lớn: dịch thuật,
khảo cứu và nhận định chung. Có thể nói, tuy trong hoàn cảnh đất nước khó
khăn, nguồn tư liệu khan hiếm, còn ghi chép tay nhưng khóa luận đã tổng
hợp được tài liệu và bước đầu có những lời bình giá nhất định về hiện tượng
nghiên cứu.
Nghiên cứu vấn đề tiếp nhận rộng hơn ở cả lĩnh vực giới thiệu, nghiên
cứu và phiên dịch và đối tượng nghiên cứu rộng hơn hẳn là thơ ca Trung
Quốc (không giới hạn ở Đường thi), Nguyễn Thị Mỹ Linh đã viết khóa luận
tốt nghiệp với đề tài: Tình hình giới thiệu, nghiên cứu và phiên dịch thơ ca
Trung Quốc ở Việt Nam từ trước tới nay. (năm 1991, Lê Đức Niệm hướng
dẫn). Khóa luận gồm có sáu phần lớn, mỗi phần đi theo lịch sử phát triển của
thơ Đường từ thời Tiên Tần; Tần Hán, Ngụy Tấn, Nam Bắc triều; thơ ca đời
Đường; thơ ca Tống Nguyên; thơ ca Minh Thanh và Cận đại; thơ ca Trung
Quốc thời Hiện đại. Trong đó tác giả lại đi vào tìm hiểu quá trình giới thiệu,
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-6
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
nghiên cứu cũng như đặt ra vấn đề ai là người đầu tiên dịch thơ Đường?
Người đầu tiên khảo cứu thơ Đường? Khóa luận đã cung cấp cho độc giả
nguồn tư liệu khảo sát rất chi tiết và đáng quý về thơ ca Trung Quốc đã được
tiếp nhận ở Việt Nam.
Các công trình trên được nghiên cứu từ các cách tiếp cận văn học so
sánh (nghiên cứu ảnh hưởng) hoặc từ góc độ phiên dịch học, chứ chưa quan
sát đối tượng từ góc độ mỹ học tiếp nhận. Hiện nay chúng ta đang thực hiện
công việc này một cách tập trung, ý thức về phương pháp cũng rất rõ ràng:
cùng với mỹ học tiếp nhận được truyền bá ở Việt Nam, dẫn đến cách hiểu
mới về tác phẩm văn học, từ đó mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của văn học sử,
công việc nghiên cứu của chúng ta vẫn là bám chắc trên mảnh đất văn học sử,
song chúng ta đặt công việc của mình vào môi trường của văn hóa - văn học
so sánh, chuyển từ nghiên cứu ảnh hưởng sang nghiên cứu tiếp nhận. Người
tiếp nhận Tỳ Bà hành tại Việt Nam là một sự tìm kiếm tư liệu đáng quý và
đáng ghi nhận. Cùng năm 2007 có khóa luận tốt nghiệp của Mạnh Thị Minh
nghiên cứu: Đường thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam. Với hai
chương: chương một: quá trình Đường thi được đưa vào giảng dạy trong
trường phổ thông ở Việt Nam và chương hai: Hướng dẫn giảng dạy Đường
thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam, đây cũng là một công trình tỉ
mỉ, cung cấp nhiều tư liệu rất có ích cho bạn đọc quan tâm đến vấn đề này.
Năm 2008, Nguyễn Hồng Mơ tiếp tục vấn đề tiếp nhận khi làm niên
luận nghiên cứu: Vấn đề tiếp nhận Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam. Niên luận
gồm ba chương: Chương một vấn đề dịch thuật Hoàng hạc lâu, chương hai:
Vấn đề nghiên cứu Hoàng hạc lâu và chương ba: Từ tác phẩm đến tác phẩm.
Như vậy, ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề tiếp nhận văn học,
cụ thể là tiếp nhận Đường thi ở góc độ bạn đọc vẫn chưa có nhiều cây bút
tham gia. Nghiên cứu văn học từ mĩ học tiếp nhận là một vấn đề khó và thực
sự cần có nhiều thời gian. Trong khóa luận này, chúng tôi muốn tiếp tục phát
triển, nghiên cứu sâu hơn vấn đề tiếp nhận thơ Đường, thông qua hai trường
hợp tiêu biểu: Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế và Tỳ bà hành của Bạch
Cư Dị. Những niên luận, khóa luận đi trước quả thực là những phần tư liệu
rất quý báu để trên cơ sở đó, chúng tôi tìm hiểu, tổng hợp và sắp xếp theo
hướng tìm hiểu của mình. Tuy nhiên hầu hết những niên luận, khóa luận
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-8
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
trước mới chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổng hợp tư liệu, ghi chép dữ liệu
quý báu về quá trình tiếp nhận các tác phẩm Đường thi chứ chưa lí giải sâu
sắc được ý nghĩa của các cách tiếp nhận. Chúng tôi không có tham vọng hoàn
thành được hết những phần việc rất có ích đó bởi đó là công việc cần nhiều
thời gian và tư liệu. Như một câu danh ngôn được lưu truyền rất hay là:
“cánh cửa đã mở nhưng còn phải đẩy”. Quả thực, khóa luận của chúng tôi
cũng mang tính chất gần giống như vậy, tiếp nối và để ngỏ để bạn đọc nào
Để thực hiện đề tài này, trên bình diện lý thuyết, chúng tôi tiếp cận đối
tượng chủ yếu từ góc độ văn học so sánh và mĩ học tiếp nhận.
Về các mặt thao tác khoa học cụ thể, chúng tôi chủ yếu sử dụng
phương pháp mô tả, hệ thống hóa, thống kê, phân loại, chia giai đoạn nhằm
khôi phục diện mạo và phác họa quá trình tiếp nhận và diễn dịch hai tác
phẩm Tỳ bà hành, Phong Kiều dạ bạc, đồng thời cũng sử dụng phương pháp
phân tích, so sánh - đối chiếu nhằm cắt nghĩa đặc điểm, tính chất và lí giải
nguyên do của quá trình đó.
6. BỐ CỤC KHÓA LUẬN
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục ra, phần
Nội dung của khóa luận bao gồm 2 chương:
CHƯƠNG 1: GIẢNG NGHĨA THƠ ĐƯỜNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA
PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM
1.1 Giảng nghĩa Tỳ bà hành trong SGK PT.
1.2 Giảng nghĩa Phong Kiều dạ bạc trong SGK PT.
1.3 Lí giải hiện tượng giảng nghĩa trong SGK PT.
CHƯƠNG 2: GIẢI NGHĨA THƠ ĐƯỜNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ
BÌNH Ở VIỆT NAM
2.1 Nghiên cứu phê bình Tỳ bà hành ở VN.
2.2 Nghiên cứu phê bình Phong Kiều dạ bạc ở VN.
2.3 Lí giải hiện tượng giải nghĩa trong nghiên cứu phê bình ở VN.
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-10
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
7. QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
Khóa luận của chúng tôi được trình bày theo quy cách của Trường Đại
học KHXH & NV Hà Nội quy định cho khóa luận tốt nghiệp.
Sau trích dẫn tư liệu đều có ngoặc vuông ghi lần lượt: thứ tự tư liệu
(theo Tư liệu tham khảo ở cuối Khóa luận), trang thứ bao nhiêu của tư liệu
đó. Chú thích trực tiếp ở chân trang dành riêng cho việc giải thích từ ngữ,
dịch tác phẩm văn học phụ thuộc rất nhiều vào tài năng của dịch giả. “Mỗi
một dịch giả có trình độ đều là một nghệ sĩ” (R. Italiander). Nhưng một điều
rất dễ nhận ra là tuy những tác phẩm Đường thi được dịch thuật và giới thiệu
rất sớm ở Việt Nam nhưng phải một thời gian dài sau đó, nó mới được tuyển
lựa vào sách giáo khoa phổ thông giảng dạy cho học sinh.
Có thể nói, soạn sách giáo khoa cho chương trình phổ thông đến hôm
nay vẫn không phải là một công việc đơn giản. Bởi lẽ để có được một bộ sách
chuẩn, trở thành chương trình mẫu mực giúp cho việc tiếp thu, nhận thức của
học sinh được tốt cần phải có một đội ngũ biên soạn có tầm hiểu biết, trí tuệ
và làm việc khoa học. Sách giáo khoa ở nước nào cũng vậy, nó “chứa đựng
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-12
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
những tri thức cơ bản, chính xác nhất và được nhân loại tin cậy nhất” (GS.
TS Nguyễn Thanh Hùng). Sách giáo khoa trong nhà trường là loại sách dành
cho học sinh nghiên cứu và học tập dưới sự chỉ đạo của giáo viên. Sách giáo
khoa bộ môn văn cũng không nằm ngoài những vai trò và định hướng đó.
“Chương trình sách giáo khoa là căn cứ rõ nhất để nghiên cứu tìm hiểu vấn
đề tiếp nhận văn học theo hướng chính thống trong nhà trường. Sự biến đổi
của nội dung chương trình phản ánh mức độ thích ứng giữa thực tế giảng dạy
với lí luận mới về tiếp nhận văn học.” [34, 5]. Đặc biệt là đối với những tác
phẩm văn học nước ngoài được biên soạn và đưa vào giới thiệu cho học sinh
nhằm giao lưu, mở mang tầm hiểu biết của các em về văn học, văn hóa các
dân tộc khác.
Đã được coi là chuẩn mực trong việc đưa đến cho học sinh những kiến
thức cơ bản và hữu ích nhất, đương nhiên những tác phẩm văn học nước
ngoài được đưa vào chương trình đều phải được chọn lựa kĩ càng, là những
đỉnh cao của văn học các nước và tiêu biểu cho quá trình phát triển lịch sử
văn học thế giới qua các thời đại.
Cách đây gần 60 năm, theo tư liệu nghiên cứu của Mạnh Thị Minh trong
Việt từ khá sớm. Bản dịch Tỳ bà hành được truyển tụng xưa nay, đã từng
được coi là của Phan Huy Vịnh nhưng hiện nay đã được chứng minh là của
Phan Huy Thực - thân phụ của Phan Huy Vịnh. Căn cứ vào thời gian Phan
Huy Thực sống (1779- 1846) thì chúng ta có thể dự đoán: bản dịch Tỳ bà
hành đã ra đời từ những năm đầu thế kỷ XIX. Điều này có liên quan đến luận
điểm của Phan Văn Diêu: “Trong đời làm quan, Huy Thực đã ba lần lên
xuống chức Thượng thư bộ Lễ. Vì lẽ đó, ông đã cảm thông sâu xa với Bạch
Lạc Thiên mà phiên diễn Tỳ bà hành chăng?”
Tới nay, bản dịch Tỳ bà hành có nhiều, song thành công nhất vẫn là
bản dịch của Phan Huy Thực. Đây được coi là một trong hai bản dịch hay
nhất trong lịch sử dịch thuật của nước ta bên cạnh bản dịch tác phẩm Chinh
Phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (nguyên tác của Đặng Trần Côn). Bản
dịch sử dụng thể thơ song thất lục bát- một thể thơ truyền thống của dân tộc
có khả năng biểu cảm mạnh mẽ. Bản dịch hoàn hảo bởi nó giữ được đúng số
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-14
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
câu và số chữ của nguyên tác (88 câu và 616 chữ), soạn giả Phan Huy Thực
đã khéo léo trong việc sử dụng những tiếng đôi, những từ láy trong tiếng
Việt, tăng sức gợi tả, gợi cảm. Quan trọng hơn nó đã thể hiện được tinh thần
của nguyên tác, lột tả được cái “thần”, cái “nhã” của Tỳ bà hành nguyên gốc
chữ Hán. Cho dẫu còn rất nhiều ý kiến khác nhau chỉ ra những thiếu sót của
bản dịch này nhưng đến hôm nay, nó vẫn chứng tỏ sức sống mãnh liệt của
mình trong nền văn học dân tộc.
Ngay từ những năm đầu tiên khi Đường thi được đưa vào giới thiệu
trong chương trình SGK PT, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị đã được chọn lựa.
Không những vậy, thi phẩm còn được đưa vào giảng chính dù dung lượng
không nhỏ và sự tiếp cận thấu đáo tinh thần bài thơ không phải là một công
việc giản đơn.
Theo nghiên cứu của Mạnh Thị Minh, năm 1990, Đường thi chính thức
của người ca nữ.
a. Người ca nữ đã đánh đàn 3 lần. Hãy nêu lên sự hợp lí trong việc
phân bố mức độ miêu tả ở mỗi lần. (Lần đầu không thể tả cụ thể vì chỉ thoảng
nghe ở xa. Lần thứ 3 tâm tư hai người đã hòa quyện vào nhau, tác giả không
thể, không nỡ và cũng không cần miêu tả dài dòng.)
b. Tác giả đã dùng những phương pháp nào để miêu tả tài nghệ của
người ca nữ? (Miêu tả hiệu quả, tác dụng của tiếng đàn: miêu tả trực tiếp các
yếu tố của âm nhạc- âm sắc, cường độ, cao độ, trường độ- bằng tỉ dụ, miêu tả
dung nhan, động tác, miêu tả gián tiếp bằng cảnh sắc thiên nhiên)
c. Tác giả đã tập trung miêu tả những thời điểm nào của quá trình diễn
tấu bản nhạc? (Lúc vặn trục lên dây dạo qua đôi ba tiếng, lúc ngắt, lúc đến
cao trào và lúc ngừng hẳn)
d. Tại sao có thể nói 2 câu 17 và 18 là linh hồn của cả đoạn trích? Vì
sao nhà thơ đã nhanh chóng trở thành kẻ “tri âm” của người ca nữ như vậy?
e. Đoạn trích gợi cho ta liên tưởng tới đoạn nào trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du?”[4, 63- 64]
Có thể thấy, trong phần Hướng dẫn đọc bài của người biên soạn nhằm
giúp học sinh và giáo viên có những định hướng trong việc tiếp cận và tìm
hiểu đã đưa ra một hệ thống câu hỏi hết sức chi tiết, chủ yếu tập trung vào
việc lột tả được cái thần thái kỳ diệu của tiếng đàn người kỹ nữ. Sau khi nêu
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-16
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
câu hỏi, soạn giả không quên gợi ý cho học sinh tìm hiểu bài, gợi ý cách trả
lời theo hướng mà họ đã định sẵn trong phần ngoặc đơn đi kèm. Đây là cách
giảng nghĩa tỉ mỉ, cặn kẽ của người biên soạn- có thể thấy họ là những người
có một tầm hiểu biết rộng về văn học Trung Quốc nói chung cũng như
Đường thi và tác phẩm Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị nói riêng. Nó cho thấy
rất rõ cách dạy và học thời kỳ những năm 1990. Đó là cách dạy theo lối gần
như áp đặt một chiều, chưa khai thác được thực sự khả năng sáng tạo, chủ
cho học sinh tìm hiểu tác phẩm, câu hỏi đã được biên soạn lại theo hướng
gợi mở nhiều hơn. Như thế, tính tích cực, năng động của học sinh- chủ thể
tiếp nhận đã được chú ý. Sự thay đổi này phản ánh rất sâu sắc sự thay đổi
trong nhận thức và quan điểm của các nhà biên soạn bấy giờ, đồng thời
cũng phản ánh sự thay đổi trong chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng
và Nhà nước ta thời điểm đó. Ai cũng biết, trước khi đến với sự tiếp nhận
của học sinh THPT thì thi phẩm này đã trải qua một sự tiếp nhận có tính
thẩm mỹ chuyên biệt của các soạn giả. Họ đọc tác phẩm với tinh thần trách
nhiệm cao, là loại độc giả “đặc biệt”, có chuyên môn và hiểu thấu đáo, sâu
sắc cái “thần”, cái “nhã” của tác phẩm. Thế nhưng việc “đọc” của họ lại
hướng về những đối tượng đa dạng khác nhau. Không phải giáo viên nào
khi soạn giáo án hay học sinh nào khi soạn bài học ở nhà, thậm chí được
giảng dạy chính trên lớp có thể hiểu sâu sắc Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị
ngay lập tức. Mỗi độc giả lại có một trình độ và nền kiến thức ban đầu
không giống nhau, bởi vậy tầm đón nhận đối với văn bản cũng vì lẽ đó mà
rất khác nhau.
Hiểu được nguyên tắc đó, trong phần Hướng dẫn học bài, các nhà biên
soạn sách đã cố gắng phát huy tối đa tính gợi mở của câu hỏi cũng như qua
đó thúc đẩy sự chủ động trong việc “đọc” của học sinh. Có khá nhiều câu hỏi
được đưa ra xoay quanh tác phẩm cần tìm hiểu, nội dung gần như vẫn giống
với phần câu hỏi trong SGK 1990, chỉ khác biệt ở chỗ đã có sự lược bỏ hết
những phần gợi ý đi sâu vào tác phẩm trong ngoặc đơn như trước và thêm
một số những gợi ý khác giúp học sinh hiểu rõ thi phẩm hơn. Có thể thấy rất
rõ điều đó khi đọc một số câu hỏi được đưa ra trong mục này:
“1. Tóm tắt câu chuyện diễn ra trong Tỳ bà hành. Giữa cốt truyện có thể
rút ra từ tác phẩm và câu chuyện nhà thơ kể lại trong lời tựa có chỗ nào
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-18
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
không giống nhau? Thử tìm hiểu nguyên nhân và lí giải ý nghĩa của những
-19
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
gợi mở, hướng học sinh đến những cách đọc đa chiều, tìm hiểu tác phẩm từ
nhiều góc độ cũng như để học sinh tranh luận với nhau về những ý kiến trái
chiều đang tồn tại trong giới dịch giả, nghiên cứu phê bình nhằm giúp những
chủ thể tiếp nhận này thêm phần năng động, chủ động chiếm lĩnh tác phẩm.
Qua cách gợi mở “có người cho rằng…” và trả lời lựa chọn “đúng”, “sai”,
học sinh có cơ hội đưa ra ý kiến riêng. Từ đó chính chủ thể tiếp nhận cũng có
sự thâm nhập sâu hơn vào tác phẩm, hiểu tác phẩm và lĩnh hội nó theo cách
riêng của bản thân mình.
Theo nghiên cứu của Mạnh Thị Minh (sđd), trong chương trình SGK PT
từ năm 1990 (khi Đường thi chính thức được đưa vào giảng dạy) đến 2006,
Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị có tần số được lựa chọn vào chương trình là rất
nhiều, 8 lần. Năm 1990, năm 1993, 1994, 1995, 1997, 2000, 2003 và 2006.
Khi thì thi phẩm được lựa chọn vào giảng chính (1990), lúc lại đưa vào phần
đọc thêm (năm 1993, 1997, ban KHTN), từ sau 1995 lại trả vị trí cho nó về
giảng chính. Sự sàng lọc này chứng tỏ giá trị thầm mỹ của Tỳ bà hành cũng
như chứng tỏ sự phù hợp nội dung của nó với đối tượng tiếp nhận và đáp ứng
mục tiêu giáo dục của chế độ.
Năm 2000, trong bộ SGK Văn học 10 (tập 2, Phần Văn học nước ngoài
và Lí luận văn học, NXB GD 2000, Nguyễn Hải Hà và Lương Duy Trung
chủ biên), tác phẩm Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị được giới thiệu với tổng
quan nội dung tương tự như sách năm 1994 dù đã có sự chỉnh lí, sửa đổi. Có
sự thay đổi dễ nhận ra ở cách trình bày, sắp xếp và đặt tên cho các đề mục
của người biên soạn: Tác giả và tác phẩm (cuối mục này có phần chú thích 1
từ khó: Tinh thần “phúng thích”: có nghĩa là châm biếm, phê phán, chưa đến
mức đả kích), Giảng văn (trích dẫn phần dịch thơ của Phan Huy Vịnh), chú
thích, cuối cùng là phần Hướng dẫn học bài. Các câu hỏi trong phần Hướng
dẫn học bài vẫn được giữ nguyên so với SGK năm 1994, riêng ở câu 5 có bổ
sung thêm “Lại có ý kiến cho Tỳ bà hành cơ bản là một bài thơ tự sự và
Năm 2006, Tỳ bà hành được tuyển lựa giảng dạy trong chương trình
nâng cao. Có thể bởi dung lượng dài rất khó khăn cho việc cảm nhận trọn vẹn
của học sinh THPT nên trong chương trình học cơ bản, tác phẩm đã không
được đưa vào giảng dạy. Tác phẩm cần có một sự cảm nhận, tiếp nhận ở trình
độ cao hơn, sâu sắc hơn như ở bậc đại học và sau đại học.
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-21
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
Cho đến nay, từ năm 2008, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị không được đưa
vào chương trình SGK PT lớp 10 nữa. Có thể dung lượng tác phẩm quá dài
và việc tiếp nhận trọn vẹn nó không phải là điều đơn giản đối với học sinh
trình độ THPT. Mặt khác, nó cũng thể hiện sự thay đổi trong chủ trương,
chính sách của Nhà nước về Giáo dục, đặc biệt là vấn đề đổi mới SGK đang
rất được quan tâm trong nhà trường cũng như dư luận hiện nay.
Như vậy, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị ngay từ ban đầu được lựa chọn
vào chương trình học PTTH đã được vào giảng dạy chính thức. Điều đó cho
thấy rất rõ những thành công xuất sắc về nội dung cũng như nghệ thuật tài
ba của thi phẩm này. Năm 1993 và 1997, tác phẩm đưa vào phần Đọc thêm
trong sách phân ban KHTN có lẽ nhằm tránh sự quá tải cho chuyên ban này.
Từ 1995 trở đi, tác phẩm lại tiếp tục được lựa chọn vào giảng chính trong
chương trình. Tuy nhiên, hầu hết, các bộ SGK PT đều chỉ dừng lại ở việc
trích văn bản dịch chứ chưa có phần chữ Hán hay phiên âm chữ Hán. Điều
đó đã hạn chế phần nào sự tiếp nhận văn bản của học sinh khi chỉ được tiếp
xúc với văn bản dịch. Dù cho văn bản dịch được coi là thành công hơn cả,
thậm chí có người còn coi bản dịch của Phan Huy Thực là một tác phẩm văn
học thực sự của Việt Nam thì ở một khía cạnh nào đó, vẫn tác động không
nhỏ đến sự tiếp nhận của độc giả, cụ thể là học sinh THPT. Nói như Nguyễn
Quốc Siêu thì: “Dịch thơ, dù rằng rất tài ba thì chí ít cũng là làm cái công
việc phủ lên bức tranh đẹp một tấm màn mỏng, làm mờ đi những đường nét
tinh tế.” [24, 66]
nên việc tìm hiểu, phân tích nó trong nhà trường còn nhiều khó khăn, hạn
chế. Chính vì vậy mà trong nhiều sách tham khảo, các bài phân tích, bình
giảng Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị không phải là hiếm. Rất nhiều cuốn sách
phân tích theo các tác phẩm được giảng dạy trong chương trình PTTH.
Năm 1995, Hồ Sĩ Hiệp biên soạn cuốn Thơ Đường ở trường PT (NXB
Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh), trong đó có phân chia hẳn chương trình
PTCS và chương trình PTTH. Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị cũng là một
trong số những tác phẩm được phân tích. Có thể coi đây cũng là một bài
giảng dạy, định hướng cho học sinh trong quá trình tìm hiểu tác phẩm. Tác
giả có trích phần dịch thơ (đánh số theo đầu mỗi khổ chi tách) do Phan
Huy Vịnh dịch và đi vào phân tích nôi dung cũng như nghệ thuật của tác
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-23
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
phẩm. Vì là tài liệu tham khảo cho học sinh PTTH nên cách phân tích cũng
hết sức bài bản, bao quát cả nội dung và nghệ thuật tác phẩm này. Về nội
dung, tác giả làm rõ hai ý lớn: tiếng kêu than của một người phụ nữ kỹ nữ
bị giày vò khổ đau về vật chất và tinh thần trong xã hội phong kiến Trung
Quốc; lời tố cáo của một kẻ tài hoa bị chà đạp. Trong quá trình phân tích
nội dung, người viết đã chia đoạn hết sức tỉ mỉ, đoạn I: từ câu 1 đến câu 14
là cuộc gặp gỡ tình cờ, đoạn II: câu 15 đến câu 82: miêu tả bản đàn, đoạn
III: còn lại, người kỹ nữ đánh đàn khiến Tư Mã Giang Châu rơi lệ. Trong
từng đoạn, Hồ Sĩ Hiệp lại phân chia các đoạn nhỏ hơn với những nội dung
cụ thể của từng câu thơ. Có cảm giác đó là sự diễn xuôi nội dung văn bản,
sự chia tách quá nhỏ dù khiến việc đọc dễ dàng hơn nhưng lại nghiêng về
kể lại diễn biến câu chuyện hơn là cảm nhận nó. Về nghệ thuật, người viết
phân tích những đặc trưng tiêu biểu cho thơ Bạch Cư Dị như: nghệ thuật tả
cảnh xen tả tâm trạng của con người, kết cấu “Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị
là cả một khối sầu hận không cùng trên mấy đường tơ. Hết thảy mọi chi
tiết trong bài thơ đều xoay quanh bản đàn minh diễm mà kích thích tố mỗi
sinh trong quá trình tìm hiểu tác phẩm. Điều đáng chú ý là ở đây, so với
cách bình giảng năm 1995 của Hồ Sĩ Hiệp, Vũ Tiến Quỳnh đã có ý thức
hướng học sinh đến văn bản gốc, phiên âm chữ Hán để từ đó có những so
sánh, làm nổi bật thành công của bản dịch Phan Huy Vịnh. Học sinh có cái
nhìn bao quát hơn và có cách “đọc” mới mẻ hơn, rất giúp ích cho việc học
những tác phẩm văn học nước ngoài nói chung.
Tiếp tục việc giảng nghĩa Tỳ bà hành trong SGK PT, năm 2004,
Trần Ngọc Hưởng cho ra đời cuốn Thơ Đường trong nhà trường (NXB
Tổng hợp Đồng Nai). Cuốn sách có phân tích, giảng bình tất cả những tác
phẩm có trong chương trình THPT, kể cả những bài đọc thêm. Tỳ bà
hành của Bạch Cư Dị có trích dẫn đầy đủ Nguyên bản chữ Hán, Phiên âm
(chia khổ 5 câu một), Chú thích cho phần Phiên âm khá nhiều (53 từ, câu
khó), Dịch nghĩa và Dịch thơ (bản dịch của Phan Huy Vịnh, lấy từ Thơ
Đường, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1987), có 12 chú thích cho phần
dịch thơ. Cuối cùng là trích lời bình của Nguyễn Xuân Nam và bình giảng
của Hoắc Tùng Lâm (do Nguyễn Khắc Phi dịch). Lời bình của Nguyễn
Xuân Nam cho rằng đây là một bản dịch mẫu mực, đồng thời gợi ý chia
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-25