luận văn tài chính ngân hàng PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI côngNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH ViênN 189 THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP - Pdf 27

1
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

KHOÁ LUẬN TỐT
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 189
THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP

Giáo viên hướng dẫn: TH.S Nguyễn Thị Đào
Sinh viên thực hiện : Bùi Ngân Hà
Khoa: Tài chính
Lớp: TCDN B - K11
HÀ NỘI - 2012
2
LỜI CÁM ƠN
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới ban Giám đốc học viện cũng các thầy cô trong Học viện
ngân hàng đã truyền tài cho em những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại Học
viện.
Em xin trân trọng cảm ơn Quý Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam đã giúp đỡ em, cung
cấp thông tin, số liệu để giúp em hoàn thành bài chuyên đề này.
Việc xây dựng và hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro thanh khoản là một vấn đề tương đối mới
tại các NHTM Việt Nam. Mặt khác, do những hiểu biết thực tế của em về lĩnh vực này còn
hạn chế, dù rất cố gắng nhưng bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy,
em rất mong được ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các anh chị và các bạn đọc
quan tâm đến vấn đề này để bài chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 TCB
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương

www.techcombank.com.vn
www. VnEconomy.com.vn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định sự an toàn
trong hoạt động của bất kì NHTM nào. Trong thế giới ngày nay, nhiều ngân hàng
đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng thanh khoản, khi mà sự cạnh tranh khốc
liệt về thu hút tiền gửi buộc các ngân hàng phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác. Khả
năng thanh khoản không hợp lý là dấu hiệu đầu tiên của tình trạng bất ổn về tài chính
của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, cơ hội và rủi ro trong
quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại cũng gia tăng tương ứng. Điều
này cho thấy tầm quan trọng của việc kế hoạch được nhu cầu thanh khoản bằng các
phương pháp mang tính ổn định và chi phí thấp để tài trợ cho hoạt động của các ngân
hàng thương mại trong thế giới cạnh tranh ngày càng gia tăng.
Năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Khủng
hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới
vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị
trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác của
nước ta. Tình hình chung như vậy tác động không nhỏ vào các ngân hàng thương
mại, làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng. Trong đó, quản trị thanh
khoản là vấn đề rất quan tâm của các ngân hàng.
Cho đến năm 2012, vấn đề thanh khoản vẫn là vấn đề quan trọng nhất và được
nhắc đến nhiều nhất của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước
đã đưa ra rất nhiều biện pháp cải thiện thanh khoản trong hệ thống ngân hàng như tái
cấu trúc ngân hàng, áp trần lãi suất huy động xuống còn 12%, giảm lãi suất cho vay
trên thị trường liên ngân hàng… Tuy nhiên vấn đề thanh khoản của ngân hàng vẫn
chưa thực sự hạ nhiệt bởi: cốt lõi vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản vẫn chưa được
các ngân hàng thương mại Việt Nam quan tâm thích đáng, cơ cấu dự trữ chưa hợp lý,
tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng cao, phương pháp xác định nhu cấu thanh khoản chưa
6

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ RỦI RO
THANH KHOẢN
1.1.1. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản
1.1.1.1. Thanh khoản và trạng thái thanh khoản trong một NHTM
a) Thanh khoản
Dưới góc độ tài sản: Thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền
của tài sản. Dưới góc độ ngân hàng: Thanh khoản được hiểu là khả năng ngân hàng
sử dụng, tìm kiếm các nguồn tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả hoặc cấp tín
dụng của khách hàng trong từng thời điểm cụ thể.
Khả năng và yêu cầu thanh khoản thể hiện trong cung thanh khoản và cầu thanh
khoản của ngân hàng.
 Xác định cầu thanh khoản
Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các hoạt động của ngân hàng. Đối với
hầu hết các ngân hàng, cầu về vôn khả dụng xuất hiện từ hai nguồn chính: (1) Khách
hàng đến rút tiền gửi: (2) Yêu cầu tín dụng từ những khách hàng mà ngân hàng mong
muốn đáp ứng.
 Xác định cung thanh khoản
Chính là khả năng cung ứng tiền của một NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanh
toán của khách hàng. Nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất là tiền gửi của khách
hàng. Một bộ phận quan trọng đối với cung thanh khoản của ngân hàng là nguồn
thanh toán nợ của khách hàng và nguồn thu từ việc bán tài sản: đặc biệt là các chứng
khoán trong danh mục đầu tư của ngân hàng. Hoạt động này tạo ra nguồn vốn mới để
đáp ứng các yêu cầu thanh khoản. Vốn thanh khoản cũng được tạo ra từ doanh thu
bán các dịch vụ tài chính và từ hoạt động vay nợ trên thị trường tiền tệ.
Cung thanh khoản Cầu thanh khoản
- Các khoản tiền gửi sẽ nhận được
- Thu nhập từ lãi và việc cung cấp các

thanh khoản trong tương lai.
• Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung
thanh khoản (NLP<0) -> ngân hàng phải giải quyết vốn thanh khoản bổ sung sẽ
huy động ở đâu và vào lúc nào.
1.1.1.2. Rủi ro thanh khoản
Hoạt động của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro, trong đó rủi ro thanh khoản xảy ra
đối với ngân hàng là thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả. Nguyên nhân chính xuất
phát từ đặc điểm mang tính đặc thù của bảng cân đối tài sản là: ngân hàng đã dùng
các nguồn vốn ngắn hạn bên tài sản nợ để tài trợ cho tài sản bên tài sản có. Ngoài ra
khi người gửi tiền nhận thấy ngân hàng gặp rắc rối về thanh khoản, thì đồng loạt rút
tiền ngay lập tức khỏi ngân hàng; hành động rút tiền của những người gửi tiền có tính
lây lan và phản ứng dây truyền nhanh chóng, rộng khắp. Các rủi ro như rủi ro lãi
suất, tỷ giá, tín dụng…có thể đe dọa đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân
hàng, nhưng rủi ro thanh khoản là một vấn đề thông thường xảy ra hàng ngày đối với
hoạt động ngân hàng. Vì vấn đề thanh khoản là vấn đề thường nhật, cho nên một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với nhà quản lý ngân hàng là bảo đảm
khả năng thanh khoản một cách thường xuyên, liên tục và đầy đủ.
Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có đủ vốn khả dụng ( cung
thanh khoản) với chi phí hơp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng
cầu thanh khoản. Từ đó mà khi ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ làm giảm uy tín,
ảnh hưởng đến sự an toàn và khả năng chi trả của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản nếu phát sinh với quy mô lớn mà ngân hàng không có
biện pháp đáp ứng kịp thời thì sẽ dẫn đến nguy cơ khủng hoảng thanh khoản.
1.1.2. Biếu hiện của rủi ro thanh khoản
- Ngân hàng tăng lãi suất cao bất thường. Đây chính là dấu hiệu ngân hàng đang
rất cần vốn. Khi có nhu cầu cao về vốn, ngân hàng sẽ đẩy lãi suất huy động cao cùng
với nhiều hình thức khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng.
- Bị mất uy tín trên thị trường: Khi ngân hàng bị giảm uy tín trên thị trường,
điều đó cũng có nghĩa là lòng tin của công chúng vào ngân hàng sẽ giảm đi. Một mặt,
khách hàng sẽ hạn chế hoặc không gửi tiền vào ngân hàng, điều này khiến cho cung

- Nguyên nhân thứ hai: Sự nhạy cảm của tài sản chính với những thay đổi lãi
suất. Khi lãi suất tăng nhiều người gửi tiền sẽ rút ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi
suất cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoàn lại, hoặc rút hết số dư hạn
mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thỏa thuận. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh
hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi vào cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng sẽ ảnh
hưởng đến thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra, lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến thị
giá của tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng
đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
- Nguyên nhân thứ ba: Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một
cách hoản hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm sói mòn niềm tin của khách
hàng vào ngân hàng. Một trong những công việc quan trọng đối với các nhà quản lý
ngân hàng là luôn giữ liên hệ chặt chẽ với khách hàng có số dư tiền gửi lớn và khách
hàng có hạn mức tín dụng chưa sử dụng hết, để biết kế hoạch của họ khi nào thì rút
tiền và rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản thích hợp.
b) Nguyên nhân từ hoạt động: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bên
tài sản nợ hay bên tài sản có của ngân hàng.
- Nguyên nhân bên tài sản nợ: Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ khi
nào, có những người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức. Khi những người gửi
tiền rút tiền đột ngột, buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc bán bớt tài sản để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản.
- Nguyên nhân bên tài sản có: Rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các
cam kết tín dụng. Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiền vay bất
cứ lúc nào trong thời hạn của nó. Khi cam kết tín dụng được người vay thực hiện thì
ngân hàng phải có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nếu
không ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Tương tự như bên tài sản nợ,
để đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài sản có, ngân hàng có thể giảm số dư tiền
mặt, chuyển hóa các tài sản khác thành tiền, hoặc đi vay các nguồn vốn bổ sung trên
thị trường tiền tệ.
1.2. QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG

giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng hai tiểu chí:
Tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro, tức là mức độ nghiêm trọng của
tổn thất, đây là tiêu chí có vai trò quyết định.
 Kiểm soát phòng ngừa rủi ro
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro. Đó là việc sử dụng các biện
pháp, kĩ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng
tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy
ra với ngân hàng. Các biện pháp kiểm soát có thể là: phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa
tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin…
 Tài trợ rủi ro
Mặc dù đã thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra.
Khi đó cần phải theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân
lực hoặc về giá trị pháp lý. Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp. Nhìn
chung, các biện pháp này được chia thành hai nhóm: tự khắc phục và chuyển giao rủi
ro.
1.2.2. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro thanh khoản
Các ngân hàng phải đối mặt với vẫn đề thanh khoản hàng ngày trong hoạt động
kinh doanh của mình. Vì vậy, quản trị thanh khoản hay là quản trị rủi ro thanh khoản
là vẫn đề rất cần thiết, yêu cầu cần phải được thực hiện một cách thường xuyên liên
tục, nó xuất hiện từ những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất: Có sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Nếu ngân
hàng càng tập trung nhiều về vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thì khả năng sinh
lời dự tính sẽ càng thấp và ngược lại. Như vậy, vấn đề đặt ra của các ngân hàng thực
hiện quản trị thanh khoản một mặt để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, mặt khác là đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết cho
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ hai: Nếu rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ để lại những hậu quả lớn, mức độ
nhẹ sẽ là giảm thu nhập và uy tín của ngân hàng, mức độ nghiêm trọng đó là ngân
hàng bị phá sản và có thể kéo theo cả hệ thống ngân hàng.
Thứ ba: Trong các trường hợp đặc biệt, rủi ro thanh khoản đẩy ngân hàng vào

- Những thay đổi dự tính trong cho vay và tiền gửi cần phải được tính toán
cho giai đoạn kế hoạch.
- Ước lượng trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng, thâm hụt hay
thặng dư, trong giai đoạn kế hoạch bằng cách so sánh mức thay đổi dự tính trong cho
vay và mức thay đổi dự tính trong tiền gửi.
Sử dụng dự báo về cho vay và tiền gửi từ những mô hình nêu trên, nhà quản lý
thanh khoản có thể ước tính yêu cầu thanh khoản đối với ngân hàng bằng cách tính
sau:
Mức thâm hụt (-) = Thay đổi dự tính - Thay đổi dự
hay thặng dư (+) thanh
khoản dự tính
= trong tổng tiền gửi -
tính trong tổng cho
vay
Một cách tiếp cận có phần đơn giản hơn trong việc ước tính lượng tiền gửi và cho
vaytrong tương lai là phan chia dự báo về sự tăng trưởng của tiền gửi và cho vay thành
ba bộ phần chính:
- Phần xu hướng ;Ngân hàng có thể ước tính phần này bằng cánh xây dựng một đường
xu thể sử dụng giá trị tại các thời điểm cuối năm,cuối quý, cuối tháng đối với tổng tiền
gửi và cho vay trong vòng ít nhất 10 năm gần đây ( hoặc theo một cơ sở thời gian, đủ
dài để xác định xu hướng hay tỉ lệ tăng trưởng dài hạn bình quân)
- Phần mùa vụ: Phần này đo lường sự thay đổi của tổng tiền gửi và cho vay trong
những tuần, những tháng nhất định dưới tác động của yếu tố thời vụ trên cơ sở so sánh
với mức tiền gửi và cho vay tại thời điểm cuối năm gần nhất.
- Phần chu kì: phần này thể hiện sự sai lệch so với tổng lượng tiền gửi và cho vay dự
tính, phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế trong năm.
b) Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn
Nếu như phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn giúp ngân hàng đo lường cả
nguồn cung và nguồn cầu thanh khoản thì phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn chỉ
quan tâm đến cầu nguồn vốn. Đây là phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa

thanh khoản của ngân hàng được xác định bằng tổng yêu cầu dự trữ thanh khoản vốn
và yêu cầu thanh khoản về cho vay:
Tổng dự trữ thanh ═ Dự trữ thanh khoản vốn + Dự trữ thanh khoản cho
khoản vay
Bước 5: Để dự đoán thanh khoản một cách chính xác hơn, nhà quản trị tiếp tục
xây dựng các kịch bản trong điều kiện khác nhau và xác định xác suất xảy ra cho
từng kịch bản. Khi đó yêu cầu thanh khoản dự tính là:
Yêu cầu thanh khoản dự tính = ∑Pr(xi) * NLPxi
Trong đó:
xi: Các kịch bản được xây dựng
Pr(xi): xác suất kịch bản I xảy ra
NLPxi: Trạng thái thanh khoản của kịch bản i
Tuy nhiên, yêu cầu thanh khoản đối với tiền gửi và cho vay trong phương
pháp trên đều là những ước lượng mang tính chủ quan, cơ bản dựa trên sự đánh giá
kinh nghiệm và quan điểm của nhà quản lý về vấn đề rủi ro.
c) Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản
Phương pháp này còn gọi là phương pháp truyền thống hay phương pháp phân
tích thanh khoản tĩnh. Đây là phương pháp quản lý thanh khoản bằng cách phân tích
các chỉ số rút ra từ bảng tổng kết tài sản và cơ sở dữ liệu hiện đại, từ đó đưa ra giới
hạn cho các chỉ số thanh khoản.
- Chỉ số trạng thái tiền mặt
Tiền mặt + tiền gửi đến hạn tại các TCTD khác
Chỉ số trạng thái tiền mặt =
Tổng tài sản có
Chỉ số này thể hiện khả năng thanh toán nhanh của ngân hàng tại thời
điểm báo cáo. Về lý thuyết, nếu chỉ số trạng thái tiền mặt càng cao thì ngân hàng
càng có khả năng thanh toán tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời. Tuy
nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao thì lại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng bởi vì đây là
tài sản không sinh lời hoặc hầu như không sinh lời cho ngân hàng. Điều này thể hiện
20

Dư nợ cho vay
Chỉ số cho vay/ tiền gửi =
Tiền gửi của khách hàng
Đây là chỉ tiêu thể hiện khả năng tự huy động để sử dụng cho vay (tự cấp tín
dụng) cả ngân hàng tại thời điểm báo cáo. Dư nợ cho vay được xem là những tài sản
ít thanh khoản nhất và đem lại lợi tức cao nhất, do vậy nếu chỉ tiêu này càng lớn thì
khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ càng thấp tuy nhiên lại đem lại lợi nhuận
nhiều hơn cho khách hàng.
- Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
Chỉ tiêu nguồn vốn dư nợ trung, dài hạn – Nguồn vốn trung, dài hạn
ngắn hạn cho vay =
trung, dài hạn Nguồn vốn ngắn hạn
Chỉ tiêu này thể hiện viêc ngân hàng đã sử dụng bao nhiêu % các nguồn vốn
ngắn hạn để tài trợ cho trung, dài hạn. Chỉ tiêu này càng thấp thì khả năng thanh
khoản của ngân hàng càng cao và ngược lại.
- Chỉ số tiền nóng
Tiền trên thị trường tiền tệ
Chỉ số tiền nóng =
Vốn trên thị trường tiền tệ
Đây là chỉ số phản ánh tương quan giữa vốn vay trên thị trường tiền tệ và tài sản
trên thị trường tiền tệ, tài sản có thể bán được nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu rút
vốn từ thị trường tiền tệ. Tiền nóng là loại tài sản nhạy cảm với lãi suất, thường bao
gồm: Tiền mặt, chứng khoản ngắn hạn, tiền gửi không kì hạn và các tài sản khác có
thể chuyển hóa thành tiền trong ngắn hạn. Nếu chỉ số tiền nóng của ngân hàng mà
cao thì tính thanh khoản của ngân hàng càng tốt.
- Chỉ số đầu tư ngắn hạn trên vốn nhạy cảm
Đầu tư ngắn hạn
22
Tỷ số đầu tư ngắn hạn trên vốn =
nhạy cảm Vốn nhạy cảm

ngột.
Các dòng tiền vào có thể được xếp thứ tự theo ngày mà các TSC đáo hạn
hoặc căn cứ vào ước tính của ngân hàng về dòng tiền.
Bước 2: Dự báo các dòng tiền trong kịch bản khác nhau thông qua việc xem
xét trong các điều kiện bình thường, điều kiện ngân hàng gặp khó khăn và điều kiện
của thị trường gặp khó khăn.
Từ đó, xác định trạng thái thanh khoản ròng và có chính sách đưa ra phù
hợp với trạng thái đó.
1.2.3.2 Phương pháp hiện đại
Phương pháp quản lý thanh khoản hiện đại ( còn gọi là phương pháp
phân tích thanh khoản động) là phương pháp đánh giá trạng thái thanh khoản của
ngân hàng bằng cách dự đoán cung, cầu thanh khoản, dự đoán khe hở thanh khoản, từ
đó đưa ra quyết định quản lý thanh khoản bằng những hạn mức, giới hạn thực hiện.
Theo phương pháp này, bộ phận chức năng quản lý thanh khoản cần thực hiện các
công việc sau:
a) Lập báo cáo dự tính thanh khoản:
-Khi lập báo cáo, mọi khoản mục thuộc bảng cân đối kế toán đều phải được báo
cáo bằng cách phân bổ dữ liệu gốc luồng tiền vào, luồng tiền ra đến hạn vào các
dải kì hạn. Đối với những khoản mục không có kì hạn hoặc không có ngày đến
hạn cần thì sử dụng các giả thiết kết hợp với phân tích lịch sử để chia vào các
thang kì hạn thích hợp.
- Xác định lượng tiền ổn định và không ổn định của tiền gửi không kì hạn.
b) Phân tích mô phỏng thanh khoản và xây dựng kịch bản thanh khoản
Thiết lập các kịch bản trong tương lai dựa trên các giả định với xác suất tối thiểu
5%. Các giả định bao gồm:
Giả định thay đổi lãi suất
24
Giả định thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô (lạm phát, tăng trưởng, chu kì, kinh
tế…) và môi trường vi mô ( cạnh tranh của các TCTD khác, uy tín ngân
hàng…)

khoảng thời gian nhất định.
- Thời gian cần phải có để ngân hàng có thể bán một tài sản nhất định
- Ngân hàng có thể bán tài sản tại mức giá nào.
- Khủng hoảng xảy ra là có tính hệ thống hay chỉ cục bộ trong ngân hàng.
- Khả năng ngân hàng có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ cho khách hàng
một cách bình thường hay không.
- Khả năng tạo vốn thanh khoản từ các công cụ phái sinh và các hoạt động
ngoại bảng.
• Điều kiện áp dụng:
Để áp dụng phương pháp này yêu cầu ngân hàng phải có kho dữ liệu tập trung
với cơ sở dữ liệu mạnh phục vụ cho công tác lập báo cáo, phân tích, dự báo. Như vậy
yêu cầu ngân hàng phải có nền tảng cơ sở vật chất cũng như trình độ công nghệ phát
triển ở mức tương đối cao.
Bên cạnh đó với phương pháp này đối tượng là trạng thái thanh khoản trong
tương lai với nhiều yếu tố khách quan tác động lên yêu cầu khả năng phân tích, do
vậy yêu cầu về trình độ cán bộ tác nghiệp cũng là tương đối cao, trong khi đây là hạn
chế phổ biến ở các NHTM Việt Nam hiện nay.
1.2.4. Biện pháp quản trị rủi ro thanh khoản
1.2.4.1. Chiến lược quản trị thanh khoản tài sản
Phương pháp tiếp cận cổ điển nhất trong việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản
được biết đến là quản trị thanh khoản tài sản. Đây là hình thức đơn giản nhất, chiến
lược này kêu gọi ngân hàng tích lũy thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản thanh
khoản cao: chủ yếu là tiền mặt và chứng khoán dễ bán. Khi yêu cầu thanh khoản xuất
hiện, ngân hàng sẽ bán một số tài sản cho tới khi toàn bộ yêu cầu được đáp ứng.
Chiến lược này thường được gọi là chiến lược chuyển đổi tài sản bởi vì vốn thanh

Trích đoạn Cơ cấu tổ chức và quản trị rủiro thanh khoản Nhận biết và dự báo rủiro thanh khoản Phương pháp chỉ số thanh khoản Định hướng côngtác quản trị rủiro thanh khoản tại NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam Xây dựng những nguyên tắc, định hướng về quản trị rủiro thanh khoản hướng dần theo chuẩn mực quốc tế.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status