Với vai trò một Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường các bạn hãy nêu lên những ý kiến va giải pháp để bảo vệ môi trường tài nguyên thiên nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOAĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

GVHD: Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ
1
ĐỀ TÀI 3 : Với vai trò một Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi
Trường các bạn hãy nêu lên những ý kiến va giải pháp để bảo
vệ môi trường tài nguyên thiên nhiên trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhóm 18 : chọn vấn đề liên quan đến tài nguyên không khí.
Nội dung chính:
I/ Đặt vấn đề và nêu thực trạng
II/ Nguyên nhân.
III/ Đưa ra những giải pháp.
2
I/ Đặt vấn đề và thực trạng.
1/ Đặt vấn đề:
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với
môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta. Ô nhiễm môi
trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là
gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi
khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công
nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm
môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí
theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng
quan trọng. Ta xét trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa:
a) Trước đổi mới:

sự thật” đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và cả chủ
trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960-1985.
Từ việc chỉ ra sai lầm,khuyết điểm,Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa
nội dụng chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những năm còn
lại,và đã có bước đột phá mới trong nhận thức về khái niệm công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
“Công nghiệp hóa,hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất,kinh doanh,dịch vụ và quản lý kinh tế,xá hội từ
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động cùng với công ngh,phương tiện và phương pháp tiên tiến,hiện đại,dựa
trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ,tạo ra năng
suất lao động xã hội cao”.
Ngoài ra thông qua các Đại hội VII (1-1994), VIII (6-1996), IX (4
-2001), X (4-2006), XI (2-2011) đã bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới
về mục tiêu,con đường công nghiệp ở nước bụi rút ngắn,về công nghiệp hóa,
hóa hiện đại hóa gắn liền với tri thức,phát triển nhanh và bền vững.
⇒ Như vậy thông qua các Đại hội của Đảng và Cơ chế kế hoạch
hoạch hóa tập trung quan liêu,bao cấp,bên canh mặt tốt thì quá trình công
công nghiệp hóa,hiện đại hóa đã tác động,và để lại nhiều hậu quả cho môi
trường,một trong những vấn đề nghiệm trọng là ô nhiễm môi trường không
khí.
5
2/ Thực trạng :
• Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có không khí ô nhiễm nhất thế giới, theo
một nghiên cứu thường niên về môi trường do các trường đại học của Mỹ
thực hiện và công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos mới đây.
• Việt Nam xếp thứ 79/132 trong đánh giá tổng thể môi trường. Tuy nhiên,
về chỉ số ô nhiễm không khí, Việt Nam xếp thứ 123. Về gánh nặng bệnh
tật do môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 77. Đối với chỉ số nguồn nước
ảnh hưởng tới sức khoẻ, Việt Nam được xếp ở vị trí 80. Iraq xếp cuối

II. Các nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm không khí
2.1. Xe máy nguồn gây ô nhiễm chính :
• Hoạt động GTVT là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi
trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí (chiếm tỷ lệ 70%). Nó gây ô nhiễm
lớn nhất đối với môi trường không khí, đặc biệt là sự phát thải các khí CO,
VOC và NO2. Hiện nay cả nước có khoảng trên 2 triệu xe ô tô các loại và
khoảng 38 triệu xe máy với tỷ lệ tăng hàng năm khoảng từ 10 - 12%, đây
chính là nguyên nhân gây ra tăng nồng độ các các loại khí thải độc hại như:
SO2, NO2, CO, CH… trong thành phần không khí, theo một số dự báo thì
nồng độ các chất thải độc hại nêu trên tại các nút giao thông trên địa bàn TP
Hà Nội vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 7-10 lần và ngày càng tăng thêm
trong các năm gần đây.
• Lượng phát thải các khí này tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển về số
lượng các phương tiện giao thông đường bộ. Xét trên phương tiện tham gia
giao thông thì thải lượng ô nhiễm không khí từ xe máy là tương đối nhỏ,
trung bình một xe máy xả ra lượng khí thải chỉ bằng 1/4 so với xe ô tô con.
Tuy nhiên, do số lượng xe máy tham gia giao thông chiếm tỷ lệ lớn hơn và
chất lượng nhiều xe đã xuống cấp nên xe máy vẫn là phương tiện đóng góp
nguồn khí thải ô nhiễm chính, đặc biệt là CO và VOC. Trong khi đó, xe tải
và xe khách lại đóng góp các khí thải ô nhiễm là NO2 và SO2.
• Với mật độ các loại phương tiện tham gia giao thông lớn, chất lượng lại kém
và hệ thống đường giao thông chưa tốt thì thải lượng ô nhiễm không khí từ
GTVT đang có xu hướng gia tăng. Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, các
chất gây ô nhiềm từ chất thải của các phương tiện giao thông có động cơ sẽ
xâm nhập vào phổi, thậm chí máu của con người, gây ra các bệnh về mắt và
hệ hô hấp.
• Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo về tác động lâu dài của khí thải xe cơ giới
sẽ dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm như: Vô sinh, ung thư phổi, tim, thận
Như vậy, việc tìm ra biện pháp nhằm giảm thiểu lượng khí thải độc hại do
các phương tiện cơ giới gây ra là một điều cần thiết. Chúng ta bắt lượng khí

bệnh viện đó là chất thải bệnh lý và chất thải lây nhiễm bao gồm: Mô bệnh
phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy,
mô hoặc xác động vật từ phòng thử nghiệm thải ra, các chất thải nhiễm trùng từ
phòng cách ly và các khoa truyền nhiễm, các bông băng thấm dịch hoặc máu,
kim tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng và quá đát Có thể thấy rõ,
• Chất thải rắn y tế nguy hại từ các bệnh viện là nguồn tiềm ẩn lây lan bệnh tật,
gây ô nhiễm môi trường nước và đất, tác động tới môi trường sinh thái và sức
khỏe cộng đồng
• Vậy nên, nguồn Chất thải rắn y tế nguy hại từ các bệnh viện cần phải được
kiểm soát nghiêm ngặt và xử lý đạt yêu cầu của tiêu chuẩn môi trường quy
định.
2.3. Ô nhiễm do các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp
• Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đương nhiên là kéo
theo đô thị hoá. Theo kinh nghiêm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm môi
trường cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng
10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó GDP công nghiệp
khoảng 8-9%/năm, mức đô thị hoá từ 23% năm lên 33% năm 2000, thì đến
năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể tăng lên gấp 2,4 lần so với
bây giờ, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng có thể gấp đôi
mức hiện nay.
• Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công nghiệp này cùng với 195
cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống
sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m3 nước thải công nghiệp,
trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu
ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ,
15 tấn photpho và kim loại nặng. Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi
trường nước của các con sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho
một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ
sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch các dòng
sông.

đối với nước loại A không quá 4 mg/l, với nước loại B không quá 25 mg/l.
Hà Nội cũng đang tiến hành dự án cải tạo môi trường đối với khu công
nghiệp Minh Khai
• Vĩnh Tuy, di dời các nhà máy ra khỏi vùng đô thị đông dân, áp dụng nguyên
tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “Trường hợp tính lệ phí nước thải của
một xí nghiệp công nghiệp”. Thành phố Hồ Chí Minh lập dự án xây dựng
các nhà máy xử lý chất thải công nghiệp Các giải pháp sẽ chỉ có tác dụng
giảm bớt ô nhiễm môi trường nếu mọi người cùng coi trọng và bảo vệ môi
trường bằng y thức và hành động cụ thể của mỗi người.

11
2.4. Các chất ô nhiễm khác trong nước thải
pH của nước thải:
• pH của nước thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý. Các
công trình xử lý nước thải áp dụng các quá trình sinh học làm việc tốt
khi pH nằm trong giới hạn từ 7 đến 7,6. Như chúng ta đã biết môi
trường thuận lợi nhất để vi khuẩn phát triển là môi trường có pH từ 7
đến 8. Các nhóm vi khuẩn khác nhau có giới hạn pH hoạt động khác
nhau. Ví dụ vi khuẩn nitrit phát triển thuận lợi nhất với pH từ 4,8 đến
8,8, còn vi khuẩn nitrat với pH từ 6,5 đến 9,3. Ngoài ra pH còn ảnh
hưởng đến quá trình tạo bông cặn của các bể lắng bằng cách tạo bông
cặn bằng phèn nhôm.
• Nước thải sinh hoạt có pH = 7,2 đến 7,6. Nước thải công nghiệp có
pH rất khác nhau phụ thuộc từng loại công nghiệp.Các xí nghiệp sản
xuất có thể thải ra nước thải có tính acid hoặc kiềm rất cao chẳng
những làm cho nguồn nước không còn hữu dụng đối với các hoạt
động giải trí như bơi lội, chèo thuyền mà còn làm ảnh hưởng đến hệ
thủy sinh vật. Nồng độ acid sulfuric cao làm ảnh hưởng đến mắt của
những người bơi lội ở nguồn nước này, ăn mòn thân tàu thuyền, hư
hại lưới đánh cá nhanh hơn. Nguồn nước lân cận một số xí nghiệp có

và một số sinh vật khác. P2O5 ở nồng độ 0,5 ppm gây trở ngại cho quá trình
tạo bông cặn và lắng trong các nhà máy nước. Phenol ở nồng độ 1 ppb đã
gây nên vấn đề cho các nguồn nước.
Nhiệt:
Các nước thải từ nhà máy nhiệt điện và lò hơi của một số ngành công nghiệp
có nhiệt độ rất cao. Khi thải ra môi trường, nó làm tăng nhiệt độ của các thủy vực
ảnh hưởng đến một số thủy sinh vật và làm suy giảm oxy hòa tan trong nguồn
nước (do khả năng bão hòa oxy trong
nước nóng thấp hơn và vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ sẽ hoạt động mạnh hơn).
Màu (color)
Các nước thải từ nhà máy dệt, giấy, thuộc da, lò mổ có độ màu rất cao. Nó
có thể làm cản trở khả năng khuếch tán của ánh sáng vào nguồn nước gây ảnh
hưởng đến khả năng quang hợp của hệ thủy sinh thực vật. Nó còn làm mất vẽ mỹ
quan của nguồn nước nên rất dễ bị sự
phản ứng của cộng đồng lân cận.
Các chất tạo bọt (foam-producing matter)
Các nước thải từ nhà máy dệt, giấy, các nhà máy hóa chất có chưá các chất tạo bọt,
đây là một dạng ô nhiễm dễ phát hiện và gây phản ứng mạnh của cộng đồng lân
cận.
13
Các chất gây trở ngại cho quá trình xử lý
• Lông vũ làm tắt nghẽn đường ống, dầu bơm.
• Các mảnh mỡ nhỏ làm nghẹt các đầu bơm.
• Cỏ rác làm nghẹt các đầu bơm.
• Các chất khí độc gây nguy hại trực tiếp đến công nhân vậnhành.
• Các chất có khả năng gây cháy nổ.
14
2.5 Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân
• Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và
một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than. Nhân dân ở thành phố thường đun nấu

cơ sở sản xuất.
• Mở rộng các hoạt động “trồng cây gây rừng “ đối với mọi công dân.
15
• Chôn lấp và đốt cháy rác một cách khoa học.
• Xây dựng thêm nhà máy tái chế chất thải.
• Tuyên truyền mọi người cùng nhau giữ gìn vệ sinh chung.
• Thực hiện đúng các luật giữ gìn môi trường.
• Sử dụng nhiên liệu sạch: Trước tiên là đưa vào việc sử dụng xăng không
chì và có lộ trình để loại bỏ dần việc dùng xăng có chì. Tiếp cận với việc
sử dụng các loại nhiên liệu sạch khác như điện, ga, Hydro, năng lượng
mặt trời
• Biện pháp giáo dục cộng đồng
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status