những nhân tố và giải pháp đảm bảo phát triển kinh tế thị trường định hướng xhcn - Pdf 10

Lời nói đầu
Vật chất - sự tồn tại khách quan luôn vận động và không ngừng phát
triển. Chúng ta đã đánh chứng kiến những bớc phát triển vợt bậc của con ngời
trong việc hiểu thế giới và trinh phục thế giới trong hai thiên niên kỷ qua.
Những thành tựu trong khoa học - kỹ thuật và trong mọi mặt của đời sống xã
hội đã làm thay đổi dần bộ mặt thế giới. Mặc dù ở mức độ phát triển tơng đối
thấp Việt nam chúng ta cũng không ngừng biến đổi, vận động. Trong giai
đoạn hiện nay, một trong những cải cách có tính chiến lợc nhất của chúng ta
trong lĩnh vực kinh tế là việc xoá bỏ nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập
trung bằng nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Sự đổi mới đó không
những giải quyết đợc những mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế mà còn đẩy
nhanh phát triển lực lợng sản xuất . Cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
những đặc trng của nó trở nên khong còn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh
mới đòi hỏi phải đợc thay thế bằng một cơ chế kinh tế mới phù hợp hơn.
Chính vì thế việc nghiên cứu tìm ra hớng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù
hợp điều kiện hoàn cảnh đât nớc, phù hợp thời đại, khu vực và thế giới là hết
sức cần thiết. Do vậy, phải vận dụng lý luận về phủ định biện chứng, một
trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật triết học Mác - Lênin vào quá
trình chuyển từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc
ta.
Sự thay thế kinh tế bao cấp bằng kinh tế thị trờng định hớng XHCN
thực chất là một quá trình phủ định biện chứng bởi nó đã tạo ra những điều
kiện, những tiền đề và khả năng thực hiện phát triển kinh tế đất nớc.
1
I. Giải quyết vấn đề
1. Lý luận về phủ định biện chứng
1.1 Khái niệm về phủ định biện chứng
Thứ nhất: Phủ định biện chứng (PĐBC) là một trong ba quy luật của phép
biện chứng duy vật, nó đề cập tới hình thức của sự phát triển
PĐBC là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đ-
ờng dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định. Vấn đề

Trái với phủ định biện chứng, phủ định siêu hình là sự phủ định chấm dứt sự
phát triển. Những ngời theo quan điểm siêu hình coi phủ định là sự loại bỏ
hoàn toàn cái cũ, phủ định sạch trơn, chấm dứt sự vận động và phát triển của
bản thân sự vật, hiện tợng. Nhng khi cần thì họ lại tiếp thu một cách nguyên
xi, không phê phán, không cải tạo, họ lắp ghép một cách máy móc cái cũ vào
cái mới. Đó là những hạn chế của phủ định siêu hình.
1.2 Những đặc trng của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứngcó hai đặc trng cơ bản. Thứ nhất là tính khách quan - điều
kiện của sự phát triển. Thứ hai là tính kế thừa - nhân tố liên hệ giữa cái cũ và
cái mới.
PĐBC là quá trình mang tính khách quan do mâu thuẫn của bản thân sự vật
quy định. Hơn nữa, phơng thức phủ định của sự vật cũng không tuỳ thuộc ý
muốn con ngời, mỗi sự vật có phơng thức phủ định riêng do đó mà có sự phát
triển.
PĐBC không phải là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái bị phủ định. Trái lại
để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong
nó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái bị phủ định. PĐBC do vậy
là sự phủ định mag tính kế thừa. Với ý nghĩa nh vậy, phủ định đồng thời cũng
là khẳng định. Diễn đạt t tởng đó, Lênin viết: Không phải sự phủ định sạch
3
trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài
nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trng và cái
bản chất trong phép biện chứng mà là sự phủ định coi nh là vòng khâu của
liên hệ, vòng khâu của phát triển, với sự duy trì cái khẳng định. {V.I. Lênin
toàn tập, t.29, tr.245}.
Giá trị của sự kế thừa biện chứng đợc quy định bởi vai trò của nó trong sự ra
đời của cái mới. Không có cái mới nào ra đời từ h vô. Nhờ việc giữ lại nhân tố
tích cực của cái bị phủ định mà cái mới có tiền đề cho sự phát triển của mình.
Cái quá khứ không biến đi mà không để lại một dấu vết nào trong dòng chảy
vô tận của thời gian. Thực ra, nó đã tham gia vào việc tạo ra cái hiện tại, nó

các thành phần kinh tế mới. Đối với t hữu lớn, kinh tế t bản t nhân chỉ có ph-
ơng pháp duy nhất là quốc hữu hoá. Lý luận về quốc hữu hoá của chủ nghĩa
Mác - Lênin đã khằng định không nên quốc hữu hoá ngay một lúc mà phải
tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và bằng hình thức, phơng pháp nào tuỳ điều
kiện cụ thể có nên doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa còn
tồn tại nh một tất yếu kinh tế đồng thời hớng chủ nghĩa còn t bản vào con đ-
ờng nhà nớc hình thành nên thành phần kinh tế t bàn nhà nớc.
Đối với t hữu nhỏ chỉ có con đờng hợp tác hoá theo các nguyên tắc mà Lênin
đã vạch ra là tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi đồng thời tuân theo các quy luật
khách quan. Do đó, trong thời kì quá độ còn tồn tại thành phần kinh tế cá thể,
tiểu chủ.
Hơn nữa các thành phần kinh tế cũ còn có khả năng phát triển, còn có vai trò
đối với sản xuất và đời sống bởi vậy không thể bỗng chốc xoá bỏ ngay đợc.
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế cần phải thu hút các nguồn lực từ
bên ngoài. Nhà nớc XHCN có thể liên doanh hợp tác với t bản t nhân trong n-
ớc và nớc ngoài hình thành kinh tế t bản nhà nớc
5
Mặt khác sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều kiện
chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều về lực lợng
sản xuất giữa các ngành, các doanh nghiệp. Chính sự phát triển không đều đó
quyết định quan hệ sản xuất , trớc hết hình thức, quy mô và quan hệ sở hữu
phải phù hợp với nó nghĩa là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống
nhau. Đó cũng là cơ sở hình thành các thành phần kinh tế khác nhau.
Trên đây là những cơ sở khách quan tạo tiền đề cho quá trình chuyển đỏi từ
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trờng dới sự quản lý của Nhà nớc XHCN (KTTT định h-
ớng XHCN). kinh tế tập trung, bao cấp đã huy động sức ngời sức của đóng
góp rất lớn trong những chiến thắng của thời kỳ chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Nhng trong điều kiện đất nớc hoà bình kinh tế bao cấp trở nên không còn phù
hợp, mặt khác nó còn thể hiện nhiều mặt hạn chế làm kìm hãm phát triển kinh

từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trờng bởi kế hoạch có u điểm là tập trung đ-
ợc tiềm năng cho những mục tiêu phát triển kinh tế với mụctiêu phát triển xã
hội ngay từ đầu. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần kế họach phải
bao quát tất cả các thành phần kinh tế, tất cả các quan hệ thị trờng, không chỉ
thị trờng trong nớc mà cả với thị trờng ngoài nớc. Kế hoạch của nhà nớc bao
gồm kế hoạch dài hạn và kế hoạch ngắn hạn. Thông qua kế hoạch dài hạn, nhà
nớc cụ thể hoá chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội, từ đó vạch ra các chơng
trình kinh tế có mục tiêu để định hớng đầu t, điều tiết các hoạt động kinh tế,
đề ra các chính sách kinh tế phù hợp. Thông qua kế hoạch ngắn hạn mà nhà n-
ớc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ kinh tế của từng lĩnh vực, từng bớc đi cụ
thể, gắn liền với diễn biến phức tạp của thị trờng, nhờ đó mà nâng cao hiệu
quả kinh tế - xã hội theo định hớng mong muốn.
Do nớc ta là nớc XHCN nên khi đổi mới nền kinh tế thì cơ cấu kinh tế vừa dựa
trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trờng vừa đợc dẫn dắt, chi
phối bởi các nguyên tắc và bản chất XHCN, nhằm phục vụ CNXH. Để hạn
chế những tiêu cực của cơ chế thị trờng ở nớc ta phải nâng cao vai trò quản lý
của Nhà nớc cũng đồng nghĩa với phát huy định hớng XHCN. Nền kinh tế
7
hàng hoá đợc điều tiết bở cả bàn tay vô hình của thị trờng và hữu hình của
Nhà nớc. Trong nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định h-
ớng XHCN, Nhà nớc XHCN sẽ can thiệp vào nền kinh tế nhằm bảo về quyền
lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu dân giầu, n-
ớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Sự thành công của nền kinh tế thị trờng
theo định hớng XNCH không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trởng cao mà còn ở
chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân c đều đợc nâng lên, y tế, giáo dục
đều phát triển, khoảng cách giầu - nghèo đợc thu hẹp, đạo đức, truyền thống,
bản sắc văn hoá dân tộc đợc giữ vững, môi trờng sinh thái đợc bảo vệ. Nhà n-
ớc XHCH có chính sách phân phối cả về t liệu sản xuất lẫn t liệu tiêu dùng,
nhờ đó mà đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội đều có cơ hội đợc tham
gia vào quá trình sản xuất và phân phố sản phẩm theo nguyên tắc công bằng

hệ cung - cầu. Trong nền kinh tế thị trờng nét biểu hiện có tính chất bề mặt
của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính
đến quan hệ hàng hoá nh là mộ khâu trung gian. Cơ chế thị trờng là hệ thống
tự điều tiết nền kinh tế rất linh hoạt, uyển chuyển. Nó tác dụng kích thích
mạnh mẽ đổi mới kỹ thuật, công nghệ, quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu của ng-
ời tiêu dùng. Nó có tác dụng lớn trong tuyển chọn, đào thải, kích thích sản
xuất phát triển. Bên cạnh những u điểm đó, kinh tế thị trờng lại mang những
khuyết tật có tính tự phát, hơn nữa quan hệ thị trờng còn là môi trờng thuận lợi
để phát sinh tiêu cực và tệ nạn xã hội. Trong kinh tế thị trờng vì chạy theo lợi
nhuận đơn thuần, các nhà sản xuất , kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu,
nh môi trờng bị huỷ hoại, cạnh tranh không lãnh mạnh, lừa đảo, hối lộ, coi
nhẹ lợi ích công cộng, phân hoá xã hội. Để khắc phục đợc những khuyết điểm
của kinh tế thị trờng cần nâng cao vai trò quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN. Định hớng XHCN là đi đến mục tiêu không còn áp bức, bóc lột, đi tới
chế độ công hữu t liệu sản xuất , thực hiện đợc một xã hội công bằng với mức
sống cao. Một vấn đề đợc đặt ra trong việc phát triển nền kinh tế TT định h-
ớng XHCN là làm thế nào để giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trởng kinh
tế với công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo, giảm bớt thất
9
nghiệp. Điều đó có nghĩa là vừa phải phát triển kinh tế thị trờng vừa phải phát
huy định hớng XHCN.
Vì vậy, trong điều kiện công hữu XHCN cũng có thể phát triển đợc chế độ
kinh tế thị trờng. Sự khác nhau giữa kinh tế bao cấp và KT thị trờng không
phải ở chỗ nền KT này có kế hoạch còn nền kinh tế kia thì không. Thực ra yếu
tố kế hoạch vẫn đợc kinh tế thị trờng kế thừa từ kinh tế bao cấp nhng khác
nhau ở hình thức kế hoạch hoá. Khác với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong
nền kinh tế thị trờng, kế họch không chỉ do trung ơng mà còn do từng xí
nghiệp, từng cơ sở sản xuất kinh doanh chủ động xác định. Đó là một sự kế
thừa có phê phán, sáng tạo và cũng là một trong những điểm phân biệt giữa
kinh tế TT và kinh tế thị trờng định hớng XHCN.

lập những điều kiện vật chất của sản xuất và những quan hệ xã hội làm cơ sở
hiện thực cho CNXH. Nhng kinh tế thị trờng có thể phát triển theo hớng
TBCN hoặc XHCN. Nh thế xu hớng khách quan cha đủ để phát triển kinh tế
thị trờng định hớng XHCN mà có đòi hỏi các nhân tố chủ quan, đó là:
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng xác định mục
tiêu chính trị cho sự phát triển kinh tế - xã hội, cơng lĩnh đờng lối chiến lợc
phát triển, bằng những nguyên tắc và chính sách trong đối nội và đối ngoại.
Xây dựng Nhà nớc cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh quản lý
kinh tế có hiệu quả.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần khơi dậy tiềm năng sáng tạo của cả
cộng đồng dân tộc. Đặc biệt đối với nớc ta có nhiều ngành nghề cổ truyền bị
cơ chế cũ làm mai một nay lại có điều kiện phát huy. Hơn nữa nớc ta có dân
số động, nguồn nhân công dồi dào đủ khả năng đáp ứng cho một nền kinh tế
phát triển.
Những giải phép để phát triển kinh tế thị trờng định hớng XHCN:
Một là: Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần trong đó
kinh tế nhà nớc đóng vai trò chủ đạo.
11
Hai là: Mở rộng phân công lao động, phát triển nền kinh tế vùng, lãnh thổ, tạo
lập đồng bộ các yếu tố thị trờng.
Ba là: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bốn là: Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, triệt để
xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính bao cấp, đổi mới các chính sách tài chính,
tiền tệ, giá cả.
Năm là: Xây dựng và kiện toàn hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội
ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi, đáp ứng yêu cầu của
nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
Sáu là: Thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế
hàng hoá, phát huy nội lực, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.

Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình triết học Mác - Lênin, NXB chính trị quốc gia.
2. Giá trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB Giáo dục
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB chính trị quốc gia
4. Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB Giáo dục
5. Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI; VII;VIII;IX.
6. Một số vấn đề cơ bản về phát triển nhận thức kinh tế học chính trị Mác -
Lênin trong quá trình đổi mới ở nớc ta, tác giả: Nguyễn Đình Kháng, NXB
chính trị quốc gia
7. Tạp chí triết học số 4, tháng 8/1999
8. Tạp chí Cộng sản số 4, tháng 2/2000.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status