Quan hệ lao động - Sự phối hợp cơ chế 2 bên và 3 bên trong quan hệ lao động. Liên hệ thực tế tại Việt Nam - Pdf 27

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN NHÓM:
“Sự phối hợp cơ chế 2 bên và 3 bên trong quan hệ lao động. Liên hệ thực tế tại Việt
Nam.”
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay đất nước chúng ta đang bước vào thời kì mở cửa, nền kinh tế cũng vì thế
mà tự do năng động hơn bao giờ hết.Thị trường lao động cũng theo đó mà phát triển và
trở nên phong phú đa dạng hơn. Quan hệ lao động được hình thành trong nhiều lĩnh vực
kinh tế và thương mại, nói nôm na ta có thể hiểu đơn giản là mối quan hệ giữa kẻ mua
người bán và mặt hàng là sức lao động.Từ xa xưa mối quan hệ này đã hình thành và phát
triển, bằng cách này hay cách khác mà quá trình mua bán đó được thỏa thuận, ngày nay
người ta gọi đó là cơ chế 2 bên. Như vậy cơ chế 2 bên đã tồn tại từ rất lâu và vẫn đang
tiếp diễn trong thời đại kinh tế hiện giờ không thể thiếu và thay đổi. Nhưng ngày nay
ngoài cơ chế 2 bên thì còn có sự xuất hiện của cơ chế 3 bên là một cơ chế thông dụng ở
nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển và đang từng bước được ứng dụng và
phát triển tại Việt Nam. Vậy sự xuất hiện của cơ chế 3 bên với những mâu thuẫn với cơ
chế 2 bên có làm nảy sinh sự xung đột hay sự phối hợp thống nhất của 2 cơ chế sẽ tạo ra
những hiệu quả vượt trội? Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này nhóm chúng tôi
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 2
quyết định tìm hiểu đề tài: “ Sư phối hợp cơ chế 2 bên và 3 bên trong quan hệ lao động.
Liên hệ thực tế tại Việt Nam”
1. CƠ CHẾ 2 BÊN
1.1 Khái niệm
Cơ chế hai bên là bất kỳ quá trình nào mà bằng cách đó những sự giàn xếp
hợp tác trực tiếp giữa người sử dụng lao động (tổ chức đại diên của người sử dụng
lao động) và người lao động ( tổ chức đại diện cho người lao động) được thành
lập, được khuyến khích và được tán thành.
- Quá trình nghĩa là phải có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn phải có những cách
thức thực hiện khác nhau, chủ thể khác nhau, đối tượng khác nhau, mục đích khác
nhau. Các quá trình này được thành lập, trước hết phải được sự nhất trí của 2 bên

1.4 Điều kiện vận hành và cơ sở pháp lý
 Có khuôn khổ luật pháp rõ ràng, ổn định và có hiệu lực cao. Đặc biệt là hệ thống
các luật lệ hay quy định liên quan đến quan hệ lao động.
 Phải có thị trường lao động nơi những người lao động và người sử dụng lao động
rang buộc với nhau bởi quan hệ làm thuê. Thị trường lao động là cơ sở phát sinh
sự tương tác về các vấn đề: tiền lương, điều kiện lao động đòi hỏi các bên phải dàn
xếp.
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 4
 Các đại diện, tổ chức đại diện của các bên phải thực sự đại diện và hoạt động tích
cực để bảo vệ lợi ích cho bên mình, hoạt động của các tổ chức này phải tương đối
độc lập trong khuôn khổ pháp luật quốc gia.
 Sự tồn tại của các tổ chức trung gian, hòa giải, tòa án lao động đảm bảo giải quyết
các xung đột trong trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận chung.
2. CƠ CHẾ 3 BÊN
2.1 Khái niệm
Theo quan điểm cơ chế ba bên ILO, đã đưa ra định nghĩa: “Cơ chế ba bên là sự
tương tác tích cực của chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động (qua
các đại diện của họ) như là các bên bình đẳng và độc lập trong các cố gắng tìm
kiếm giải pháp cho các vấn đề cùng quan tâm. Một quá trình ba bên có thể bao
gồm việc tham khảo ý kiến, thương thuyết hoặc cùng ra quyết định, phụ thuộc vào
cách thức đã được nhất trí giữa các bên liên quan. Những cách thức này có thể là
đặc biệt theo từng vụ việc hoặc được thể chế hóa”
2.2 Đặc điểm, bản chất
• Đặc điểm
- Cơ chế ba bên chủ yếu tồn tại và vận hành ở cấp quốc gia, ít vận hành ở cấp ngành
và địa phương. Không tồn tại ở cấp doanh nghiệp.
- Vấn đề các bên cùng quan tâm và giải quyết trong cơ chế ba bên là các định hướng
chính sách.
- Cơ chế ba bên có tính đặc thù về chủ thể. Các bên tham gia nhất thiết phải thông
qua các tổ chức đại diện.

chế ba bên thể hiện mức độ tham gia trong việc chia sẻ những lợi ích, cũng như
khó khăn mà các bên thường gặp phải. Cơ chế ba bên có nhiều hình thức:
- Hình thức cao nhất mang tính chất lý tưởng là có việc chia sẻ trách nhiệm, trong
đó Chính phủ và các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao
động cùng bàn bạc, quyết định những vấn đề có liên quan trong phạm vi thẩm
quyền của mình, với tư cách là những đối tác độc lập và bình đẳng thông qua một
cơ quan hoặc tổ chức ba bên. Tuy nhiên, xét cho cùng, mọi hoạt động của cơ chế
ba bên đều phải tuân theo những quy định của pháp luật nên sự bình đẳng này
cũng chỉ mang tính chất tương đối. Vì là lý tưởng, nên hình thức này của cơ chế ba
bên hầu như khó áp dụng
- Hình thức thấp hơn, cơ chế ba bên hoạt động dưới hình thức trao đổi ý kiến. Hình
thức này cao hơn mức đối thoại nhưng chưa đến mức có thể cùng quyết định.
Trong hình thức này, Chính phủ tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện cho người
lao động và người sử dụng lao động về vấn đề đang được đưa ra và các vấn đề có
liên quan trong phạm vi quyền hạn của mình, để các bên tham gia vào việc xây
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 6
dựng và thực hiện các chính sách quốc gia, có thể phủ nhận hoặc chấp nhận các ý
kiến đó. Chính phủ là người quyết định cuối cùng sau khi xem xét ý kiến các bên.
Ở hình thức này, hai đối tác xã hội không được công nhận là bình đẳng với Chính
phủ.
- Hình thức thấp nhất của cơ chế ba bên là hoạt động dưới dạng các cuộc đối thoại
xã hội. Thông qua diễn đàn có tính chất trao đổi thông tin công khai, Chính phủ có
thể tham khảo ý kiến các bên trước khi đi đến những quyết định cần thiết. Đương
nhiên, kết quả các cuộc đối thoại ảnh hưởng rất ít tới các quyết định của Chính
phủ trong việc xây dựng chính sách, pháp luật và giải quyết các vấn đề xã hội. Ý
kiến của các đại diện trong các cuộc đối thoại cũng không mang màu sắc của một
quan điểm chính thống trong tổ chức nên cũng ít có tính hướng dẫn đối với các
bên tham gia quan hệ lao động cũng như để giải quyết các tranh chấp phát sinh.
Do vậy, hiệu quả của hình thức này thấp hơn hai hình thức trên.
- Các hoạt động của cơ chế ba bên cũng phụ thuộc vào từng cấp độ hình thành. Ở

đoạt được. Chính phủ luôn là người quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về
điều đó.
 Cần thiết tồn tại và vận hành hiệu quả cơ chế ba bên ở cấp ngành và cấp doanh
nghiệp. Mối quan hệ tốt đẹp giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ luôn làm cho cuộc đối thoại
nhanh chóng đạt được sự nhất trí.
3. SỰ PHỐI HỢP GIỮA CƠ CHẾ 2 BÊN VÀ 3 BÊN.
3.1 Nguyên nhân
- Quan hệ lao động rất phức tạp cả về nội dung lẫn phạm vi ảnh hưởng. Do vậy, bên
cạnh những vấn đề chung (có ảnh hưởng lớn, rộng rãi và lâu dài) phải giải quyết
bằng cơ chế 3 bên, cũng có những vấn đề cụ thể hơn không cần sự tham gia trực
tiếp của Chính phủ.
- Các quy luật kinh tế khách quan đòi hỏi sự vận động tương đối độc lập của hai lực
lượng cơ bản trên thị trường lao động (là cung, là cầu về lao động). Để thị trường
lao động vận hành linh hoạt, khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước, Chính
phủ cần tạo ra các điều kiện rộng rãi để cung và cầu lao động trực tiếp tương tác
với nhau để xác định giá cả (tiền lương), chất lượng hàng hóa sức lao động và điều
kiện lao động.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, môi trường kinh tế xã hội của mỗi quốc gia ngày
càng có nhiều biến động khó lường. Điều này làm nảy sinh các vấn đề mới ảnh
hưởng đến quyền lợi của các bên đòi hỏi có nhiều cơ chế sử lý khác nhau.
- Những xu hướng thay đổi vai trò của Chính phủ trong phát triển kinh tế xã hội.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Chính phủ can thiệp trực tiếp, triệt để vào
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 8
các vấn đề của quan hệ lao động. Những nước trước kia áp dụng mô hình này có
xu hướng giảm bớt sự can thiệp hành chính của Chính phủ nhường chỗ cho sự
tương tác tay đôi giữa người lao động và ngưới sử dụng lao động. Trong khi ở
nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển đề cao vai trò của “ bàn tay vô
hình” trong thị trường lao động ngày nay lại có xu hướng tăng cường vai trò của
Chính phủ trong việc kế hoạch hóa thị trường lao động. Do vậy, sự tham gia của
Chính phủ vào quan hệ lao dộngđang ngày càng tăng làm cho cơ chế ba bên phát

ba bên.
• Mâu thuẫn
Những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa hai cơ chế :
- Quan hệ lao động rất phức tạp cả về nội dung lẫn phạm vi ảnh hưởng. Do vậy ,
bên cạnh những vấn đề chung phải giải quyết bằng cơ chế ba bên , cũng có những
vấn đề cụ thể hơn không cần sự tham gia trực tiếp của chính phủ.
- Sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vào các vấn đề vốn thuộc phạm vi giải quyết
của cơ chế hai bên. Điều này gây trở ngại thêm cho doanh nghiệp khi giải quyết
các vấn đề.
- Trong một số trường hợp thì sự phối hợp giữa hai cơ chế lại gây ra trở ngại cho
doanh nghiệp như ở những phạm vi khác nhau , từng trường hợp mà không có sự
kết hợp giữa 2 cơ chế vẫn đề sẽ được giải quyết tốt nhất.
3.2.2 Sự phối hợp
- Cơ chế hai bên là sự tham gia thương lượng, thỏa ước trực tiếp của hai bên tham
gia là người lao động và người sủ dụng lao động. Chính phủ không tham gia trực
tiếp vào hoạt động này nhưng hoạt động của cơ chế hai bên lại không tách biệt
khỏi chính phủ hoạt động dựa trên khuôn khổ luật pháp và những chính sách , quy
định do chính phủ đề ra.
- Cơ chế ba bên là sự tương tác tích cực của Chính phủ , người sử dụng lao động và
người lao động (qua các đại diện của họ).
- Cả hai cơ chế đều vận hành trong vòng tròn pháp luật, có sự phối hợp chặt chẽ với
nhau
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 10
- Luật pháp tương tác trực tiếp là hành lang pháp lý của cả hai cơ chế. Cơ chế hai
bên vận hành ở cấp ngành, địa phương dựa trên khuôn khổ luật pháp. Nhưng khi
có sự tham gia trực tiếp của chính phủ thì trở thành cơ chế ba bên vận hành ở cấp
quốc gia và cũng hoạt động dựa trên khuôn khổ pháp luật.
4. LIÊN HỆ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM VỀ SỰ PHỐI HỢP CƠ CHẾ 2 BÊN
VÀ CƠ CHẾ 3 BÊN
4.1 Thực trạng

tham gia của tổ chức công đoàn và đại diện của NSDLĐ vào một số hoạt động
liên quan đến xử lí mối quan hệ lao động như vấn đề việc làm, tiền lương, giải
quyết tranh chấp lao động, tiền công, là những vẫn để nảy sinh trong cơ chế 2
bên. Sự thể hiện cơ chế 3 bên ở VN còn có thể thấy qua việc tổ chức và hoạt động
của các cơ cấu hỗn hợp đặc biệt là tầm quốc gia, giữa Chính phủ, tổng liên đoàn
lao động VN, phòng thương mại và công nghiệp VN hoặc liên minh các hợp tác
xã VN trong việc xây dựng hoặc hoạch định chính sách pháp luật liên quan đến
quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ lao động, vậy các quyết định đó dựa vào
đâu để có thể ban hành? Chính là dựa trên việc tham khảo mối quan hệ giữa các
chủ thể trong cơ chế 2 bên, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích đối lập của các bên chủ
thể.
Cơ chế 3 bên ở VN được xem như “một hiện tượng phổ biến và có tính
khách quan, nó đánh dấu sự phát triển của CNXH”. Cơ chế 3 bên đã được vận
dụng trong lao động, nó tồn tại để phòng ngừa, giải quyết tranh chấp, đình công,
đòi tiền lương, thời gian trong lĩnh vực lao động. Tuy nhiên cơ chế 3 bên ở VN, sự
phối hợp giữa hai cơ chế đã xuất hiện và tồn tại nhưng nó còn mập mờ, chưa thể
hiện rõ như các quốc gia khác mặc dù đã thể hiện được một số vấn đề nhưng sự
thực hiện đó vẫn chưa đạt được hoàn chỉnh về cơ cấu, đồng thời chưa đảm bảo
được tính chất ba bên trong các hoạt động. Việc tham gia của các tổ chức đại diện
NLĐ và NSDLĐ vào lĩnh vực lao động vẫn bị hạn chế ở vai trò “tư vấn” để cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền “tham khảo”
Về phía chủ thể trong cơ chế 2 bên và 3 bên: NSDLĐ còn tồn tại nhiều yếu
kém vì ở VN các DN còn hoạt động đơn lẻ, kiểu “phận ai nấy giữ”. Chủ thể thứ
hai là các cơ quan Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo chi phối đối với hai chủ thể kia,
tuy nhiên từ việc tham mưu xây dựng pháp luật đến thực hiện chức năng quản lí
đều thể hiện một cách hời hợt, yếu kém, thiếu năng lực. Thực tế cho thấy phần lớn
các cuộc đình công xảy ra vì những phát sinh do vi phạm của NSDLĐ nhưng cơ
quan nhà nước lại bất lực, không thể hiện được vai trò của mình. Với chủ thể
NLĐ, NLĐ còn yếu kém về mặt kiến thức tham gia trong quan hệ lao động, dẫn
tới sự thụ động trong các giải quyết vấn đề với NSDLĐ, gây nên những hậu quả

nhân của đợt đình công diễn ra từ hôm 26 tháng 7 được cho biết do công ty buộc
công nhân phải làm việc thêm giờ trong hai ngày của tuần đến 19h30. Qui định
này gây khó khăn, bất tiện cho những nữ công nhân có con nhỏ và phải lo cho gia
đình.
Ông Trần Huy Hải, phó chủ tịch UBND huyện Vũ Thư cho rằng cuộc đình
công là tự phát nhưng lý do đình công của công nhân là chính đáng vì công ty vi
phạm luật về giờ làm thêm, cũng như định mức quá khả năng người lao động
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 13
Phía công nhân còn đòi hỏi công ty phải tăng các khoản như tiền chuyên
cần, tiền hỗ trợ xăng xe, tiền ăn ca, tiền hỗ trợ thêm để nuôi con nhỏ. Công ty
Ivory Việt Nam thừa nhận với các cơ quan chức năng phía Việt Nam về việc vi
phạm khi tăng thêm giờ làm quá 30 giờ trong một tháng theo như qui định hiện
nay của Việt Nam. Công ty này hứa sẽ bãi bỏ hai ngày làm thêm giờ đến 19h30.
Đối với đề nghị tăng thêm các khoản phụ cấp như vừa nêu, ông tổng giám đốc
Song Joung Heup của Ivory VietNam nói rằng không thể đáp ứng yêu cầu của
công nhân vì những khó khăn về tài chính và sản xuất của công ty. Ông Trần Huy
Hải, phó chủ tịch UBND huyện Vũ Thư có đến làm việc về đợt đình công mới của
công nhân Công ty Ivory Việt Nam, theo đó ông này cho rằng cuộc đình công là tự
phát nhưng lý do đình công của công nhân là chính đáng vì công ty vi phạm luật
về giờ làm thêm, cũng như định mức quá khả năng người lao động.
Theo yêu cầu của ông Trần Huy Hải phó chủ tịch UBND huyện Vũ Thư thì
trong sáng ngày 30 tháng 7, công ty Ivory Việt Nam và công nhân phải tiến hành
đối thoại trong khuôn viên của công ty dưới sự chứng kiến của chính quyền địa
phương và Liên đoàn Lao động cấp huyện, tỉnh.
Hôm ngày 13 tháng 7, chừng 2000 công nhân của công ty Ivory Việt Nam
cũng đã đình công với yêu cầu tăng tiền chuyên cần, tiền xăng xe, tiền trợ cấp con
nhỏ và tiền thâm niên.
Đợt đó, công ty đã đồng ý tăng tiền chuyên cần lên cho mỗi công nhân 400
ngàn đồng một tháng, tiền xăng xe lên 250 ngàn đồng/tháng, tiền trợ cấp con nhỏ
lên 50 ngàn đồng một tháng cho công nhân nào có con nhỏ. Tuy nhiên tiền thâm

động (tổ chức đại diện cho NSDLĐ) không giải quyết được các vấn đề tranh chấp
mà NSDLĐ ở đây lại là doanh nghiệp nước ngoài thì càng cần có sự can thiệp của
bên thứ ba là nhà nước.
- Do có sự điều tiết và can thiệp của cơ chế 3 bên tạo điều kiện thuân lợi để
hài hòa cơ chế 2 bên, quan hệ lao động lành mạnh hơn, thúc đẩy quá trình phát
triển kinh tế. Cụ thể là sự có mặt của phía Nhà nước là công an giao thông cùng
với chính quyền địa phương và Liên đoàn Lao động cấp huyện, tỉnh.
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 15
KẾT LUẬN
Như vậy, bên cạnh cơ chế 2 bên thì cơ chế ba bên ra đời như là một hiện tượng tự
nhiên khi nền kinh tế thị trường phát triển đến một mức độ nhất định. Kinh tế thị
trường càng phát triển, dân chủ xã hội càng được tôn trọng và bảo đảm thì càng
tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế ba bên tồn tại và phát triển. Chúng ta có thể
thấy mặc dù có sự mâu thuẫn tồn tại ở cơ chế 2 bên và cơ chế 3 bên, nhưng sự
phối hợp của 2 cơ chế lại đem lại những hiệu quả bất ngờ.Sự vận dụng phối hợp 2
cơ chế hiện nay ở Việt Nam vẫn đang còn mới mẻ. Nhưng nếu chúng ta vượt qua
được những trở ngại trong quá trình phối hợp và vận hành cả 2 cơ chế thì chúng ta
sẽ từng bước làm chủ và phát triển sự tương tác này cho nền kinh tế mạnh mẽ hơn
trong tương lai.
Thảo luận Quan hệ lao động – Nhóm 05 Page 16
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ
STT Họ và Tên Mã sv Nhiệm vụ Đánh Giá
1 Vũ Mạnh Huy 12D210138 Cơ chế 3 bên B
2 Đỗ Thị Hường
(Thư ký)
12D210143 Biểu hiện sự phối hợp
cơ chế 2 bên và 3 bên
B
3 Bùi Thị Thu Hường 12D210262 Nguyên nhân có sự
phối hợp cơ chế 2 bên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status