TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Chuyên đề :
GVHD: Ths. Lê Tấn Thanh Lâm
SVTH: Nhóm 4
Trần Văn Thuận
Lê Văn Hoài
Nguyễn Trung Hiệp
Lê Phước Minh
Thạch Ngọc Sang
Hồ Giang Hải
Trần Vũ Lâm
Phạm Quang Thắng
Hứa Sơn Hiển
Nguyễn Phan Thiện Toàn
Lê Thị Tường Vy
Trần Bích Phượng
TP. Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 3
1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1.2.MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3
1.3.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.5.Ý NGHĨA THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN 4
2.1. TỔNG QUAN VỀ TÁI CHẾ NHỰA 4
2.2. NGUỒN GỐC PHÁT SINH, PHÂN LOẠI, TÍNH CHẤT CÁC LOẠI NHỰA 11
Xác định, lựa chọn công nghệ phù hợp, thiết kế mặt bằng bố trí thiết bị cho
các đơn vị ứng dụng công nghệ đó phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nhằm góp phần
giảm thiểu ô nhiễm môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
1.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu cần được thực
hiện bao gồm các nội dung sau:
- Tìm hiểu hiện trạng hoạt động và kết quả của các cơ sở tái chế nhựa ở
TP.HCM.
- Tổng quan các công nghệ tái chế nhựa. Phân tích, đánh giá nhằm tìm ra
công nghệ phù hợp.
- Tổng hợp dữ liệu, phân tích, viết báo cáo.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1. Phương pháp điều tra và tổng hợp
Tổng hợp các kết quả điều tra và phân tích thực tế về kết quả của các công
nghệ đã được ứng dụng, từ đó lựa chọn công nghệ phù hợp nhất.
Phương pháp điều tra, thu thập, tổng hợp tài liệu và khảo sát thực tế việc ứng
dụng các công nghệ đó trên địa bàn.
3
1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu
Tổng hợp, tính toán các số liệu nghiên cứu.
Sử dụng các phần mềm Word để viết văn bản, Excel để tính toán, xử lý số
liệu và thể hiện bản vẽ thiết kế mặt bằng bố trí máy móc bằng phần mềm Autocad.
1.5. Ý NGHĨA THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa môi trường
Góp phần giảm thiểu ô nhiểm môi trường nhờ quá trình tái chế chất thải, giảm
thiểu lượng khí thải sinh ra trong trường hợp xử lý bằng phương pháp nhiệt hoặc tiết
kiệm diện tích đất sử dụng vào mục đích chôn lấp.
1.5.2. Ý nghĩa kinh tế
Tăng hiệu quả kinh tế nhờ việc sử dụng triệt để tài nguyên, hạ giá thành sản
phẩm, giảm chi phí nhập khẩu, khai thác và chế biến tài nguyên.
nhựa phát sinh. Lượng rác thải nhựa chiếm tỷ trọng lớn trong thành phần rác thải.
Theo khảo sát của Quỹ Tái chế chất thải (Sở TN&MT TP.HCM), rác thải nhựa
chiếm 20% trong chất thải rắn siêu thị, trung tâm thương mại, 14,3% trong khu vực
văn phòng; 20% lượng rác thải nhựa được chôn lấp lẫn trong các loại rác thải khác,
phần còn lại được thu mua, tái chế thô sơ hoặc phát tán ra môi trường. Dự báo đến
năm 2020, mỗi năm TP.HCM sẽ phát sinh khoảng 400.000 tấn/năm.
Lượng chất thải nhựa này một mặt là gánh nặng đối với công tác quản lý môi
trường của thành phố. Chi phí chôn lấp một tấn rác hiện nay là 300.000 đồng/tấn.
Như vậy, nếu 50.000 tấn chất thải nhựa được tái chế, thành phố có thể tiết kiệm
khoảng 15 tỉ đồng mỗi năm. Kéo theo đó là chúng ta có thể tiết kiệm phần đất chôn
lấp cho các mục đích công cộng khác. Đồng thời, tái chế còn tiết kiệm năng lượng
cho sản xuất và sinh hoạt của con người. Cùng với đó là giúp giảm thiểu hàng loạt
vấn đề môi trường khác như làm sạch mỹ quan đô thị, thông thoáng cống rãnh, hạn
chế suy thoái đất… Trong khi đó, nhu cầu nguyên liệu nhựa của Việt Nam mỗi năm
vào khoảng 1,6 – 1,7 triệu tấn các loại, nhưng thị trường trong nước chỉ cung cấp
được khoảng 300 ngàn tấn.
Để giải quyết các vấn đề trên, bên cạnh các cách truyền thống, thành phố đã
triển khai nhiều biện pháp quản lý chất thải theo hướng 3T. Đó là tiết giảm, tái sử
dụng và tái chế chất thải. Trong đó, tái chế chất thải không chỉ giúp giảm lượng chất
thải rắn phải xử lý mà còn có ý nghĩa to lớn trong tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên. Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm
nhìn đến năm 2050 cũng đã xác định rõ mục tiêu chúng ta cần thực hiện đến năm
2015. Đó là 60% chất thải sinh hoạt đô thị được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng
lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ.
Tại TP.HCM thị trường tái chế phế liệu đã được hình thành và phát triển từ
hơn 30 năm qua. Thống kê năm 2006 có khoảng hơn 400 cơ sở tái chế vừa và nhỏ
trong các lĩnh vực tái chế rất đa dạng: Tái chế nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại, cao su,
vải,…Tập trung nhiều ở các khu vực như: Bình Tân, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi,
Quận 11, Quận 9,… Với chất lượng tái chế hàng ngày ước tính khoảng 600 – 800
triệu đồng lợi nhuận một ngày, tạo việc làm cho 10.000 – 15.000 lao động, nhưng
6
Từ quy trình thu gom trên ta thấy: Những người nhặt rác và người mua ve
chai từ các hộ gia đình là cấp thấp nhất trong hệ thống này. Từ những gánh ve chai,
phế liệu được tập trung về vựa ve chai quy mô nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư.
Các vựa này thu mua tất cả các loại phế liệu, tại đây phế liệu sẽ được phân loại thành
các thành phần riêng và bán lại cho các vựa thu mua phế liệu quy mô trung bình và
lớn hoặc bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế. Các vựa quy mô trung bình và lớn chỉ
tập trung thu mua một hay hai loại phế liệu nhất định từ các vựa nhỏ. Các phế liệu
này đã qua xử lý sơ bộ như: làm sạch, ép nhỏ nên hoạt động của các vựa này tương
đối đơn giản hơn. Sau đó phế liệu từ các vựa lớn được chuyển đến các cơ sở tái chế
trong thành phố. Tại các cơ sở tái chế, phế liệu được phân loại lần cuối, làm sạch và
được tái chế thành nguồn nguyên liệu mới hoặc các sản phẩm. Tuỳ thuộc vào loại
hình tái chế mà hình thành các khu vực tái chế riêng biệt như: tái chế nhựa (tập trung
nhiều ở quận Bình Chánh, Bình Tân, quận 11, quận 6); tái chế thuỷ tinh (tập trung
nhiều ở quận 12, Hóc Môn, Củ Chi); . . . nhìn chung lĩnh vực tái chế chủ yếu do dân
nhập cư, người lao động trình độ thấp thực hiện nên qui mô sản xuất nhỏ và mức độ
đầu tư công nghệ không cao. Đa số công nghệ đều lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ
do đa số được chế tạo trong nước (bằng phương pháp thủ công) nên hoạt động không
hiệu quả, thường xuyên hư hỏng. Do đó, mức độ tiêu hao phế liệu rất lớn (từ 10 -
20%) và tiêu thụ điện năng nhiều.
Theo ông Nguyễn Khắc Long - Chủ tịch HĐQT Cty CP nhựa VN (Vinaplast)
cho biết ngành nhựa VN đã phát triển rất nhanh, hiện cả nước có khoảng 2.200
doanh nghiệp nhựa và trong khoảng 10 năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng đạt 15 -
20%/năm. Tuy nhiên điểm yếu lớn nhất của ngành nhựa VN là hiện 80 - 90%
nguyên liệu phải nhập. Ông Long cho rằng, ngành nhựa VN muốn phát triển ổn định
thì phải chủ động về nguyên liệu. Nguồn nguyên liệu trước mắt là tận dụng rác nhựa,
về lâu dài là các sản phẩm của ngành dầu khí VN. Ngành nhựa tái chế phát triển,
không chỉ giảm ô nhiễm môi trường mà còn giúp VN ổn định được nguyên liệu. Tuy
nhiên, hiện VN chưa có hệ thống thu gom rác nhựa, nên không đủ nguyên liệu cho
các nhà máy tái chế đạt chuẩn hoạt động. Do vậy, ông Long đề xuất là trước mắt cho
400 cơ sở thu mua phế liệu nhựa, và 80 cơ sở tái chế nhựa, với công nghệ đơn giản
chỉ sử dụng được các loại nhựa sạch như chai lọ nhựa, bao nilon sạch nên số lượng
rác nhựa thu gom được không đáng là bao, mỗi ngày chỉ thu gom được khoảng 6.000
- 7.000 tấn chất thải nhựa dùng cho tái chế.
Hơn 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng của ngành nhựa Việt Nam luôn ở mức 15
– 20%. Tuy nhiên, giá trị thặng dư của ngành này không cao vì hầu hết nguyên liệu
đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp nhựa lao đao
với bài toán đầu vào nguyên liệu.
Theo số liệu thống kê của Bộ Công thương, cả nước có khoảng 2.200 doanh
nghiệp hoạt động trong ngành nhựa, trong đó hơn 80% tập trung ở TP HCM. Hầu
hết những doanh nghiệp này đều sản xuất với quy mô gia đình nên năng lực cạnh
tranh rất thấp. Chính vì vậy, hơn 90% doanh nghiệp nhựa của Việt Nam phải đi “làm
thuê”, gia công cho nước ngoài, chưa chủ động được nguồn nguyên liệu.
Theo ông Vũ Xuân Mừng, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Công thương tại
TP HCM, ngành nhựa đang đối mặt với những khó khăn liên quan đến tỷ giá hối
đoán giữa đồng VN với USD, do chi phí nguyên liệu chiếm 70-80% giá thành sản
phẩm nhập từ nước ngoài, tương đương 2,1 tỷ USD/ năm. Điều này khiến giá trị
thặng dư hầu hết đều vào túi doanh nghiệp nước ngoài.
Theo thống kê, từ năm 2008 đến nay, ngành nhựa phải gồng mình hứng chịu
nhiều đợt tăng giá nguyên liệu, tác động không nhỏ đến sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Năm 2009, ngành nhựa nhập hơn 2 triệu tấn nguyên liệu, với tổng giá
trị gần 2,5 tỷ USD, trong khi giá trị xuất khẩu chỉ đạt hơn 1/3 số tiền nhập khẩu
nguyên liệu. Do quá phụ thuộc vào nguyên liệu nên giá bán của doanh nghiệp Việt
Nam luôn cao hơn Trung Quốc, Ấn Độ khoảng 10 – 15%.
Hiện nay, cả nước mới chỉ có 3 nhà máy sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa
với tổng công suất mỗi năm khoảng 250.000 tấn PVC và 150.000 tấn nguyên liệu
DOP, đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu.
Để giải quyết bài toán này, Bộ Công thương đã xác định việc phát triển công
nghiệp sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa là một trong ba chương trình trọng
điểm. Theo đó, việc hình thành các nhà máy tái chế phế liệu nhựa sẽ là bước khởi
TS. Lê Quốc Tuấn - Trưởng khoa Môi trường và Tài nguyên Trường đại học
Nông lâm TP.HCM - khẳng định nguyên liệu nhựa dù chỉ tái chế một lần thôi cũng
đã sinh ra nhiều hợp chất độc hại, tái chế nhiều lần sẽ sinh ra các hợp chất rất độc,
trong đó có chất dioxin. Tuy nhiên, vì hàm lượng độc chất sinh ra thấp nên người
dùng chưa thấy ngay tác động, nhưng sử dụng trong thời gian dài, từ 10-20 năm thì
độc chất tích lũy dần dần trong cơ thể sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Các độc chất, như
dioxin rất khó chuyển hóa trong môi trường, đây là vấn đề nghiêm trọng, gây bệnh
ung thư, bệnh di truyền, bệnh về đường hô hấp, gây suy nhược nòi giống. “Cần cảnh
báo mạnh mẽ nguy cơ này, cơ quan chức năng cũng phải kiểm soát chặt chẽ, cấm
các cơ sở sản xuất túi nhựa từ nguyên liệu tái chế”, TS Lê Quốc Tuấn nói.
Trong quá trình gia công nhựa, người ta có thể đưa vào một số chất hóa dẻo,
chất phụ gia. Đặc biệt, các sản phẩm có chứa chất hóa dẻo khi ở nhiệt độ cao sẽ thải
ra chất độc hại gây ảnh hưởng sức khỏe con người như tim mạch, tuần hoàn máu hay
thậm chí có thể gây ra bệnh tâm thần, ung thư…
Nhựa tái chế là loại nhựa đã qua sử dụng, nhất là những loại nhựa đựng hóa
chất nói chung, rất độc hại. Loại nhựa này đã tiếp xúc với những chất khác, khi đem
vào sản xuất lại thường không làm sạch nên trong quá trình đưa vào nhựa hóa, các
hóa chất đọng lại trong đó sẽ khuếch tán ra ngoài.
9
Mặc dù đã len lỏi sâu vào đời sống, bữa ăn của người dân và chứa nhiều nguy
cơ độc hại, nhưng đến nay, sản phẩm bằng nhựa tái chế trên thị trường Việt Nam vẫn
chưa được kiểm soát chặt chẽ. Ít ai biết được sản phẩm nhựa mình đang dùng là loại
nhựa nào, có xuất xứ từ đâu và liệu có là nhựa tái chế đến từ bãi rác hay không. Sự
an toàn đối với người dùng hoàn toàn dựa vào hiểu biết của người sản xuất, người
chế biến sản phẩm, tuy nhiên những yếu tố này đôi khi bị lợi nhuận che mờ.
Kết quả phân tích khoa học cho thấy các mẫu thìa đó đều được sản xuất từ
nguyên liệu nhựa tái chế, có nhiều chất rất độc hại, gây nguy hiểm đến sức khỏe con
người. Cụ thể: hàm lượng kim loại nặng rất cao, hàm lượng chì lên đến 26mg/kg
thìa, hàm lượng cadimi lên trên 1mg/kg thìa.
Như chúng ta đã biết, độc tố chì có nguy cơ gây ung thư cao đối với con
10
loại không có ký hiệu, đây chính là bao bì sản xuất từ loại nhựa tái chế. Thế nên mối
nguy hiểm lại gia tăng vì nhựa tái chế đến từ nhiều nguồn khác nhau. Bên cạnh đó,
những vật liệu này tồn tại rất lâu trong môi trường tự nhiên. Vì thế mà nó trở thành
một trong những loại rác thải khó xử lý nhất hiện nay. Không ai phủ nhận vai trò, lợi
ích thiết yếu của vật liệu nhựa trong cuộc sống. Ước tính Trên thực tế, hoạt động tái
chế nhựa tại TP.HCM đã có từ lâu đời nhưng công nghệ lạc hậu, chất lượng sản
phẩm tái chế thấp Trong khi đó, các dự án tái chế nhựa quy mô lớn lại gặp khó
khăn về vấn đề nguồn nguyên liệu. Hệ thống thu mua hiện nay không đủ đáp ứng
nhu cầu cả về chất và lượng. Do không được phân loại từ nguồn nên phế liệu nhựa
còn lẫn nhiều tạp chất. Điều này gây khó khăn cho công việc lưu trữ, tái chế nhựa,
làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm. Song song đó là nguồn cung cấp phế
liệu không đảm bảo, gây khó khăn cho các dự án tái chế quy mô lớn.
Kẻ thù đáng sợ hơn cả lại là chất độn, phụ gia đưa vào nhựa tái chế. Do mất
nhiều đặc tính cơ, lý hóa ban đầu, để sử dụng lại, người ta bắt buộc phải đưa thêm
vào một số phụ gia để tăng độ kết dính, độ xốp, tăng độ mềm dẻo, và tăng độ tươi
của màu sắc để hấp dẫn người dùng
Tại các làng nghề thu gom, tái chế phế liệu, người ta tận dụng tất cả các phần
diện tích của gia đình, của thôn xóm đến cả vỉa hè, lòng đường, thậm chí cả trên
đường sắt để chứa phế thải. Theo lời kể của các bậc cao niên trong làng, thì nghề tái
chế phế liệu đã có từ rất lâu. Các nguyên liệu như túi ni lông, vỏ chai nhựa các
loại… được người dân thu mua về và tái chế lại thành nhựa thô, một phần được tái
chế tại chỗ thành các sản phẩm, đồ gia dụng bằng nhựa, dây buộc hóa học Phần
còn lại xuất cho các công ty, xí nghiệp chuyên sản xuất đồ nhựa.Tuy nhiên, không
phải rác thải nào cũng được tái chế mà khâu thu gom xử lý lại chậm, nên hàng ngày
vẫn có một lượng lớn rác ứ đọng, chất đống và bốc mùi, tiềm ẩn những nguy hại tới
môi trường và sức khỏe.
Hiện nay, trên thị trường có khá nhiều đồ dùng được làm bằng nhựa tái chế
mà bằng mắt thường người dân khó phân biệt được. Nếu sản phẩm làm bằng nhựa
tái chế từ rác thải thì mức độ độc hại còn cao hơn nhiều lần, bởi ngoài chất độc hại từ
các chợ lớn, nhỏ, siêu thị hay chợ ven đường… hàng hoá giao cho khách hàng đều
đựng túi PE. Tuy nhiên, việc sản xuất ra HDPE cũng sử dụng tới các hoá chất độc
hại như hexane và benzne. Một loại nhựa khác gần với PE là PP (polypropylene). Do
PP có tính chất cơ học cao hơn PE nên được kéo sợi và dệt thành các loại bao bì
đựng gạo, đường, ngô, đậu nành, lạc…Sợi PP còn dệt thành bạt để che mưa, nắng rất
phổ biến ở cả thành thị và nông thôn. Các loại xô, chậu, rổ rá cũng thường làm bằng
nhựa PP được xem là loại plastic tốt nhất.
Cơ quan công sở, trường học:
Chiếm 14,3%. Chai đựng nước tinh khiết có dung tích 0,3; 0,5 và 1,0 lít
thường thấy trên bàn tiếp khách của cơ quan, bàn ăn của nhà hàng, mang theo đi
công tác hay du lịch, chủ yếu làm bằng nhựa PET (polyethyleneterephtalat). Loại
nhựa này có độ bền cơ học tốt nên hầu như không bị nứt, vỡ khi vận chuyển.
Những loại chai lớn hơn có dung tích 5 lít, 20 lít cũng làm bằng loại nhựa
này. Một lượng lớn chai PET có dung tích khác nhau còn được sử dụng để để đựng
dầu thực vật (đậu nành, mè, lạc…)… Tuy nhiên, những loại nhựa này có thể rò rỉ
vào trong nước kim loại an-ti-môn và ô-xít chì rất độc hại nhất là khi đựng nước
nóng hay để trong môi trường có nhiệt độ cao. Các nhà khoa học cũng khuyến cáo
không nên sử dụng lại những chai nhựa làm bằng PET vì khó làm sạch và có thể
chứa nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.
Khu công cộng, khu vui chơi giải trí, công viên, đường phố:
Đồ chơi thẻ em, đường ống dẫn nước. Hiện nay trên thị trường các loại ống
nước bao gồm:
• Ống kim loại: ống đồng, ống thép tráng kẽm
• Ống nhựa: ống PVC, ống PPR, ống HDPE
• Ống nhựa lõi kim loại: ống nhựa ABS lõi nhôm
2.2.2. Phân loại tính chất của các loại nhựa
Phân loại:
12
Hầu hết các nhà sản xuất sản phẩm bao bì nhựa hiện nay đều ký hiệu sản
phẩm của họ theo thứ tự từ 1 đến 7, đặc trưng cho hầu hết các loại nhựa sản xuất để
g/cm
3
- Đặc tính cứng, có nhiệt độ
nóng chảy cao
3 Poly
vinylchloride
PVC -(CH
2
-CHCl)-
n
1,4g/cm
3
-Có đô cứng và các đặc tính
cơ học cao. Tỷ lệ thuận với
trọng lượng p.tử, tỳ lệ nghịch
với nhiệt độ.
- Chịu nhiệt cao trên 100
o
C,
4 Low-density
polyethylene
LDPE -(CH2)-
(mật độ thấp)
0.91–0.94
g/cm
3
- Trong suốt, hơi có ánh mờ,
có bề mặt bóng láng, mềm
dẻo.
- Chống thấm nước và hơi
-Tính bền cơ học cao, khá
cứng vững, không mềm dẻo
như PE.
- Trong suốt, độ bóng bề mặt
cao cho khả năng in ấn cao,
nét in rõ.
- Chịu được nhiệt độ cao hơn
100
0
C.
- Có tính chất chống thấm O
2
,
hơi nước, dầu mỡ và các khí
khác.
6 Polystyrene PS -(CH[C
6
H
5
]-CH
2
)-
n
1,05-1,06
g/cm
3
- Dễ pha màu.
- Cách điện.
13
7 Các loại nhựa
• PETE (Polyethylene terephthalate):
+ Đặc tính:
PET là một loại bao bì thực phẩm quan trọng có chể tạo màng hoặc tạo dạng
chai lọ do bởi các tính chất :
- Bền cơ học cao, có khả năng chịu đựng lực xé và lực va chạm, chịu đựng sự
mài mòn cao, có độ cứng vững cao.
- Trơ với môi trường thực phẩm.
- Trong suốt.
- Chống thấm khí O
2
, và CO
2
tốt hơn các loại nhựa khác.
- Khi được gia nhiệt đến 200
0
C hoặc làm lạnh ở – 90
0
C, cấu trúc hóa học của
mạch PET vẫn được giữ nguyên, tính chống thấm khí hơi vẫn không thay đổi khi
nhiệt độ khoảng 100
0
C.
+ Công dụng:
Do tính chống thấm rất cao nên PET được dùng làm chai, bình đựng nước
tinh khiết, nước giải khát có gas….
Hình 2: Một số sản phẩm từ nhựa PETE
• 2-HDPE (High-density polyethylene):
+ Đặc tính:
- Đặc tính cứng, có nhiệt độ nóng chảy cao
+ Công dụng:
Hình 4: Một số sản phẩm từ nhựa PVC
• 4- LDPE (Low-density polyethylene):
+ Đặc tính:
15
- Trong suốt, hơi có ánh mờ, có bề mặt bóng láng, mềm dẻo.
- Chống thấm nước và hơi nước tốt.
- Chống thấm khí O
2
, CO
2
, N
2
và dầu mỡ đều kém.
- Chịu được nhiệt độ cao (dưới 230
0
C) trong thời gian ngắn.
- Bị căng phồng và hư hỏng khi tiếp xúc với tinh dầu thơm hoặc các chất
tẩy như Alcool, Acêton, H
2
O
2
…
- Có thể cho khí, hương thẩm thấu xuyên qua, do đó LDPE cũng có thể hấp
thu giữ mùi trong bản thân bao bì, và cũng chính mùi này có thể đưộc hấp
thu bởi thực phẩm được chứa đựng, gây mất giá trị cảm quan của sản
phẩm.
+ Công dụng:
- Làm túi xách các loại, thùng (can) có thể tích từ 1 đến 20 lít với các độ
dày khác nhau.
- Sản xuất nắp chai. Do nắp chai bị hấp thu mùi nên chai đựng thực phẩm
• 6-PS (Polystyrene):
+ Đặc tính:
- Dễ pha màu.
- Cách điện.
+ Công dụng:
- Dùng làm bao bì thực phẩm, đĩa, khai đựng thịt, ly uống nước.
- Đồ dùng nhà bếp, bao bì đóng gói sản phẩm, hộp đựng yoghurt…
- Dùng làm vật liệu cách điện.
Hình 7: Một số sản phẩm từ nhựa PS
7- CÁC LOẠI KHÁC:
Các loại nhựa plastic được đánh số 7, nghĩa là nó được làm từ một loại
plastic khác với 6 loại kể trên.
Ví dụ: PC (polycacbonat)
+ Đặc tính:
17
- Tính chống thấm khí, hơi cao hơn các loại PE, PVC nhưng thấp hơn PP,
PET.
- Trong suốt, tính bền cơ và độ cứng vững rất cao, khả năng chống mài
mòn và không bị tác động bởi các thành phần của thực phẩm.
- Chịu nhiệt cao (trên 100
0
C ).
+ Công dụng:
- Với khả năng chịu được nhiệt độ cao nên PC được dùng làm bình, chai,
nắp chứa thực phẩm cần tiệt trùng.
- Màng PC có tính chống thấm khí, hơi kém, giá thành PC cao gấp ba lần
PP, PET, PP nên ít được sử dụng.
* Các loại nhựa khác:
+ Đặc tính: Nhựa hỗn hợp được sử dụng để tái chế thành các loại hạt
nhựa
Ở các quốc gia có nền kinh tế kém hơn, các nhà máy plastic lớn thường
không tái chế chất thải plastic từ rác thải đô thị. Dây chuyền sản xuất của họ nhạy
cảm với độ nhiễm bẩn của plastic và độ đồng đều của các hạt nhựa, điều đó sẽ làm
giảm chất lượng sản phẩm của họ. Tuy nhiên các nhà máy lớn này có xu hướng tái
chế lại chính chất thải plastic của họ. Điều này đảm bảo chất lượng về vệ sinh hơn.
Các nhựa tái chế sẽ được trộn với nhựa mới theo một tỷ lệ nào đó tùy yêu cầu của
nhà sản xuất.
Tuy nguồn nguyên liệu sản xuất có sự khác nhau giữa các nước phát triển và
đang phát triển có đôi chút khác nhau nhưng quá trình sản xuất vẫn áp dụng một
công nghệ chính
Hình 9: Sơ đồ quy trình sơ chế trước khi tái chế
19
Làm sạch sơ bộ
Chất thải
công nghiệp
Chất thải đô
thị
Chất thải
nông nghiệp
Chất thải
thương mại
Xay nhỏ
Phân loại sơ bộ
Thu gom
Tạo hạt & đóng gói
Phân loại & làm
sạch
Chi tiết
2.3.1. Thu gom:
Nhựa được thu gom từ chất thải công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và đô
thì quá trình làm sạch có thể bắt đầu. Công đoạn này rất quan trọng, bởi vì phế liệu
nhựa sạch sẽ có giá cao hơn và chất lượng sản phẩm tạo ra sẽ tốt và đẹp hơn. Nhựa
có thể được làm sạch ở nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình tái chế như: trước,
sau hoặc ngay khi phân loại. Nhựa cứng thường được rửa sạch lần nữa sau khi chúng
được cắt nhỏ.
20
Phế liệu nhựa có thể được rửa bằng tay hoặc bằng máy. Máy rửa gồm một bể
nước có gắn bộ cánh khuấy chạy với tốc độ chậm. Nhựa được ngâm trong bể nước
nhiều giờ, trong khi các cánh khuấy hoạt động liên tục. Chất bẩn (chủ yếu là đất cát)
sẽ lắng xuống và nhựa sạch được vớt lên. Nếu phế liệu bị dính dầu mỡ thì có thể rửa
bằng nước nóng với xà bông, thuốc tẩy hoặc với NaOH.
Phế liệu nhựa có thể được phơi khô bằng tay hoặc sấy khô bằng máy. Nếu
phơi bằng tay thì nhựa được trải ra sân phơi dưới nắng và được trở mặt đều đặn. Loại
nhựa tấm có thể treo thành từng hàng. Như vậy sẽ có thể giảm được diện tích sân
phơi so với việc phải trải ra.
Đối với nhựa phế liệu (PE) đã được cắt nhỏ thì có thể dùng máy sấy. Thời
gian sấy khô sẽ nhanh hơn và phế liệu không bị nhiễm bẩn trở lại so với việc phơi
ngoài trời. Phần nhựa cứng thì không thể sấy bằng máy mà phải trải ra phơi cho ráo
nước. Thời gian phơi tùy thuộc vào gió và nhiệt độ của khu vực phơi.
2.3.4. Xay nhỏ:
Kỹ thuật bằm nhỏ là kỹ thuật chia nhỏ vật liệu bằng nhiều cách nhằm làm
tăng thêm số lượng nguyên liệu tái chế và thuận lợi cho việc vận chuyển và dễ dàng
đưa vào các thiết bị máy móc.
Nhựa thô sau khi phân loại sẽ được cho vào máy bằm để bằm nhỏ ra. Nguyên
liệu được đổ vào một cái phễu ở phía trên máy bằm, lưỡi cắt xoay đều và cắt ra
thành nhiều mảnh nhỏ. Sau đó, chúng sẽ được qua một vỉ lọc và rớt xuống thùng
chứa đặt phía dưới.
Hình 10: Mô hình nguyên lý máy xay nhựa
Tùy theo loại và chất lượng nguyên liệu thô (HDPE dạng tấm, sợi LDPE) mà
chúng được trộn lẫn và bằm nhỏ. Hai loại PE này được trộn lẫn để tạo ra một đặc
2,165kg/l. Tính khối lượng NaCl cần dùng?
22
Giải:
Do PS có tỉ trọng (1.05 ) nhỏ hơn PVC (1.4), PETE(1.38) nên ta điều chỉnh tỉ
trọng của nước trong đạt giá trị 1,1 kg/l, khi đó ta sẻ thu được PS nổi trên bề mặt bể:
Ta có: Ddd = = = 1.1 kg/l
2,165(2000 + x) = 1.1(2,165 .2000 + x)
4330 + 2,165x = 4763 + 1,1x
1,065x = 433
x = = 406,6 kgNaCl
2.3.6. Tạo hạt và đóng gói:
Nhựa cứng sau khi nghiền nhỏ và nhựa xốp là nguyên liệu của quá trình đùn
và tạo hạt để sản xuất hạt nhựa. Hạt nhựa này sẽ trở thành nguyên liệu đầu vào của
các quá trình ép thành sản phẩm.
Khi được nung chảy, nhựa được ép qua một máy đùn, một loại máy ép nhựa
thành những sợi như sợi bún hay những hạt nhỏ và được định hình thành hạt nhựa.
Điều này được thực hiện cách làm nóng chảy và đùn ra, đầu tiên thông qua một
buông có nhiệt độ cao để loại bỏ bất kỳ bẩn rắn hoặc các hạt kim loại làm cho nhựa
tinh khuyết một lần nũa. Trước khi nguyên liệu ra khỏi khuôn, chúng được đưa qua
vỉ lưới lọc để loại bỏ những mảnh cứng. Khi các sợi nhựa ra khỏi khuôn, chúng đi
qua một bể nước lạnh để rắn lại. Trục lăn sẽ đưa vật liệu vào khuôn cắt để cắt thành
các viên nhỏ, hình bầu dục dùng làm nguyên liệu sản xuất. Hạt nhựa sẽ tự động được
trút vào bao đặt trên một cái cân.
23
Hình 12: Mô hình nguyên lý máy tạo hạt
Hạt nhựa này có thể đem đi bán cho các nhà sản xuất khác. Ví dụ: hạt nhựa
này được kéo thành sợi để sản xuất những sản phẩm như vải len nhân tạo, làm thảm
hay sản phẩm giả gỗ dùng trong công nghiệp, xây dựng, hay làm ngói, gạch …
Một số phương pháp sản xuất được sử dụng cho các qui trình nhỏ để sản xuất
ra những sản phẩm cuối cùng, bao gồm: