Chuyên đề tốt nghiệp
Giải thích một số cụm từ viết tắt :
NHNN : Ngân hàng nhà nước
KH : Kế hoạch
TW : Trung ương
TCTD : Tổ chức tín dụng
NHTM : Ngân hàng thương mại
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
WHO : Tổ chức y tế thế giới
TKDT : Tiết kiệm dự thưởng
PT : Phát triển
CBVC : Cán bộ viên chức
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
GVKC : Giảng viên kiêm chức
BHXH : Bảo hiểm xã hội
NH : Ngân hàng
N
O
&PTNT : Nông nghiệp và phát triển
NHTMVN : Ngân hàng thương mại Việt Nam
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm trước đây, không mấy ngân hàng quan tâm đến việc bỏ
ngân sách ra để truyền thông, quảng cáo. Trước sự kiện Việt Nam gia nhập tổ
chức kinh tế lớn nhất thế giới WTO đã làm cho môi trường hoạt động kinh
doanh nước ta thay đổi.Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, những cam kết
của Việt Nam khi gia nhập WTO đã làm cho các điều kiện kinh doanh, môi
trường pháp lý ở lĩnh vực này thay đổi mạnh mẽ, đòi hỏi các Ngân hàng
thương mại quốc doanh phải đổi mới để giữ thị trường, đặc biệt trong công
tác tiếp thị Marketing. Tiền tỷ đã được các ngân hàng đổ vào các hoạt động
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường hoạt động marketing tại
Ngân hàng nông nghiệp nông thôn – Chi nhánh Láng Hạ.
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
MARKETING NGÂN HÀNG
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm và vị trí của ngân hàng thương mại.
1.1.1.1. Khái niệm.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích
lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Khái
niệm về ngân hàng thương mại đang có sự thay đổi vì sự pha trộn các hoạt
động truyền thống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác.
Mặc dù chỉ có một biên giới rất mỏng manh giữa ngân hàng thương
mại với các ngân hàng trung gian khác, người ta vẫn tách ngân hàng thương
mại ra 1 nhóm riêng vì những lí do đặc biệt của nó. Một trong những lí do này
là tổng tài sản của khối các ngân hàng thương mại có trong toàn bộ hệ thống
ngân hàng là lớn nhất. Hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không
kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ
M1 của nền kinh tế. Nhưng do sự phát triển nhanh chóng của các tổ chức tài
chính khác nên ngày nay việc phân biệt ngân hàng thương mại với loại hình
ngân hàng khác là dựa trên tài sản có, với cách phân loại này, môt ngân hàng
thương mại là một ngân hàng trung gian mà tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích
thương mại và công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có của nó.
1.1.1.2. Vị trí của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.
Tuy hệ thống ngân hàng thương mại không trực tiếp làm ra của cải cho
nền kinh tế nhưng nó chiếm một vị trí rất quan trọng để góp phần duy trì nhịp
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
gia. Đối với hệ thống lưu thông tiền tệ thì ngân hàng thương mại tham gia vào
với tư cách là tạo tiền gửi. Đối với hệ thống thanh toán thì hoạt động trao đổi
thương mại sẽ phát sinh hoạt động thanh toán, vì thế hoạt động của nền kinh
tế sẽ phát sinh hệ thống thanh toán qua hình thức trực tiếp giữa người mua với
người bán, có thể gián tiếp thông qua trung gian thanh toán là ngân hàng.
Hình thức thanh toán qua ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối
lượng thanh toán của nền kinh tế, điều này đã làm giảm đáng kể chi phí lưu
thông cho nền kinh tế.
Thứ ba, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại đa dạng và
phong phú trên phạm vi rộng. Đa dạng được thể hiện ở các sản phẩm và dịch
vụ của ngân hàng từ hoạt động huy động, cho vay đến hoạt động đầu tư và
các dịch vụ khác, được phân chia theo rất nhiều đặc điểm và tính chất. Phạm
vi rộng thể hiện ở chỗ các ngân hàng không chỉ tham gia trên 1 hay 1 số lĩnh
vực hay địa bàn nào đó mà ngày nay đối với các ngân hàng lớn đã tham gia
vào mọi lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế và đã có mặt tại hầu hết các
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Thứ tư, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn
những rủi ro như : Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro
hối đoái, rủi ro tồn đọng vốn và các rủi ro khác (Bị cướp, hoả hoạn, hay do
nhầm lẫn…).
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Làm thủ quĩ cho xã hội.
Thực hiện chức năng này ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của công
chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình,
đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền của họ.
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với khách hàng, thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng, họ không
những được đảm bảo an toàn về tài sản mà còn thu được một khoản lợi tức từ
ngân hàng (tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp rủi ro khi ngân hàng
một khối lượng lớn, ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung cầu
tín dụng cả về khối lượng vốn cho vay và thời gian cho vay.
1.1.2.4. Vai trò khác.
Có thể kể đến như hệ thống ngân hàng thương mại đã góp phần vào
tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư ra nước ngoài. Ở đây
các ngân hàng thương mại tham gia ở hai khía cạnh.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các ngân hàng thương mại tham gia
trực tiếp qua việc cho vay đối với nền kinh tế để tạo cơ sở hạ tầng, chất lượng
dịch vụ…Tham gia gián tiếp với tư các là môi giới bảo lãnh, tư vấn…
Đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài bằng việc mở chi nhánh ra nước ngoài,
đẩy mạnh việc cung cấp, dịch vụ tài chính giúp các doanh nghiệp đầu tư ra
nước ngoài.
Một vai trò nữa của ngân hang thương mại là cung cấp các dịch vụ tài
chính khác cho nền kinh tế như: tư vấn, bảo lãnh, bảo hiểm, cho thuê tài
chính…
1.1.3. Các hoạt đông chủ yếu của ngân hàng thương mại.
1.1.3.1. Huy động vốn.
Cho vay là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi
cách để huy động được vốn. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
tiền gửi (thanh toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn và
có lợi tức (có lãi ). Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản
tiền gửi, các ngân hàng đã có những mức trả lãi khác nhau cũng như có nhiều
hình thức huy động, kèm theo đó là những sự khuyến mại như là phần thưởng
cho khách hàng về việc họ đã cho phép ngân hàng sử dụng nguồn vốn nhàn
rỗi của mình để kinh doanh.
1.1.3.2. Cho vay.
Có rất nhiều hình thức cho vay mà ngân hàng thương mại cung cấp cho
vụ cho khách hàng nhăm thoả mãn tôt nhất nhu cầu của họ để giữ chân khách
hàng. Các dịch vụ co thể kể đến như thanh toán không dùng tiền mặt, các loại
thẻ ( ATM, Matercard…), dịch vụ cho thuê két, tư vấn, bảo lãnh, bảo hiểm,
hay cung cấp các dịch vụ đại lý…Ngoài ra ngân hàng thương mại còn có các
hoạt động như tài trợ các hoạt động của chính phủ và cung cấp dịch vụ uỷ
thác…
1.2. MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN
HÀNGTHƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của marketing.
1.2.1.1. Khái niệm về marketing trong ngân hàng.
Đưa ra một khái niệm chuẩn xác về marketing ngân hàng là điều không
dễ dàng bởi hiện nay có khá nhiều quan niệm về marketting ngân hàng.
Quan niệm thứ nhất: Marketing ngân hàng là hướng quản trị tổng hợp
dựa trên cơ sở nhận thức về môi trường kinh doanh.
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
Quan niệm thứ hai: Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của
ngân hàng nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi
nhuận.
Quan niệm thứ ba: Marketing ngân hàng là trạng thái tinh thần của
khách hàng mà ngân hàng phải thoả mãn hay là việc thoả mãn nhu cầu của
khách hàng trên cơ sơ đó ngân hàng đạt được lợi nhuận tối ưu.
Đã xuất hiện những quan niệm khác nhau, song đều đã có sự thống
nhất về những vấn đề cơ bản của marketing ngân hàng:
- Việc sử dụng marketing vào lĩnh vực ngân hàng phải dựa trên
những nguyên tắc, nội dung và phương châm của marketing hiện đại.
- Quá trình marketing ngân hàng thực hiện sự thống nhất cao độ
giữa nhận thức và hành động của các ngân hàng về thị trường, nhu cầu khách
hàng và năng lực của ngân hàng.
- Nhiệm vụ then chốt của marketing ngân hàng là xác định nhu
đáo phải mang lại lợi thế của sự khác biệt. Lợi thế của sự khác biệt không
nhất thiết phải tạo trên toàn bộ quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ hoặc trọn
vẹn một kỹ thuật marketing mà có thể chỉ là một yếu tố then chốt một khía
cạnh liên quan cũng mang lại sự độc đáo.
- Hai là, phải làm rõ tầm quan trọng của sự khác biệt đối với khách
hàng, nếu chỉ tạo ra sự khác biệt không thôi thì cũng chưa đủ để tạo ra lơi thế
cạnh tranh của ngân hàng. Điều hết sức quan trọng là sự khác biệt đó phải có
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
tầm quan trọng đối với khách hàng, có giá trị thực tế đối với họ và được họ
coi trọng thực sự.
- Ba là, khả năng duy trì lợi thế về sự khác biệt của ngân hàng. Sự
khác biệt phải dược tiếp tục duy trì, đồng thời phải có hệ thống biện pháp để
chống lại sự sao chép của các đối thủ cạnh tranh. Thông qua việc chỉ rõ và
duy trì lợi thế của sự khác biệt marketing giúp ngân hàng phát triển ngày càng
nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.
1.2.1.3. Đặc điểm của marketing ngân hàng.
Marketing ngân hàng loại hình marketing dịch vụ tài chính ,theo Philip
Kotler “ dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ
yếu là vô hình và không dẫn đến chuyển quyền sở hữu” việc nghiên cứu các
đặc điểm của dịch vụ sẽ là căn cú để tổ chức tốt quá trình marketing ngân
hàng. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm khác biệt đó là tính vô
hình, tính không phân chia, tính ổn định, không lưu trữ và không xác định
chất lượng.
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dich vụ ngân
hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản
phẩm dịch vụ. Đó là địa điểm giao dịch, mức độ trang thiết bị kỹ thuật công
nghệ, trình độ cán bộ quản lý và nhân viên.
Hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn có một đăc điểm
có liên quan chặt chẽ đến hoạt động marketing, đó là trách nhiêm liên đới và
1.2.2.1.Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường của ngân hàng hay còn gọi là môi trường hoạt
động của ngân hàng là nội dung có tính chất quyết định. Hoạt động này nhằm
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
xác định nhu cầu của thị trường và thay đổi phương hướng hoạt động của
ngân hàng cho phù hợp với sự biến đổi của thị trường. Môi trường của ngân
hàng bao gồm :
Môi trường vi mô, bao gồm những yếu tố ở phạm vi gần và ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ, đến hoạt động và hiệu quả
của mỗi ngân hàng. Các yếu tố nội lực của ngân hàng như vốn đầu tư và có
khả năng phát triển của nó, trình độ công nghệ, trình độ cán bộ quản lý, đội
ngũ nhân viên, hệ thống mạng lưới phân phối. Khách hàng của ngân hàng,
thành phần này có vị trí hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Bộ phận marketing phải xác định được những nhu cầu mong đợi
của khách hàng từ phía ngân hàng và cách thức lựa chon sản phẩm dịch vụ
của họ. Đối thủ cạnh tranh, bộ phận marketing phải hiểu đầy đủ về đối thủ
cạnh tranh của mình để xây dựng chiến lược cạnh tranh năng động hiệu quả
phù hợp với từng ngân hàng.
Môi trường vĩ mô, bao gồm các tác nhân rộng lớn nằm ngoài quản lí
của ngân hàng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn bộ hoạt
động của marketing. Các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm : môi trường địa
lí, môi trường dân số, môi trường kinh tế, môi trường văn hoá- xã hội, môi
trường chính trị luật pháp, môi trường kỹ thuật công nghệ. Những thay đổi
của môi trường này tạo ra “cơ hội” hoặc “ hiểm hoạ” đối với hoạt động ngân
hàng. Chính vì vậy, bộ phận marketing ngân hàng cần phải tổ chức thu thập
đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về môi trường và phân tích dự báo được
sự biến động chung, giúp cho ngân hàng có cơ sở điều chỉnh hoạt động ngân
hàng cho phù hợp vơi thay đổi của môi trường- yếu tố đảm bảo thành công
của ngân hàng.
tiết kiệm.
Bảo
hiểm
nhà.
Mua bán
hộ ngoại
tệ.
Dịch vụ
đầu tư.
Tài khoản
hướng lãi.
Lãi suất
biến đổi.
Vay mua
ôtô.
Tài
khoản có
lãi cao.
Bảo
hiểm
nhân thọ
Hoán đổi
tỷ giá.
Giao
dịch
chứng
khoán.
Vay cải
tạo nhà.
Tài
c.Chính sách phân phối.
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ thống kênh phân phối là một vấn đề được quan tâm trong chiến lược
marketing của ngành ngân hàng. Tác động của công nghệ điện tử và việc xoá
bỏ những rào cản gia nhập ngành đã tăng tính cạnh tranh trên thị trường ngân
hàng. Điêu đó ảnh hưởng đáng kể tới việc phân phối sản phẩm dịch vụ.
Các nhà hoạch định marketing ngân hàng khi xây dựng chiến lược phân
phối đều đưa ra bốn mục tiêu sau: Mở rộng thị trường, tăng doanh số hoạt
động và lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh, hạ chi phí. Sau đó mới lựa
chọn xem kênh phân phối nào thích hợp trên cơ sở phân tích các mục tiêu của
ngân hàng, khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ, mức độ cạnh tranh và đặc
điểm của khách hàng. Đó chíh là sự kêt hợp hài hoà giữa hệ thống kênh phân
phối truyền thống và hệ thống phân phối ngân hàng hiện đại trong cung ứng
sản phẩm dịch vụ ngày nay.
d. Chiến lược giao tiếp khuếch trương (Promotion).
Khuếch trương giao tiếp là một công cụ quan trọng của marketing được
các nhà ngân hàng sử dụng để tác động vào thị trường. Để đạt được nhưng
mục tiêu đã xác định, bộ phận marketing của ngân hàng thường triển khai
chiến lược xúc tiến hỗn hợp thông qua ccs hình thức như: quảng cáo, giao
dịch cá nhân, tuyên truyền hoạt động của ngân hàng trong xã hội, hoạt động
khuyến mại, marketing trực tiếp và các hoạt đông tài trợ. Tất cả những hoạt
động trên đều nhằm mục đích truyền tin về ngân hàng, về sản phẩm dịch vụ,
về giá cả và kênh phân phối của ngân hàng đối với khách hàng hiện tại và
tương lai.
Hoạt động giao tiếp khuếch trương đã góp phần thực hiện các mục tiêu
là tạo lập và phát triển hình ảnh của ngân hàng trên thị trường, tăng cường uy
tín, danh tiếng của ngân hàng, thiết lập sự tin tưởng và trung thành của khách
hàng- yếu tố qua trọng của cạnh tranh.
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Trong cả mùa giải ai cũng sẽ để ý thấy hình ảnh lô gô của ngân hàng Barclay
được in trên áo cầu thủ và những biển quảng cáo xung quanh sân. Với hình
thức này ngân hàng Barclay đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường
Anh mà còn nổi tiếng khắp thế giới.
Không tập trung vào lĩnh vực thể thao ngân hàng Lloyds của Anh lại
quảng cáo thương hiệu của mình trên lĩnh vực thời trang với việc tài trợ cho
những buổi biểu diễn thời trang lớn, ngân hàng Lloyds đã trở lên quen thuộc
với những sinh hoạt hàng ngày của người dân Anh. Người dân tin tưởng vào
nhãn hiệu thời trang Lloyds bao nhiêu thì độ tin cậy đối với các dịch vụ của
ngân hàng Lloyds cũng tăng lên, họ sử dụng thẻ thanh toán của Lloyds để
thanh toán cho việc mua các sản phẩm thời trang.
1.3.2. Kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam.
Những năm gần đây các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam ngày
càng nhiều. Ngân hàng ANZ là một trong những ngân hàng nước ngoài khá
thành công ở Viêt Nam. Hàng năm ANZ luôn dược công nhận là “ Ngân hàng
nước ngoài tốt nhất” ở Việt Nam. Ngân hàng ANZ tài trợ cho rât nhiều hoạt
động ở Việt Nam từ thể thao, văn hoá xã hội đến việc cấp học bổng tài trợ cho
những học sinh, sinh viên giỏi trong cả nước.
Việc tài trợ 300.000USD của ngân hàng Standard Chartered cho việc
chống mù loà ở Quảng Nam đã giúp thương hiệu của ngân hàng này được
nhiều người biết đến hơn. Hiện nay, chắc chắn ai cũng biết đến Ngân hàng
Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) với những quảng cáo ấn tượng và đặc biệt là
khẩu hiệu “Ngân hàng toàn cầu am hiểu địa phương”. Không những thế ngân
hàng này còn có những hoạt động tư vấn giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam
khi xuất khẩu các mặt hàng sang Hoa Kỳ miễn phí chỉ với mục đích duy nhất
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
là các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có hoạt động thanh toán quốc tế qua ngân
hàng này (Đây được coi là 1 hình thức bán chéo sản phẩm).
1.3.3. Bài học kinh nghiệm.
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được xác định thêm
nhiệm vụ: Đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn qua việc mở rộng đầu
tư vốn trung, dài hạn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn.
Đứng trước tình hình nhiệm vụ, xây dựng ngân hàng trong giai đoạn
mới, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đất nước sau 10 năm đổi mới, đòi hỏi
các tổ chức tín dụng cần phải đa năng hơn trong hoạt động kinh doanh nhằm
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
tạo lợi thế cạnh tranh, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững
đổi mới kinh tế dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII - Đại hội
Đảng lần thứ hai trong giai đoạn mới nền kinh tế đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị ngành ngân hàng quyết tâm xây
dựng và củng cố tiếp tục đưa toàn hệ thống không ngừng lớn mạnh, không
những đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước tại các khu đô thị, mà còn
chủ động được nguồn vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã thể hiện
định hướng chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong những tháng cuối năm
1996 là; Củng cố và giữ vững thị trường nông thôn, tiếp cận nhanh và từng
bước chiếm lĩnh thị phần tại thị trường thành thị, phát triển kinh doanh đa
năng, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất
nước.
Từ thực tiễn trên, cùng với việc ra đời của một số Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp tại các thành phố lớn, khu đô thị và trung tâm kinh tế trên mọi
miền đất nước trong giai đoạn 1996 - 1997. Ngày 1/8/1996 tại Quyết định số
334/QĐ-NHN
0
-02 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
2.1.2.1. Công tác nguồn vốn
Tổng nguồn vốn đến 31/12/2007 đạt 7,275 tỷ đồng, bằng 137% so với
31/12/2006, tăng 37%, số tuyệt đối tăng 1,954 tỷ đồng, đạt 115% kế hoạch
năm 2007 (KH: 6,350 tỷ đồng). Trong đó:
* Phân theo loại tiền
- Nguồn vốn nội tệ đạt 6,3 tỷ đồng tăng 1,961 tỷ đồng so với năm 2006,
đạt 131% so với kế hoạch năm 2007 (KH:4,773 tỷ đồng).
SV: Nguyễn Mạnh Cường Lớp: Tài chính 46Q
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nguồn ngoại tệ (quy VNĐ) đạt 1,045 tỷ đồng, giảm 7 tỷ đồng so với
năm 2006, đạt 66% so với kế hoạch năm 2007 (KH: 1,577 tỷ đồng). Chi
nhánh lấy tỷ giá quy đổi là 16,114 VNĐ/USD.
* Phân theo kỳ hạn
- Nguồn vốn không kỳ hạn: 1,982 tỷ đồng, tăng 703 tỷ so với năm 2006,
chiếm 27% tổng nguồn vốn. Trong đó ngoại tệ 110 tỷ chiếm 4.1% tổng
nguồn vốn.
- Nguồn vốn có kỳ hạn dưới 12 tháng: 291 tỷ đồng, giảm 568 tỷ đồng
so với năm 2006, chiếm 4% tổng nguồn vốn. Trong đó ngoại tệ 110 tỷ đồng
chiếm 1.5% tổng nguồn vốn.
- Nguồn vốn có kỳ hạn từ 12 - 24 tháng: 677 tỷ đồng, giảm 519 tỷ đồng
so với năm 2006, chiếm 9,3% tổng nguồn vốn. Trong đó ngoại tệ 240 tỷ đồng
chiếm 3.3% tổng nguồn vốn.
- Nguồn vốn có kỳ hạn từ 24 tháng trở lên: 4,325tỷ đồng, tăng 2,338 tỷ
đồng so với năm 2006, chiếm 60% tổng nguồn vốn. Trong đó ngoại tệ 397 tỷ
đồng chiếm 5.5% tổng nguồn vốn.
* Phân theo thành phần kinh tế
- Nguồn vốn từ dân cư: 2,367 tỷ đồng tăng 146 tỷ so với năm 2006, tốc độ
tăng trưởng là 7%, chiếm 33% trong tổng nguồn vốn trong đó ngoại tệ là
747 tỷ đồng bao gồm tiền gửi tiết kiệm và huy động giấy tờ có giá. Chỉ
tiêu này so với kế hoạch TW đề ra là còn thấp (theo kế hoạch, tiền gửi dân