Lời mở đầu
Năm 1950, thế giới mới chỉ có 25 triệu lượt khách du lịch, hiện
nay đã lên đến 625 triệu tăng gấp 25 lần và dự kiến đến năm 2010
sẽ là 1,6 tỷ khác. Về tài chính, 6,8 tỷ USD là số tiền khách sử dụng
cho việc đi du khách của mình vào năm 1960, năm 2001: 445 tỷ
USD và dự kiến 2010 là 2001 tỷ USD từ đó ta thấy tốc độ tăng
trưởng hàng năm là 4,3% về lượng khách và 6,7% về tài chính, đạt
tốc độ cao nhất trong tất cả các ngành kinh tế những con số này
chứng tỏ nhu cầu đi du lịch đã bùngnổ và trở thành một nhân tố
không thể thiếu trong xã hội hiện nay, để đáp ứng được những nhu
cầu di du lịch đó,khách sạn cần có hoạt động thăm dò,tìm hiểu nhu
cầu tiềm ẩn của khách.chính vi vậy hoạt động marketing ra đời va
ngày càng thể hiện rõ vai trò to lớn của nó trong hoạt đông kinh
doanh khách sạn, hoạt động thu hút khách. Thơi gian vừa qua công
ty du lịch khách sạn Kim Liên đã có được những kết quả đáng khích
lệ, công ty luôn đứng vững và không ngừng phát triển lượng khách
đến khách sạn liên tục tăng. Có được như vậy là vì ban lãnh đạo đã
có sự quan tâm đúng mức đến hoạt động marketing của mình thấy
được tầm quan trọng của hoạt động marketing và đã chứng kiến
hiệu quả của hoạt động này nhờ vào lượng khách tăng lên doanh
thu tăng lên so với những năm trước thì hoạt động marketing được
chú ý đến. Vì vậy là sinh viên thực tâp tại Khách Sạn Kim Liênva
nhận thấy tầm quan trọng của hoat động marketing trong kinh
doanh khách san.nên em đã lựa chọn đề tài này: "Các giải pháp
nâng cao hiệu quả marketing tại công ty khách sạn Kim Liên"
Nội dung chính của đề tài:
1
Chương I
Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh khách sạn
và hoạt động marketing – mix
đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các thông số của tài nguyên du lịch, cũng
như những nhóm khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng bị
hấp dẫn tới điểm du lịch mà xác định các chỉ số kỹ thuật của một
công trình khách sạn khi đầu tư xây dựng và thiết kê. Khi các điều
kiện khách quan tác động vào giá trị và sức hấp dẫn của tài nguyên
du lịch thay đỏi sẽ đòi hỏi sự điều chỉnh về cơ sở vật chất kỹ thụat
của khách sạn cho phù hợp. Bên cạnh đó, đặc điểm về kiến trúc,
quy hoạch và đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật. Của khách sạn
tại các điểm du lịch cũng có ảnh hưởng tới việc làm tăng hay giảm
giá trị của tài nguyên du lịch tại các trung tâm du lịch.
1.1.1.2.2. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dùng lượng vốn đầu tư lớn
Do yêu cầu về tính chất lượng cao của sản phẩm khách sạn
đòi hỏi các thành phần của cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn
cũng phải có chất lượng cao, sự sang trọng của các trang thiết bị
được lắp đặt bên trong khách sạn chính là nguyên nhân đẩy chi phí
đầu tư ban đầu của công trình khách sạn lên cao.
1.1.1.2.3. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dùng lượng lao động trực
tiếp tương đối lớn
Sản phẩm của khách sạn chủ yếu mang tính chất phục vụ và
sự phục vụ này không thể cơ giới hoá được, mà chỉ được thực hiện
bởi những nhân viên phục vụ trong khách sạn. Mặt khác, lao động
trong khách sạn có tính chuyên môn hoá cao thời gian lao động lại
phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, thường kéo dài 24/24
giờ mỗi ngày. Do vậy, cần phải sử dụng một lượng lớn lao động
trực tiếp trong khách sạn trong khi đó các nhà quản lý khách sạn
3
luôn phải đối mặt với khó khăn về chi phí lao động trực tiếp tương
đối cao, khó giảm thiểu chi phí này mà không làm ảnh hưởng xấu
tới chất lượng dịch vụ của khách sạn khó khăn có trong công tác
tuyển mộ, lựa chọn và phân công bố trí nguồn nhân lực của mình.
Sản phẩm của khách sạn là tất cả những dịch vụ và hàng hoá
mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng kể
từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho tới khi
tiêu dùng xong và rời khỏi khách sạn.(giáo trình quản trị kinh doanh
khách sạn)
Nếu xét trên góc độ vè hình thức thể hiện thì ta có thể thấy
sản phẩm của khách sạn bao gồm sản phẩm hàng hoá và sản
phẩm dịch vụ.
( Sản phẩm hàng hoá là những sản phẩm hữu hình (có hình
dạng cụ thể) mà khách sạn cung cấp như: thức ăn, đồ uống, hàng
lưu niệm, các hàng hoá khác được bán trong doanh nghiệp khách
sạn. Đây là loại sản phẩm mà sau khi trao đổi thì quyền sở hữu sẽ
thuộc về người phải trả tiền. Trong số những sản phẩm hàng hoá
thì hàng lưu niệm là một loại hàng đặc biệt, nó có ý nghãi về mặt
tinih thần đặc biệt đối với khách là người từ những địa phương
khác, đất nước khác đến. Chính vì vậy, các nhà quản lý khách sạn
thường rất chú ý tới việc đưa những sản phẩm này vào hoạt động kinh
doanh của khách sạn.
( Sản phẩm dịch vụ (Sản phẩm dưới dạng phi vật chất hay vô
hình) là những giá trị về vật chất hoặc tinh thân (hay cũng có thể là
một sự trải nghiệm, một cảm giác về sự hài lòng hay không hài
lòng) mà khách hàng đòng ý bỏ tiền ra để đổi lấy chúng. Sản phẩm
dịch vụ của khách sạn bao gồm 2 loại là dịch vụ chính và dịch vụ bổ
sung:
5
Dịch vụ chính: là dịch vụ buồng ngủ và dịch vụ ăn uống nhằm
thoả mãn nhu cầu thiết yếu của khách khi họ lưu lại tại khách sạn.
Dịch vụ bổ sung: là các dịch vụ khác ngoài hai loại dịch vụ trên
nhằm thoả mãn các nhu cầu thứ yếu trong thời gian khách lưu lại tại
khách sạn. Đối với dịch vụ bổ sung của khách sạn người ta lại chia
sinh, sữa tăm.v.v…
( Dịch vụ hiện là những lợi ích trực tiếp mà khách hàng dễ
dàng cảm nhận được khi tiêu dùng và cũng là những khía cạnh chủ
yếu của dịch vụ mà khách hàng muốn mua. Ví dụ trong khách sạn
là chiếc giường đệm thật êm ái trong căn buồng ấm cúng, sạch
sẽ.v.v…
( Dịch vụ ẩn là những lợi ích mang tính chất tâm lý mà khách
hàng chỉ cảm nhận được sau khi đã tiêu dùng dịch vụ. Ví dụ cảm
giác về sự an toàn, yên tĩnh khi ở tại khách sạn hay sự cảm nhận về
thái độ phục vụ niềm nở, ân cần, lịch sự và chu đáo của nhân viên
phục vụ của khách sạn.v.v…
Trên đây chúng ta đã xem xét khái niệm sản phẩm của khách
sạn và cơ cấu của nó. Để hiểu rõ hơn chúng ta cần biết sản phẩm
của khách sạn có những đặc điểm gì?
1.1.2.2. Đặc điểm của sản phẩm khách sạn.
Với cách tiếp cận trên, sản phẩm của khách sạn gọi là các sản
phẩm dịch vụ. Sản phẩm của khách có những đặc tính của dịch vụ
trọn gói, chúng ta có thể tóm lược các đặc điểm của sản phẩm dịch
vụ của khách sạn trong các đặc điểm vô hình, không thể lưu kho cất
trữ, tính cao cấp, tính tổng hợp, có sự tham gia trực tiếp của mọi
người tiêu dùng, phụ thuộc vào cơ sở vật chất kỹ thuật:
- Sản phẩm dịch vụ của khách sạn mang tính vô hình. Do sản
phẩm khách sạn không tồn tại dưới dạng vật chất, không thể nhìn
7
thấy hay sờ thấy cho nên cả người cung cấp và người tiêu dùng
đều không thể kiểm tra được chất lượng của nó trước khi bán và
trước khi mua. Người ta cũng không thể vận chuyển sản phẩm dịch
vụ khách sạn trong không gian như các hàng hoá thông thường
khác, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống kênh phân phối sản
phẩm của khách sạn bởi lẽ chỉ có sự vận động một chiều trong kênh
lượng cao mà thôi.
- Sản phẩm khách sạn có tính tổng hợp cao. Tính tổng hợp
này xuất phát từ đặc điểm của nhu cầu của khách du lịch. Vì thế
trong cơ cấu của sản phẩm khách sạn chúng ta đã thấy có nhiều
chủng loại sản phẩm dịch vụ khách sạn. Đặc biệt là các dịch vụ bổ
sung, và các dịch vụ bổ sung giải trí đang ngày càng có xu hướng
tăng lên. Các khách sạn muốn tăng tính hấp dẫn đối với khách hàng
mục tiêu và tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường
thường phải tìm mọi cách để tăng "tính khác biệt" cho sản phẩm
của mình thông nqua các dịch vụ bổ sung không bắt buộc.
- Sản phẩm của khách sạn chỉ được thực hiện với sự tham gia
trực tiếp của khách hàng. Sự hiện diện trực tiếp của khách hàng
trong thời gian cung cấp dịch vụ đã buộc các khách sạn phải tìm
mọi cách để "kéo" khách hàng (từ rất nhiều nơi khác nhau) đến với
khách sạn để đạt được mục tiêu kinh doanh. Ngoài ra các nhà quản
lý còn phải luôn đứng trên quan điểm của người sử dụng dịch vụ từ
khi thiết kế, xây dựng bố trí cũng như mua sắm các trang thiết bị và
lựa chọn cách thức tráng trí nội thất bên trong và bên ngoài cho một
khách sạn.
- Sản phẩm khách sạn chỉ được thực hiện trong những điều
kiện cơ cấu vật chất kỹ thuật nhất định. Để có đủ điều kiện kinh
doanh, các khách sạn phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất
kỹ thuật. Các điều kiện này hoàn toàn tuỳ thuộc vào các qui định
9
của mỗi quốc gia cho từng loại, hạng và tuỳ thuộc vào mức độ phát
triển của hoạt động kinh doanh du lịch ở đó. ở Việt Nam các điều
kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật của một khách sạn phải tuân thủ
theo đúng Pháp lệnh Du lịch, Nghị định của Chính phủ về kinh
doanh lưu trú và ăn uống, thông tư hướng dân của Tổng cục Du lịch
và thoả mãn các điều kiện về mức độ trang thiết bị tiện nghị theo
- Khó có khả năng cơ chế hoá, tự động hoá
- Thời gian làm việc của các bộ phận lưu trữ ăn uống phụ
thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách.
- Mang tính thời vụ cao, đa dạng và phức tạp.
- Các đặc điểm về tuổi, giới tính, hình thức, trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, ngoại ngữ.
- Các đặc điểm của quy trình tổ chức lao động (giờ trong
ngày, ngày trong tháng, tháng trong năm).
* Tổ chức lao động trong khách sạn.
Việc thiết lập tổ chức bộ máy của khách sạn một mặt phải
phân tích các đặc điểm của lao động trong khách sạn, mặt khác
phải dựa vào các khả năng tổ chức lao động trong khách sạn. Khả
năng chuyên môn hoá, khả năng bộ phận hoá khả năng sử dụng
quyền lực, khả năng kiểm soát, khả năng điều phối.
* Cơ chế vận hành bộ máy tổ chức.
Cơ chế vận hành bộ máy tổ chức là tổng thể các yếu tố, các
mối quan hệ, động lực và quy luật chi phối sự vận động của bộ máy
tổ chức nhằm đạt được mục đích của khách sạn. Cơ chế vận hành
bộ máy tổ chức phải bảo đảm được tính thang bậc, tính thống nhất,
tính uy quyền và tính phối hợp.
1.1.3.1.3. Mô hình tổ chức của khách sạn
11
Mô hình tổ chức tiêu biểu và phổ biến trong kinh doanh khách
sạn là mô hình tổ chức trực tuyến chức năng mà:
- Ưu điểm: hiệu quả cao, phát huy được lợi điểm của chuyên
môn hoá, đơn giản hoá việc đào tạo chuyên viên quản lý, chú trọng
đến tiêu chuẩn hoá chức danh nghề nghiệp và nhân cách của người
đảm nhận chức danh.
- Hạn chế: tạo ra sự mâu thuẫn giữa các bộ phận, bộ phận
nàocũng cho mình là quan trọng nhất, thiếu sự phối hợp thống nhất
Mc tiờu ca hot ng marketing i vi cỏc doanh nghip
núi chung v cỏc khỏch sn núi riờng l vic thit lp v duy trỡ mi
quan h gia khỏch hng v doanh nghip l vic duy trỡ s cõn i
gia thun li ca doanh nghip v s tho món ca khỏch hng.
S : Mc tiờu ca hot ng marketing ca doanh nghip
kinh doanh lu tr v kinh doanh n ung.
13
Mục tiêu marketing
Có được khách
hàng
Giữ được
khách hàng
Thu hút khách
bằng thương
hiệu tốt
Bán sản phẩm
dịch vụ
Sản phẩm dịch
vụ hiệu quả
Sự thoả mãn
khách hàng
- Thiết kế sản
phẩm.
- Xúc tiến sản
phẩm quan hệ
với đối tác.
- Xác định mức
giá phù hợp.
- Thiết lập các
Bộ phận marketing
Giám đốc marketing
Thủ kho văn
phòng và dự liệu
Trợ lý
Giám đốc
Bộ phận
đặt phòng
Bộ phận quản
lý thị trường
liên kết
Bộ phận thư
ơng mại dịch
vụ
Bộ phận
quảng cáo hệ
công chúng
Bộ phận quản lý
thị trường khác từ
các Công ty lữ
hành du lịch
S : c cu t chc b mỏy ca b phn marketing cho
khỏch sn vi qui mụ trờn 300 bung.
1.2.2.2. Chc nng hot ng ca b phn marketing.
Xột v quan h chc nng thỡ hot ng marketing va chi
phi, va b chi phi bi cỏc chc nng ca cỏc hot ng khỏc
din ra trong doanh nghip. Nhng nhỡn chung chc nng hot
ng ca b phn marketing ca khỏch sn luụn luụn ch rừ nhng
ni dung c bn sau:
- Khỏch hng ca doanh nghip l ai? T õu ti l nam hay
nào? nếu không thay đổi thì sao? Nếu thay đổi sẽ gặp điều gì?
- Doanh nghiệp nên quy định mức giá của sản phẩm dịch vụ
là bao nhiêu? Tại sao lại là mức này mà không phải mức giá kia.
Mức giá trước có còn thích hợp không? Có ứng phó được với các
doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp hay không? Nên tăng hay giảm
giá? Tăng hay giảm khi nào, đối với đối tượng khách nào, bao
nhiêu?
- Doanh nghiệp nên tự tiêu thụ sản phẩm hay dựa vào lực
lượng khác? Nếu dựa thì cụ thể là ai? Dựa vào bao nhiêu đối tác
trong hay ngoài nước? Doanh nghiệp tự tiêu thụ bao nhiêu phần
trăm sản phẩm, còn bao nhiêu dựa vào các lực lượng khác?
- Làm thế nào để khách hàng biết sử dụng và yêu thích sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp? Tại sao lại dùng cách thức này
mà không phải là cách thức khác để khuyếch trương quảng cáo?
Các sản phẩm dịch vụ cùng loại các đối thủ cạnh tranh khác giới
thiệu với công chúng bằng cách nào? Tại sao họ lại làm như vậy?
1.2.3. Nội dung hoạt động của bộ phận marketing
1.2.3.1. Nghiên cứu thị trường và xác định thị trường mục tiêu
1.2.3.1.1. Trong kinh doanh lưu trú
Đối với các hoạt động kinh doanh lưu trú trong khi số lượng
khách hàng thực tế (thực sự tiêu dùng sản phẩm) của doanh nghiệp
là con số không lớn, thì số lượng khách hàng tiềm ẩn lại có thể là
rất lớn và phân tán trên phạm vi rộng. Cầu trong kinh doanh lưu trú
16
thực chất là một phần của cầu du lịch vì dưới góc độ ngành thì sản
phẩm lưu trú là một bộ phận cấu thành quan trọng tạo nên sản
phẩm du lịch, qui mô của cầu trong kinh doanh lưu trú nếu xét trên
cùng một không gian lãnh thổ thông thường cũng tương đương với
qui mô của cầu du lịch trong chuyến hành trình du lịch là nhu cầu
lưu trú tại điểm du lịch. Đặc điểm nổi trội của cầu đối với du lịch lưu
thuộc vào kinh nghiệm sống và trình độ dân trí của mỗi cá thể phụ
thuộc vào những sở thích cá nhân, hành vi, phong cách sống của
mỗi con người, những nhân tố đó thay đổi theo thời gian do vậy
mục đích này của khách là luôn thay đổi.
- Nhằm xác định sự tương quan giữa giá trị mong đợi và giá trị
cảm nhận của mình về sản phẩm lưu trú. Nói cách khách là khách
hàng thường so sánh giữa sự mong đợi và thực tế được phục vụ,
nhưng sự so sánh đó của du khách cũng thường thay đổi theo thời
gian như vậy, những mục đích của khách du lịch muốn đạt được từ
việc sử dụng sản phẩm lưu trú mang tính chất tương đối và dễ thay
đổi. Việc nghiên cứu và thích ứng với những mong muốn của du
khách cần phải được coi là trọng tâm của hoạt động marketing trong
kinh doanh lưu trú.
1.2.3.1.2. Nghiên cứu thị trường và xác định thị trường mục tiêu
trong kinh doanh ăn uống.
Nếu như trong kinh doanh lưu trú khách hàng phần lớn là
những người từ các địa phương khác, các quốc gia khác đến thì
trong lĩnh vực ăn uống khách hàng lại bao gồm cả những người dân
địa phương. Do tính đa dạng về đặc điểm của khách hàng nên khó
có thể xác định được một thể loại khách hàng đặc trưng cho doanh
nghiệp kinh doanh ăn uống mà chỉ có thể xác định được một số loại
khách hàng với những nét đặc trưng chung nhất định. Đó là tổ hợp
của những đặc điểm tâm sinh lý và hành vi, phản ánh thói quen
trong cuộc sống, thói quen trong tiêu dùng. Theo nghiên cứu của
trung tâm nghiên cứu chuyên nghiệp về ăn uống và công nghiệp
chế biến lương thực thực phẩm tại Pháp (CCA) họ đã xác định
18
được 9 loại khách hàng khác nhau mà hành vi của họ gây ảnh
hưởng đến sản phẩm ăn uống.
1. Những người khách hàng không bị dao động - thông
nhng thc n ni ting trong quỏ kh cng nh i vi nhng
thc n mi. Cú nhng ngi ny i n nh hng nhiu hn so
vi nhng loi khỏch cũn li.
9. Nhng ngi quan tõm n mụi trng- h quan tõm nhiu
nht n thc phm sch n gin nhng b dng, quan tõm
nhiu nht n hng v tinh khit ca sn phm.
Phõn on th trng trong kinh doanh n ung cú th c
th hin theo s sau:
S phõn on th trng khỏch ca doanh nghip kinh
doanh n ung.
20
Những người
dễ ăn
Những người
phàm ăn
Những người
không bị dao
động
Những người
thích mới lạ
Những người
đơn giản
Những người
tính toán
Những người
quan tâm đến
môi trường
Những người
sành ăn
Những người
vận dụng marketing mà nguyên nhân là:
- Trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú có nhiều ý kiến cho rằng:
kế hoạch marketing cho nên xây dựng đối với những chuỗi khách
sạn lớn còn việc vận dụng trong doanh nghiệp nhỏ là lãng phí,
không cần thiết.
21
- Những cơ sở kinh doanh lưu trú độc lập thường có khả năng
tài chính hạn chế, cần phải có sự liên kết. Nhưng như vậy có thể
phát sinh mâu thuẫn trong quan điểm lợi ích và khó có thể đánh giá
được kết quả của hoạt động marketing nếu nhưcác doanh nghiệp
có sản phẩm tương tự.
Nhìn chung, lý thuyết marketing được vận dụng trong lĩnh vực
kinh doanh lưu trú cũng đều được dựa trên những nguyên tắc
chung. Tuy vậy vẫn có một số tác giả đưa ra những thay đổi khác
nhau, bổ sung thêm 3 thành phần cho marketing mix trong kinh
doanh lưu trú.
- Quan hệ nhân viên và khách hàng bởi đặc điểm đa dạng của
khách hàng và đặc điểm đặc trưng của sản phẩm lưu trú là có mối
quan hệ đặc biệt giữa nhân viên phục vụ và khách hàng.
- Môi trường vật chất bao gồm những yếu tố vật chất trong
sản phẩm lưu trú.
- Quy trình: bao gồm tấtcả các lĩnh vực quản lý, bảo trì, bảo
dưỡng, phục vụ với mục đích liên kết toàn bộ hoạt động của doanh
nghiệp với các thành phần khác của hoạt động marketing.
Mặc dù có thể tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhưng luôn tồn
tại một yêu cầu chung đối với hoạt động marketing trong kinh doanh lưu
trú là: tính thống nhất, sự liên kết giữa các thành phần, tránh sự giải
thích và vận dụng không nhất quán. Các thành phần của marketing
đều phải trợ giúp cho hoạt động nói chung của doanh nghiệp.
Hoạt động marketing trong kinh doanh lưu trú cần được bắt
với đối tác về buồng, thời gian sử dụng, cũng như ngày báo huỷ
nếu như Công ty lữ hành không bán được sản phẩm.
- Sản phẩm lưu trú có thể bán theo nhiều loại đại lý lữ hành
khác nhau: nhà bán buôn, nhà bán lẻ. những đối tác này có thể có
mối quan hệ trực tiếp với các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú
23
thông qua việc ký hợp đồng trực tiếp (đối với nhà bán buôn) hoặc
chỉ là để bán lại sản phẩm (đối với nhà bán lẻ) theo nguyên tắc
hưởng hoa hồng.
- Một kênh phân phối sản phẩm lưu trú gián tiếp khác là thông
qua các hãng hàng không hay những doanh nghiệp kinh doanh vận
chuyển về nguyên tắc, những đối tác này không đưa sản phẩm lưu
trú vào như một sản phẩm độc lập mà bán một phần nhất định của
sản phẩm lưu trú cho những khách hàng có sử dụng dịch vụ của họ.
- Sản phẩm lưu trú cũng có thể được phân phối thông qua các
câu lạc bộ, các hiệp hội với mục đích tham quan, du lịch (câu lạc bộ
thanh niên, câu lạc bộ thể thao) hoặc với mục đích khác (tôn giáo,
từ thiện, sức khoẻ).
- Sản phẩm lưu trú cũng có thể được phân phối thông qua một
đối tác trung gian đặc thù chỉ được sử dụng để tiêu thụ sản phẩm
lưu trú được gọi là “nhà ngoại giao của cơ sở lưu trú”. Từ đó cho
thấy một doanh nghiệp kinh doanh lưu trú khó có thể lựa chọn một
hay nhiều kênh phân phối gián tiếp. Doanh nghiệp phải nắm được
một cách tốt nhất mạng lưới phân phối, thể loại và tình trạng của
từng nhà trung gian phân phối, khả năng tài chính của đối tác vì thế
trên thị trường của đối tác để có thể phân phối sản phẩm của mình
đạt hiệu quả nhất. Nếu sử dụng nhiều nhà trung gian khác nhau có
thể dẫn đến sự trùng lặp hoặc sự quá tải của khả năng đáp ứng,
nếu điều đó trở thành hiện tượng thường xuyên thì thiệt hại còn lớn
hơn, nếu không cho thuê được một số buồng. Nếu như có quá
nghiệp sẽ cố gắng đưa ra một sản phẩm khác biệt đối với sản phẩm
của các đối thủ cạnh tranh (bằng cách taqọ ra một cái gì đó mới,
độc đáo). Trong kinh doanh ăn uống các sản phẩm được tạo ra
ngoài mục đích để phục vụ khách du lịch còn được phục vụ cả dân
cư địa phương. Đây chính là điểm thuận lợi của các doanh nghiệp
25