1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà
nước (DNNN) là hoạt động quản lý vừa mang tính chức năng của Nhà nước
đối với nền kinh tế nói chung, vừa mang tính quản lý của người chủ sở hữu để
đảm bảo vốn đầu tư của Nhà nước được khai thác và sử dụng hiệu quả, góp
phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước.
Vốn Nhà nước được đầu tư vào các DNNN có những đặc tính tương tự
như việc đầu tư của các chủ thể khác, song cũng có nhiều điểm khác biệt. Với
quy mô vốn đầu tư rất lớn vào các DNNN, yêu cầu đảm bảo hiệu quả tài chính
mang tính bắt buộc, đồng thời còn phải đảm bảo phát triển toàn diện về kinh tế
- xã hội. Công tác quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước rất phức tạp,
liên quan đến nhiều vấn đề chiến lược phát triển kinh tế - chính trị và xã hội
của quốc gia. Do đó, nghiên cứu chuyên sâu về quản lý của Nhà nước đối với
vốn Nhà nước là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện cơ sở lý luận và
những đòi hỏi thực tế ở Việt Nam, đặc biệt trong những điều kiện về minh
bạch hóa, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời là một khung pháp lý thống nhất quan
trọng áp dụng điều chỉnh đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế. Theo đó, các doanh nghiệp đều được bình đẳng, tự do cạnh tranh, hợp tác
và phát triển. Nội dung chủ yếu của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về
việc thành lập, đăng ký kinh doanh; mô hình tổ chức bộ máy hoạt động của doanh
nghiệp và tổ chức lại doanh nghiệp. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến quyền của
chủ sở hữu vốn Nhà nước, việc sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào kinh doanh,
quan hệ giữa chủ sở hữu Nhà nước với đại diện chủ sở hữu, người đại diện phần
vốn góp tại doanh nghiệp khác chưa được đề cập. Do đó, cần phải những quy định
bổ sung về việc quản lý, sử dụng vốn Nhà nước khi đầu tư vào doanh nghiệp.
Ngày 26/11/2014, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật quản lý, sử
dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số
nghiệm thực tế, hướng dẫn này cung cấp các đề xuất cụ thể nhằm giải quyết
các tình thế khó khăn của các quốc gia.
- Nhóm 2: Nghiên cứu về hiệu quả quản lý và sử dụng vốn tại các DNNN.
Lý thuyết và thực tiễn cho thấy, một trong các mục tiêu quan trọng nhất
của quản lý vốn Nhà nước tại các DNNN là phải đảm bảo sử dụng vốn có hiệu
quả, trong đó chỉ tiêu đo lường quan trọng nhất là tỷ suất lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu (ROE). Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu đã phân
tích và kiểm nghiệm mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong doanh
nghiệp đến hiệu quả sử dụng vốn. Có thể khái quát thành hai nhóm: (1) Quan
sát mối quan hệ giữa các đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp với hiệu quả sử
dụng vốn; (2) Tập trung nghiên cứu tác động của cấu trúc ban quản trị với kết
quả hoạt động của DNNN.
2.2. Tổng quan nghiên cứu trong nước:
Một số nghiên cứu tiêu biểu trong nước có liên quan đến quản lý của
Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN có thể kể đến như:
3
Đề tài:“Cải cách phương thức quản lý, giám sát phần vốn Nhà nước tại
doanh nghiệp” năm 2009 của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
(CIEM). Công trình tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản của phương thức
quản lý và giám sát vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, trong đó khuyến
nghị cần sớm đổi mới tăng quyền chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh, tự
chủ về tài chính, giảm sự can thiệp của Nhà nước trong quá trình hoạt động
kinh doanh, tăng cường giám sát thông qua kiểm toán độc lập, tiêu chuẩn của
người đại diện chủ sở hữu, tách biệt chức năng quản lý kinh tế và chức năng
quản lý Nhà nước trong doanh nghiệp và hướng đến giảm dần số lượng
DNNN ở một số lĩnh vực ngành nghề không cần thiết nắm giữ. Bên cạnh đó,
nghiên cứu đã chỉ ra ưu nhược điểm của một số mô hình quản lý vốn Nhà nước
tại DNNN ở một số nước như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Newzeland,
Australia,… Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa làm rõ được cơ sở lý thuyết
do cơ chế, chính sách pháp luật về quản lý vốn còn chưa đầy đủ, không rõ
ràng, chưa theo kịp xu thế phát triển của nền kinh tế và chưa “đặt” nền kinh tế
nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế,…
Luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài: “Cơ chế quản lý phần vốn Nhà nước
tại doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam” năm 2005, tác giả Trần Thị Mai Hương
đã đưa ra một số luận giải về cơ chế hoạt động và vận hành của DNNN từ đó
chỉ ra những đặc điểm, cơ chế trong quản lý sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước
tại các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, phần lý thuyết của luận án chưa mang
tính hệ thống, chưa làm nổi bật được cơ chế quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp. Phần thực trạng mới chỉ đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan đến cơ chế quản lý vốn, chưa có sự gắn kết giữa lý thuyết với thực
tế; phương pháp điều tra và sử dụng các bảng hỏi mới chỉ thống kê tập hợp ý
kiến trả lời, chưa xây dựng được mô hình định lượng đo lường mối quan hệ
giữa cơ chế quản lý cho vốn nói chung với hiệu quả của vốn Nhà nước đầu tư
tại DNNN. Phần giải pháp còn chung chung, chưa được rõ ràng và cụ thể.
TS. Đỗ Thị Thục và TS. Nguyễn Thị Thu Hương, đồng tác giả của sách
tham khảo: “Quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp Việt Nam”
năm 2011. Các tác giả đã tiếp cận và luận giải khá thành công các vấn đề mang
tính thời sự về quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại các DNNN, chỉ ra nhiều vấn đề
phức tạp như chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về quyền lợi, trách nhiệm của
người đại diện hoặc kiêm nhiệm đại diện vốn; đầu tư của DNNN còn dàn trải,
chồng chéo; cơ chế thoái vốn, cơ chế cung cấp thông tin và giám sát hoạt động
đối với người đại diện vốn; chưa tách bạch được chức năng quản lý Nhà nước
và chức năng chủ sở hữu, … Cuốn sách đề cập đến một số mô hình quản lý
vốn Nhà nước tại DNNN của một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam. Đồng thời các tác giả cũng đề xuất một số giải pháp và
điều kiện áp dụng giải pháp để quản lý vốn Nhà nước tốt hơn. Tuy nhiên, các
tác giả chưa xây dựng được mô hình quản lý vốn của Nhà nước đầu tư vào
DNNN tại Việt Nam một cách cụ thể để giải quyết các hạn chế nêu trên.
Tóm lại, kết quả, những thành công và hạn chế cơ bản của các nghiên
đầu tư vốn và các yếu tố thuộc về quản trị và đặc điểm tài chính của doanh
nghiệp.
+ Chưa có nghiên cứu cụ thể đối với việc quản lý vốn Nhà nước tại
các Tổng công ty xây dựng Nhà nước. Trong khi việc quản lý vốn Nhà nước
tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước hiện nay phát sinh nhiều bất cập: vốn
Nhà nước bị thất thoát với quy mô lớn và hiệu quả sử dụng thấp, thậm chí
không hiệu quả và có thể mất vốn, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu và đại
diện sở hữu của một số Tổng công ty Nhà nước hiện nay chưa xác định rõ.
Nhiều câu hỏi quản lý được đặt ra nhưng vẫn chưa được lý giải một cách đầy
6
đủ và có luận cứ như: Cơ chế quản lý vốn Nhà nước tại các Tổng công ty xây
dựng trong mối quan hệ giữa Nhà nước, công ty mẹ và các công ty thành viên;
Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước trong mối quan hệ với quản lý
các nguồn vốn khác tại các Tổng công ty xây dựng, … Đây chính là những
khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu và bổ sung.
Nói một cách khác, nghiên cứu lý thuyết và kiểm định thực nghiệm về
quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước đầu tư tại các DNNN, đặc biệt là
các Tổng công ty xây dựng Việt Nam còn chưa nhiều và còn những khoảng
trống cần hoàn thiện. Luận án xác định mục tiêu nghiên cứu để khỏa lấp, hoàn
thiện và bổ sung những khoảng trống nghiên cứu này.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quản l ý của Nhà nước đối với vốn Nhà
nước tại các DNNN, từ đó xác định và hoàn thiện khung lý thuyết cho việc
nghiên cứu vấn đề quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN,
ứng dụng vào điển hình nghiên cứu là các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
của Việt Nam;
- Làm rõ thực trạng công tác quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà
nước tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước trên cơ sở phân tích định tính và
tái cơ cấu vốn); (2) Tổ chức thực hiện quản lý vốn; (3) Giám sát, kiểm tra,
thanh tra việc thực hiện quản lý vốn. Chủ thể quản lý trong luận án được xác
định là Nhà nước với vai trò người chủ sở hữu các DNNN và các Tổng công ty
xây dựng Nhà nước.
- Về không gian: Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại 29/35
Tổng công ty xây dựng Nhà nước tại Việt Nam.
- Về thời gian: số liệu thứ cấp chủ yếu từ năm 2009 -2012. Giải pháp đề
xuất cho đến năm 2020.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Nguồn số liệu, tài liệu thứ cấp: là các tài liệu được công bố chính thức,
bao gồm: các văn bản, quy phạm pháp luật, các công trình nghiên cứu về quản
lý Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước như luận án
tiến sĩ, giáo trình, bài báo, tạp chí chuyên ngành, đề tài nghiên cứu khoa học,
sách kham thảo, thông tin được công bố chính thức trên các phương tiện thông
tin đại chúng.
- Nguồn số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua điều tra xã hội học và
phỏng vấn sâu. Đối tượng điều tra, khảo sát: các Tổng công ty xây dựng Nhà
nước, các chuyên gia kinh tế, cán bộ quản lý Nhà nước, người đại diện sở hữu
vốn Nhà nước, người đại diện quản lý vốn Nhà nước tại các DNNN (người
điều hành DNNN, Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị); Ban kiểm
soát/kiểm soát viên tại các công ty mẹ và các đơn vị thành viên thuộc các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước Việt Nam.
8
Tổng số phiếu phát ra: 150 phiếu, số phiếu thu về là 122 phiếu, trong đó
có 4 phiếu không hợp lệ, 118 phiếu hợp lệ (Mẫu phiếu điều tra tại Phụ lục 1).
Ngoài phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi, tác giả luận án còn tiến
hành phỏng vấn trực tiếp 20 chuyên gia.
Thời gian tiến hành điều tra: từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2014
Nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VỐN NHÀ NƯỚC
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. Tổng quan về vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước
1.1.1. Doanh nghiệp Nhà nước
Quy định của đa số các nước trên thế giới cũng như sự thống nhất của
các nhà quản lý về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là những doanh nghiệp
thuộc sở hữu Nhà nước, được thành lập trên cơ sở vốn của Nhà nước, được
quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh hướng tới các mục tiêu phát triển
kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh của Nhà nước.
Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp được ban hành năm 2005, khái niệm
DNNN được hiểu như sau: DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên
50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều
lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và doanh nghiệp mà Nhà
nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn hai thành viên trở lên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên là công ty
trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức
quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là
các công ty Nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ
chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước có hai thành viên trở lên là
công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty Nhà
nước hoặc có thành viên là công ty Nhà nước và thành viên khác là tổ chức
tác động của Nhà nước thông qua các chính sách, quy định pháp luật về
vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp và việc tổ chức thực hiện cũng như
kiểm soát việc thực hiện các chính sách, quy định đó nhằm bảo đảm đầu tư
vốn Nhà nước đúng định hướng, bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng vốn có
hiệu quả, và góp phần cho các DNNN thực hiện được các mục tiêu kinh tế
xã hội.
1.2.2. Mục tiêu quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các
doanh nghiệp Nhà nước
Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN nhằm
các mục tiêu sau:
- DNNN thực hiện được chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao.
- Bảo đảm vốn Nhà nước được đầu tư đúng định hướng.
- Bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước.
- Sử dụng vốn Nhà nước có hiệu quả:
11
1.2.3. Nguyên tắc quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các
doanh nghiệp Nhà nước
Thứ nhất: Tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của các DNNN
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực quản
lý vốn và tài sản;
Thứ hai: Nâng cao trách nhiệm của các DNNN trong việc quản lý và
sử dụng các nguồn lực Nhà nước giao. Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng
sự quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn
như: cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ
Thứ ba: Tách bạch chức năng của các cơ quan quản lý Nhà nước và
chức năng của đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại các DNNN trong quản lý vốn
Nhà nước.
Thứ tư: Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN
phải bảo đảm hài hòa giữa các lợi ích: lợi ích của xã hội mà Nhà nước là đại
của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN là khả năng Nhà nước đưa
ra được các chính sách, quy định pháp luật hợp lý về quản lý vốn Nhà nước và
sự chấp hành của DNNN với tư cách là đối tượng quản lý.
Tính hiệu quả (Efficiency): phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực để thực hiện tốt nhất các mục tiêu đề ra với chi phí thấp nhất và được lượng
hóa bằng cách so sánh kết quả đầu ra với chi phí đầu vào. Hiệu quả quản lý của
Nhà nước đối với vốn Nhà nước khó đo lường trực tiếp và lượng hóa được,
nên có thể được đánh giá một cách gián tiếp thông qua hiệu quả sử dụng vốn
Nhà nước do doanh nghiệp thực hiện.
Tính bền vững (Stability): Đánh giá tính bền vững của quản lý của
Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN như sau: (i) Sự ổn định và bền
vững của các tác động tích cực của quản lý Nhà nước đối với vốn Nhà nước;
(ii) Đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các DNNN trong cấp phát vốn, huy động
vốn, vay vốn, phân phối lợi nhuận, nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ đóng góp xã
hội khác; (iii) Đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan;
- Phương pháp đánh giá quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước
tại các DNNN thông qua điều tra, phỏng vấn.
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà
nước tại doanh nghiệp Nhà nước
- Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý Nhà nước.
- Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp Nhà nước.
- Các yếu tố khách quan khác
13
Các đơn vị thành viên (Xí nghiệp, Công ty phụ thuộc, Công ty con, Công ty
liên kết, Công ty liên doanh và các đơn vị sự nghiệp, trung tâm ).
14
2.2. Khái quát chung về tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh của
các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
2.2.1. Nguồn vốn tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Căn cứ vào báo cáo tài chính hợp nhất
được kiểm toán của 29 Tổng công ty xây dựng Nhà nước, nguồn vốn chủ sở
hữu năm 2012 là: 44.495.646.749.076 đồng, tăng 5.273.678.478.406 đồng,
tương đương với 17,5% so với năm 2009. Tốc độ tăng trưởng bình quân vốn
chủ sở hữu giai đoạn 2009-2012 của các Tổng công ty xây dựng trên 15%, chủ
yếu từ nguồn lợi nhuận sau thuế; đánh giá lại tài sản, thặng dư vốn thu được
trong quá trình cổ phần hóa các công ty thành viên, đơn vị phụ thuộc của tổng
công ty.
- Vốn Nhà nước đầu tư tại các tổng công ty xây dựng Nhà nước:
0
2,000,000
4,000,000
6,000,000
8,000,000
10,000,000
12,000,000
14,000,000
CC1
Con
st
r
exim
VINACONEX
HANDICO
H
U
D
V
I
CEM
VI
N
AW
A
CO
CI
EMC
O
8
VIWASEEN
TEDI
CI
E
MCO
1
C
I
EMCO4
CI
E
MCO
5
LICOGI
DIC
VIGLACERA
H
ANC
ORP
IDIC
O
VNCC
FIC
O
COM
A
UD
IC
VINAC
O
NEX
HA
ND
ICO
H
UD
VICE
M
VINAWACO
C
IEMCO8
VIWASE
EN
sở hữu lên tới 38,5 lần. Có 9 tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu
từ 6 - 10 lần và 11 tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả từ 1 - 5 lần.
2.2.3. Sử dụng vốn tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
- Quy mô đầu tư: Quy mô đầu tư tài sản theo số liệu báo cáo hợp nhất
của 29 Tổng công ty xây dựng Nhà nước giai đoạn 2009-2012 lần lượt là:
245.265.984.434.591 đồng, 266.172.511.126.624 đồng, 276.287.363.246.240
đồng và năm 2012 là 278.017.493.363.768 đồng. Các số liệu này cho thấy tốc
độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân qua các năm ở mức 3,2%. Trong đó, giai
đoạn 2009-2012, tỷ trọng cơ cấu tài sản cố định chiếm bình quân là 37,4%.
Tuy nhiên, một số Tổng công ty xây dựng năm 2012 có tỷ trọng cơ cấu tài sản
cố định trên tổng tài sản rất cao như: Tổng công ty xây dựng số 1 là 60%, Tổng
công ty Sông Ðà là 64%, Tổng công ty Ðầu tư và Phát triển công nghiệp Việt
Nam là 77%, Tổng công ty Xi măng Việt Nam là 69%…
- Khoản phải thu của các Tổng công ty xây dựng Nhà nước: Nợ phải
thu của 29 Tổng công ty xây dựng năm 2012 là 53.851.345.153.255 đồng,
chiếm 19,36% tổng tài sản, tăng 5,3% so với năm 2011, ở mức
51.181.197.829.190 đồng, tỷ trọng nợ phải thu trên tổng tài sản bình quân năm
2012 của các Tổng công ty xây dựng là 26%.
2.2.4.
K ết quả sản xuất k inh doanh của các T ổng công ty xây dựng
Nhà nước
- Tình hình doanh thu: Doanh thu theo báo cáo tài chính hợp nhất của
29 Tổng công ty xây dựng Nhà nước từ năm 2009 đến năm 2012 lần lượt là:
113.222.488.401.828 đồng, 125.154.913.213.092 đồng, 128.311.084.787.271
đồng và 127.219.340.050.558 đồng. Năm 2012, doanh thu tăng 12% so với năm
2009, tương đương là 13.996.851.648.730 đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân
doanh thu của các Tổng công ty xây dựng trong giai đoạn 2009-2012 là tương
đối thấp, đạt trung bình 6%/năm và có xu hướng giảm dần trong các năm tiếp
theo, điều này có thể lý giải trong những năm gần đầy do khủng hoảng kinh tế
thuộc Bộ Tài chính.
+ Ngày 27/08/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/1999/NĐ-
CP về việc tổ chức lại Tổng cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại DN và
chuyển giao một số nhiệm vụ quản lý, sử dụng vốn và tài sản Nhà nước tại DN
từ Bộ Tài chính về Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh/thành phố. Bộ Tài chính
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài chính DN trong cả nước và chức
năng chủ sở hữu về vốn tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước do Thủ
tướng thành lập.
+ Ngày 06/12/2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2000/NĐ-
CP về việc quản lý phần vốn Nhà nước đầu tư tại DN khác. Nghị định này quy
định việc quản lý phần vốn góp của Nhà nước đầu tư tại DN khác thông qua
người đại diện vốn, người đại diện quản lý DN, theo 3 cấp: Bộ Tài chính, Bộ
quản lý ngành, UBND tỉnh/thành phố.
17
+ Luật Doanh nghiệp năm 2005: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa DNNN và
các DN thuộc các thành phần kinh tế khác, Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra
đời đánh dấu sự thay đổi lớn trong pháp luật về DN ở Việt Nam, hình thành
khung pháp lý chung, bình đẳng, áp dụng thống nhất cho các loại hình DN.
+ Để các DNNN hoạt động thống nhất theo Luật Doanh nghiệp với
các loại hình doanh nghiệp khác, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
25/2010/NĐ-CP ngày 19/03/2010 về việc chuyển DNNN thành công ty
TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do
Nhà nước làm chủ sở hữu.
+ Ngày 26/11/2014, Quốc hội thông qua Luật quản lý, sử dụng vốn
Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày
01/07/2015.
- Chính sách sử dụng vốn Nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng
Nhà nước:
tướng chính phủ, các Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh/thành phố, Cơ quan
ngang Bộ.
2.3.3. Việc kiểm tra, giám sát vốn Nhà nước đầu tư tại các Tổng công ty
xây dựng Nhà nước
- Đối tượng giám sát:
+ Doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu: Công ty TNHH một
thành viên - công ty mẹ của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế, công ty hoạt
động theo mô hình công ty mẹ - công ty con do Thủ tướng Chính phủ, Bộ quản
lý ngành, UBND tỉnh/thành phố quyết định thành lập. Công ty TNHH một
thành viên do Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh/thành phố quyết định thành lập.
+ Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
+ Công ty cổ phần, công ty TNHH từ hai thành viên trở lên do các Bộ
quản lý ngành, UBND tỉnh/thành phố là chủ sở hữu vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
- Chủ thể giám sát đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước:
Nhà nước (gồm: Chính phủ, Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh/thành phố),
HĐTV, tổng giám đốc/giám đốc. Đối với các Bộ quản lý ngành, UBND
tỉnh/thành phố: tổ chức giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của tổng công
ty với các nội dung giám sát của chủ sở hữu bao gồm việc tổ chức hoạt động
kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ của bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp;
việc thực hiện mục tiêu, chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và
dài hạn; việc chấp hành các Nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu, hội đồng
thành viên, điều lệ của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả các nghị quyết, quyết
định của chủ sở hữu liên quan đến quyền của chủ sở hữu đối với hoạt động của
chủ sở hữu liên quan đến quyền của chủ sở hữu đối với hoạt động của doanh
nghiệp; kết quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng thanh
toán nợ đối với tổng công ty.
- Nội dung giám sát đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước:
+ Hoạt động đầu tư tài sản tại doanh nghiệp (bao gồm danh mục dự
án đầu tư, nguồn vốn huy động gắn với dự án đầu tư).
+ Việc huy động vốn và sử dụng vốn huy động, phát hành trái phiếu,
- Áp dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) xử lý dữ
liệu điều tra chuyên gia, tác giả Luận án khám phá ra 3 nhóm hạn chế trong
thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại các Tổng công ty xây dựng Nhà
nước: Nhóm 1 “Do luật pháp hiện hành về tách bạch chức năng quản lý Nhà
nước với chức năng chủ sở hữu Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ và thiếu nhất
quán” với 6 nguyên nhân chi tiết; Nhóm 2 “Do chưa hình thành được một mô
hình, cơ chế và chính sách sở hữu rõ ràng đảm bảo cho quản trị các DNNN”
với 3 nguyên nhân chi tiết; Nhóm 3 “Năng lực và các điều kiện cho thực hiện
giám sát của chủ sở hữu Nhà nước còn thiếu và yếu” với 6 nguyên nhân chi
20
tiết. Trong đó, Nhóm 3 là hạn chế lớn nhất dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của
các Tổng công ty xây dựng Nhà nước.
- Tác giả Luận án đã đề xuất phương án “Thành lập 1 cơ quan
chuyên trách (Ủy ban quản lý, giám sát DNNN) trực thuộc Chính phủ” để
triển khai Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp
được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2015).
- Luận án đã khám phá những khác biệt trong ý kiến chuyên gia về
mô hình và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước theo 3 đối tượng: các cán bộ quản lý Nhà nước;
lãnh đạo các Tổng công ty xây dựng Nhà nước và các cán bộ thực tiễn.
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, tác giả Luận án đã
làm rõ việc các Tổng công ty xây dựng Nhà nước có quá nhiều đơn vị thành
viên và hệ số đòn bẩy lớn sẽ làm cho kết quả hoạt động kém hiệu quả. Từ đó,
khuyến nghị các Tổng công ty xây dựng Nhà nước tiến hành sáp nhập các đơn
vị thành viên và gia tăng vốn chủ sở hữu.
- Luận án khuyến nghị cần chuyển phương thức giám sát các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước hiện nay từ các Bộ, UBND các tỉnh/thành phố
sang phương thức giám sát thông qua các tổ chức tài chính để phù hợp với
kinh tế thị trường và nguyên tắc quản trị hiện đại, đồng thời tăng cường giám
hóa công nghệ, tăng lợi nhuận và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán
bộ công nhân viên.
Quan điểm thứ ba là, Quản lý vốn Nhà nước tại các Tổng công ty xây
dựng Nhà nước phải mang tính khoa học và thực tế trên cơ sở nghiên cứu, học
hỏi và tiếp thu những ưu thế của các phương thức quản lý tiên tiến trên thế giới
đồng thời áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với điều kiện thực
tế của Việt Nam.
Quan điểm thứ tư là, Hoàn thiện và đổi mới quản lý vốn Nhà nước tại
các Tổng công ty xây dựng Nhà nước cần phải được tiến hành một cách đồng
thời và phối hợp chặt chẽ với đổi mới về quản lý kinh tế và kinh doanh trong
quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng những yêu cầu cơ bản của hội nhập
quốc tế cũng như các mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế
Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn đến năm 2020.
Quan điểm thứ năm là, Đổi mới và hoàn thiện quản lý vốn Nhà nước
tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước cần được nhận thức một cách đúng
đắn và đầy đủ, từ cơ quan quản lý Nhà nước các cấp đến cán bộ công nhân
viên của các Tổng công ty xây dựng Nhà nước.
3.2.2. Mục tiêu hoàn thiện quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước
tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
Thứ nhất là, Hoàn thiện quản lý vốn thúc đẩy tái cơ cấu để có cơ cấu
hợp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tổng công ty xây dựng Nhà nước,
đảm bảo rằng các tổng công ty này là lực lượng nòng cốt để kinh tế Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng, là cơ sở để Nhà nước định
22
hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định và phát triển bền vững nền
kinh tế Việt Nam.
Thứ hai là, Xây dựng các Tổng công ty xây dựng Nhà nước phải có
quy mô lớn, hoạt động có hiệu quả, có sức cạnh tranh, đa sở hữu, có cơ sở vật
chất và công nghệ hiện đại, đủ năng lực để thực hiện các công trình, dự án
của chủ sở hữu Nhà nước tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước,
23
hướng tới công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quản lư
và sử dụng vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp;
Thứ tám là, thành lập tổ chức thay mặt chủ sở hữu để thanh tra,
kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước tại các tập đoàn
kinh tế và tổng công ty Nhà nước.
3.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước
tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước giai đoạn 2015-2020
3.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện chức năng đại diện của chủ sở hữu
Nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước.
- Tách bạch chức năng quản lý Nhà nước và chức năng đại diện chủ
sở hữu góp phần tăng cường hiệu quả quản lý vốn Nhà nước.
- Tăng cường quyền và trách nhiệm của Quốc hội, Hội đồng nhân dân
trong việc thực hiện chức năng giám sát các cơ quan Nhà nước thực hiện chức
năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước.
3.3.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế giám sát của chủ sở hữu Nhà
nước đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
- Nâng cao tính hiệu lực của cơ chế giám sát của chủ sở hữu Nhà
nước đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
- Nâng cao hiệu quả giám sát của chủ sở hữu Nhà nước đối với các
Tổng công ty xây dựng Nhà nước.
- Hoàn thiện phương thức của cơ chế giám sát của chủ sở hữu Nhà
nước đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước.
3.3.3. Nhóm giải pháp tách chức năng chủ sở hữu Nhà nước với chức
năng quản lý Nhà nước và mô hình tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu
vốn Nhà nước đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
- Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý:
Phương án 1: Thành lập các đầu mối khác nhau thực hiện thống nhất
đến quyền sử dụng đất đai, giải phóng mặt bằng, bàn giao nhà, cho thuê và
chuyển nhượng đất đai, nhà cửa, v.v Việc chậm tiến độ thi công gây lãng phí
hoặc thất thoát tài sản Nhà nước trong quá trình đầu tư, thực hiện dự án xây
dựng đã tạo ra nhiều hậu quả tiêu cực, phát sinh chi phí rất lớn và có thể gây
lãng phí vốn đầu tư Nhà nước với quy mô rất lớn.
3.3.6. Tăng cường quản trị doanh nghiệp tại các Tổng công ty xây dựng
Nhà nước
Giải pháp đưa ra là các Tổng công ty xây dựng Nhà nước cần phải
tăng cường khả năng quản trị doanh nghiệp, trong đó xác định mục tiêu quản
trị rõ ràng, công khai, minh bạch hóa các hoạt động kinh doanh và tài chính
nhằm đáp ứng đầy đủ và hợp lý những yêu cầu của Nhà nước, người dân cũng
như lợi ích của các bên liên quan và của nền kinh tế đối với doanh nghiệp.
3.4. Các giải pháp khác
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền sở hữu
- Chế tài đối với Doanh nghiệp Nhà nước kém hiệu quả
- Minh bạch hóa hoạt động tài chính và tài trợ