i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận án xin cam đoan đây là công trình khoa học độc lập của cá
nhân. Những số liệu và nội dung được đưa trình bày trong luận án là trung thực. Nội
dung của luận án chưa từng được công bố ở trong nước và ngoài nước
.
Người cam đoan Mai Công Quyền
3.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án 15
4.
Câu hỏi nghiên cứu 16
5.
Phạm vi nghiên cứu 16
6.
Phương pháp nghiên cứu 17
6.1.
Khung nghiên cứu 17
6.2.
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 17
6.3.
Phương pháp nghiên cứu 18
7.
1.2.
Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN 29
1.2.1.
Khái niệm quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN 29
1.2.2.
Mục tiêu quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN 30iii
1.2.3.
Nguyên tắc quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN 32
1.2.4.
Nội dung quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các DNNN 33
1.2.4.1.
Chính sách, quy định pháp luật về vốn Nhà nước tại các DNNN 33
1.2.4.2.
Tổ chức bộ máy quản lý vốn Nhà nước tại các DNNN 44
Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý Nhà nước 61
1.2.6.2
Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp Nhà nước 63
1.2.6.3
Các yếu tố khách quan 64
1.3
Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý vốn Nhà nước tại các DNNN 65
1.3.1.
Kinh nghiệm của Trung Quốc 65
1.3.1.1.
Chính sách đầu tư vốn của Chính phủ vào các Doanh nghiệp Nhà nước 65
1.3.1.2.
Xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước đối với vốn Nhà nước và việc xác
định các chức năng quản lý cho bộ máy đó 67
1.3.2.
Kinh nghiệm của Singapore 69
2.1.
Tổng quan về các Tổng công ty xây dựng Nhà nước tại Việt Nam 78
2.1.1.
Sự hình thành các Tổng công ty xây dựng Nhà nước tại Việt Nam 78
2.1.2.
Lĩnh vực hoạt động của các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 80
2.1.3.
Mô hình tổ chức của các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 80
2.2.
Khái quát chung về tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh của các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước 80
2.2.1.
Nguồn vốn tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 80
2.2.1.1
Nguồn vốn chủ sở hữu 80
2.2.1.2
2.2.4.1.
Tình hình doanh thu: 84
2.2.4.2.
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của các Tổng công ty xây
dựng Nhà nước…… 86
2.2.4.3.
Thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước của các Tổng công ty
xây dựng Nhà nước 87
2.3.
Thực trạng cơ chế quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 88
2.3.1.
Thực trạng các chính sách, quy định pháp luật về vốn Nhà nước tại các Tổng công
ty xây dựng Nhà nước 88
2.3.1.1.
Chính sách cấp phát, đầu tư và huy động vốn 88
2.3.3.4.
Phương thức giám sát đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 108
2.4.
Kết quả điều tra chuyên gia về quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại
các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 109
2.4.1.
Phương pháp nghiên cứu 109
2.4.2.
Dữ liệu nghiên cứu 114
2.4.3.
Kết quả điều tra chuyên gia 114
2.4.3.1.
Thống kê mô tả 114
2.4.3.2.
Kết quả phân tích nhân tố (EFA) và kiểm định lại kết quả 120
2.4.3.3.
Một số hàm ý về chính sách qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm 136
2.6.
Đánh giá chung về quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước 137
2.6.1.
Thành công 137
2.6.2.
Hạn chế 138vi
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 139
CHƯƠNG 3 140
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VỐN
NHÀ NƯỚC TẠI CÁC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC ĐẾN
NĂM 2020 140
3.1.
Bối cảnh tác động đến quản lý vốn Nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng
Nhà nước đến năm 2020 140
3.3.1.1.
Tách bạch chức năng quản lý Nhà nước và chức năng đại diện chủ sở
hữu góp phần tăng cường hiệu quả quản lý vốn Nhà nước. 146
3.3.1.2.
Tăng cường quyền và trách nhiệm của Quốc hội, Hội đồng nhân dân
trong việc thực hiện chức năng giám sát các cơ quan Nhà nước thực hiện chức
năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước 147
3.3.2.
Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế giám sát của chủ sở hữu Nhà nước đối với
các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 147
3.3.2.1.
Nâng cao tính hiệu lực của cơ chế giám sát của chủ sở hữu Nhà nước
đối với các Tổng công ty xây dựng Nhà nước 147
3.3.2.2.
Nâng cao hiệu quả giám sát của chủ sở hữu Nhà nước đối với các Tổng
công ty xây dựng Nhà nước 148
3.3.2.3.
Hoàn thiện phương thức của cơ chế giám sát của chủ sở hữu Nhà nước
Hoàn thiện các công cụ quản lý Nhà nước đối với các Tổng công ty xây
dựng Nhà nước…. 157
3.3.4.3.
Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng
Nhà nước……… 160
3.3.4.4.
Chế độ trách nhiệm của quản lý Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các
Tổng công ty xây dựng Nhà nước 162
3.3.5.
Đổi mới quy trình đầu tư và xây dựng tại các Tổng công ty xây dựng Nhà
nước…………… 163
3.3.6.
Tăng cường quản trị doanh nghiệp tại các Tổng công ty xây dựng Nhà
nước………… 163
3.4.
Các giải pháp khác 164
3.4.1.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền sở hữu 164
DN : Doanh nghiệp
CC1 : Tổng công ty xây dựng số 1
CP : Chính phủ
COMA : Tổng công ty Cơ khí xây dựng
CONSTREXIM : Tổng công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại Việt Nam
CPH : Cổ phần hóa
CIEM : Viện quản lý Kinh tế Trung ương
CIEMCO 1 : Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1
CIEMCO 4 : Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4
CIEMCO 5 : Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5
CIEMCO 6 : Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6
CIEMCO 8 : Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8
CCMAU : Ủy ban Tư vấn giám sát DNNN của Newzeland
EFA : Phương pháp phân tích nhân tố khám phá
FICO : Tổng công ty Vật liệu xây dựng
HANCORP : Tổng công ty xây dựng Hà Nội
HANDICO : Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội
HĐTV : Hội đồng thành viên
HĐQT : Hội đồng quản trị
IDICO : Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam
KSV : Kiểm soát viên
ix
LICOGI : Tổng công ty Đầu tư và Phát triển hạ tầng
NN : Nhà nước
QĐ : Quyết định
QH : Quốc hội
ROA : Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE : Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
SCIC : Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
188
Bảng 2.5 Kết quả điều tra chuyên gia về hạn chế trong thực hiện chức năng đại
diện chủ sở hữu Nhà nước tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước
191
Bảng 2.6 Kết quả điều tra chuyên gia về nguyên nhân dẫn đến những hạn
chế trong thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại
các Tổng công ty xây dựng 194
Bảng 2.7 Kết quả điều tra chuyên gia về phương án tách chức năng chủ sở
hữu Nhà nước với chức năng quản lý Nhà nước
197
Bảng 2.8 Kết quả điều tra chuyên gia về hình thức tổ chức của cơ quan
chuyên trách thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước
trong thời gian tới 197
Bảng 2.9 Kết quả điều tra chuyên gia về cơ chế quản lý huy động vốn tại các
Tổng công ty xây dựng Nhà nước hiện nay
198
Bảng 2.10 Kết quả điều tra chuyên gia về cơ chế quản lý sử dụng vốn và tài
sản tại các Tổng công ty xây dựng hiện nay
199
Bảng 2.11 Kết quả điều tra chuyên gia đánh giá về số lượng thành viên. quan
210
Bảng 2.18 Phân tích nhân tố lần 1 nguyên nhân “Do luật pháp hiện hành chưa
đầy đủ, đồng bộ và thiếu nhất quán trong việc tách bạch chức năng
quản lý Nhà nước với chức năng chủ sở hữu Nhà nước” 211
Bảng 2.19 Kết quả kiểm định lại thang đo về nguyên nhân “Do chưa hình
thành được một mô hình, cơ chế và chính sách sở hữu rõ ràng đảm
bảo cho quản trị các DNNN” 212
Bảng 2.20 Phân tích nhân tố lần 2 nguyên nhân “Do chưa hình thành được
một mô hình, cơ chế và chính sách sở hữu rõ ràng đảm bảo cho
quản trị các DNNN”
213
Bảng 2.21 Kết quả kiểm định thang đo nhân tố hạn chế “Năng lực và các điều
kiện cho thực hiện giám sát của chủ sở hữu Nhà nước còn thiếu và
yếu” 213
Bảng 2.22 Phân
tích
nhân tố lần 1 nguyên nhân “Năng lực và các điều kiện
nhân
tố thành phần thang đo nhân tố về cơ chế quản lý
huy động vốn tại các Tổng công ty xây dựng Nhà nước hiện nay 221
Bảng 2.28 Kiểm
định
sự khác biệt theo các nhóm đối tượng chuyên gia về cơ
chế quản lý huy động vốn trong các Tổng công ty xây dựng Nhà
nước hiện nay 221
Bảng 2.29 Kiểm
định
thang đo nhân tố thuộc về cơ chế quản lý sử dụng vốn
và tài sản tại các Tổng công ty xây dựng hiện nay
222
Bảng 2.30 Ma trận nhân tố xoay các nhân tố thuộc về cơ chế quản lý sử dụng
vốn và tài sản tại các Tổng công ty xây dựng hiện nay
224
Bảng 2.31 Ma trận n
h
ân tố thành phần các nhân tố thuộc về cơ chế quản lý sử
dụng vốn và tài sản tại các Tổng công ty xây dựng hiện nay
225
231
Bảng 2.37 Kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình 233
Bảng 2.38 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
233
Bảng 2.39 Kết quả mô hình hồi quy theo dữ liệu mảng
233
SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa Temasek Holdings với Bộ Tài chính và Bộ quản
lý ngành 177
xiii
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức hoạt động của Tổng công ty xây dựng Nhà
nước
178
Sơ đồ 2.2: Phân cấp Chủ sở hữu/đại diện chủ sở đối với doanh nghiệp Nhà
nước tại Việt Nam hiện nay
190
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số lượng các doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp, cổ phần hóa
trong giai đoạn 1995-2011
180
Biểu đồ 2.2 Số lượng doanh nghiệp Nhà nước chưa cổ phần hóa theo lĩnh vực
ngành nghề tại ngày 30/06/2012
188
HÌNH
Hình 2.1 Cơ cấu mẫu điều tra, khảo sát theo chức vụ công tác 191 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN) là hoạt động quản lý vừa mang tính tổng quát của Nhà nước với tư cách cơ
quan công quyền phải quản lý các doanh nghiệp nói chung, vừa mang tính cụ thể
của người chủ sở hữu phải quản lý vốn của mình tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư
của Nhà nước để đảm bảo vốn Nhà nước đầu tư được bảo toàn, khai thác và sử
dụng hiệu quả, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Vốn Nhà nước được
đầu tư vào các DNNN có những đặc tính tương tự như việc đầu tư của các chủ thể
khác, song cũng có nhiều điểm khác biệt. Với quy mô vốn đầu tư rất lớn vào các
DNNN, yêu cầu đảm bảo hiệu quả tài chính mang tính bắt buộc, đồng thời còn phải
đảm bảo phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội. Công tác quản lý của Nhà nước đối
với vốn Nhà nước rất phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh, nhiều mặt trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chính trị của một quốc gia. Do đó, nghiên
cứu chuyên sâu về quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước là cần thiết nhằm
đáp ứng nhu cầu hoàn thiện hệ thống lý luận và đòi hỏi thực tế, đặc biệt dưới áp lực
cạnh tranh ngày càng gay gắt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Vốn đầu tư của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh được thực hiện thông
qua hình thức đầu tư vốn/góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc đầu tư bổ sung
doanh nghiệp, đặc biệt mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu với
người trực tiếp điều hành doanh nghiệp chưa được làm rõ. Người trực tiếp điều
hành DNNN với vai trò là đại diện chủ sở hữu không đủ quyền tự chủ điều hành
doanh nghiệp, lại không chịu trách nhiệm về kết quả điều hành của mình dẫn đến
tình trạng không có người chịu trách nhiệm và đủ quyền kiểm soát việc sử dụng vốn
Nhà nước, hậu quả là vốn bị thất thoát, lãng phí, hiệu quả sử dụng vốn thấp, thậm
chí dẫn đến tham ô, tham nhũng, lạm dụng tài sản, nguồn vốn của Nhà nước để tư
lợi cá nhân qua các trường hợp của Tập đoàn Vinashin và Vinaline; (2) Thiếu các
chính sách và quy định pháp luật phù hợp trong quản lý đầu tư, huy động và sử
dụng vốn Nhà nước tại các tổng công ty, tập đoàn kinh tế, dẫn đến tình trạng đầu tư
dàn trải, thiếu tập trung, quy mô nhỏ, hiệu quả kinh doanh thấp. Nhà nước đầu tư 3
vốn tại các doanh nghiệp nhưng lại không thực hiện được mục tiêu quản lý, trong
khi lãi thì doanh nghiệp hưởng, lỗ thì Nhà nước chịu. Một số DNNN hoạt động
dưới hình thức là tổng công ty Nhà nước hoặc tập đoàn kinh tế Nhà nước, tuy nhiên
về bản chất vẫn vận hành với chế độ sở hữu cũ, chưa thực sự thích ứng trong môi
trường cạnh tranh và toàn cầu hoá; (3) Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc
thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại các tổng công
ty chưa chặt chẽ và nghiêm túc, việc xử lý vi phạm cũng chưa đến nơi đến chốn,
gây bức xúc trong dư luận xã hội và ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp làm ăn
đúng đắn.
Ngày 26/11/2014, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật quản lý, sử dụng
vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số
69/2014/QH13) có hiệu lực từ ngày 01/07/2015. Để triển khai thực hiện Luật này có
hiệu quả đòi hỏi phải có các cơ chế, chính sách rất cụ thể, đặc biệt là các chính sách
có liên quan đến quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp.
Từ thực trạng nêu trên, vấn đề quản lý của Nhà nước đối với vốn Nhà nước
tại các DNNN đang trở thành vấn đề thời sự thu hút được sự quan tâm của cả nước,
thông qua một đơn vị sở hữu tập trung hoặc các đơn vị phối hợp có hiệu quả, hoạt
động độc lập và phù hợp với chính sách sở hữu công khai. Hướng dẫn cũng khuyến
nghị sự tách biệt nghiêm ngặt của các chức năng sở hữu và quản lý của Nhà nước.
Nếu làm được những điều trên, sở hữu Nhà nước sẽ được thực hiện một cách
chuyên nghiệp và có trách nhiệm, và Nhà nước đóng một vai trò tích cực trong việc
cải thiện quản trị doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Kết quả sẽ là
các doanh nghiệp lành mạnh, có tính cạnh tranh và minh bạch hơn. Các đề xuất cụ
thể của OECD trong việc quản trị các doanh nghiệp Nhà nước bao gồm:
Một là, đảm bảo khuôn khổ pháp lý và quy định hiệu quả cho các DNNN:
Khuôn khổ pháp lý và quy định đối với DNNN phải đảm bảo một sân chơi bình
đẳng trong thị trường mà DNNN và công ty tư nhân cạnh tranh công bằng để tránh
làm biến đổi thị trường.
Hai là, Nhà nước đóng vai trò như chủ sở hữu: Nhà nước cần đóng vai trò
như một chủ sở hữu luôn chủ động và nắm rõ đầy đủ thông tin, thiết lập một chính
sách về quyền sở hữu rõ ràng và nhất quán, đảm bảo rằng việc quản trị tại các
DNNN được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm, mang tính chuyên
nghiệp và đem lại hiệu quả. 5
Ba là, đối xử công bằng với các cổ đông: Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà
nước phải công nhận quyền của tất cả cổ đông, đảm bảo đối xử công bằng và bình
đẳng trong việc tiếp cận thông tin của công ty.
Bốn là, mối quan hệ với các bên liên quan: Các chính sách sở hữu của Nhà
nước nên công nhận đầy đủ trách nhiệm của DNNN đối với các bên liên quan và
yêu cầu họ báo cáo về các mối quan hệ của họ với các bên liên quan.
Năm là, tính minh bạch và công bố thông tin: DNNN phải thực hiện tiêu
chuẩn cao về tính minh bạch phù hợp với các nguyên tắc của OECD về quản trị
DN.
Cuối cùng là, trách nhiệm của ban quản trị của DNNN: Các ban quản trị của
hưởng tiêu cực đến hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của công ty. Liên quan
đến tỷ lệ vốn góp của Nhà nước, nghiên cứu của Gumbau-Albert và Maudos (2002)
đã phát hiện sự suy giảm về hiệu quả hoạt động của công ty khi tăng tỷ lệ sở hữu
của Nhà nước. Tuy nhiên, đối với nhân tố thời gian hoạt động (tuổi) của công ty,
các báo cáo nghiên cứu đánh giá mối quan hệ của nhân tố này với hiệu quả sử dụng
vốn có kết quả không đồng nhất. Cụ thể, Arrow (1962), Jovanovic (1982), Ericson
và Pakes (1995) trong nghiên cứu của mình đã phát hiện mối quan hệ đồng biến
giữa tuổi của một công ty và hiệu quả hoạt động của nó, trong khi nghiên cứu của
Leonard-Barton (1992), Agarwal và Gort (1996 và 2002) lại có kết quả ngược lại.
Sự khác biệt này, theo tác giả là do xuất phát từ những ưu điểm và nhược điểm của
một công ty lâu năm. Ưu điểm của các công ty hoạt động lâu năm là sự tiêu chuẩn
hóa về quy trình sản xuất và xây dựng được đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm,
nhờ đó làm tăng hiệu quả hoạt động. Mặc dù vậy, các công ty lâu năm lại có thể có
những kiến thức, kỹ năng và nguồn nhân lực lỗi thời so với các công ty mới thành
lập, cấu trúc các công ty này cũng cứng nhắc hơn và khó thay đổi khi cần thiết, vì
vậy làm suy giảm hiệu quả sử dụng vốn của DN.
Trong nhóm thứ hai, các nghiên cứu tìm hiểu tác động của cấu trúc ban quản
trị, bao gồm số lượng thành viên ban quản trị và sự tách biệt giữa vai trò của giám
đốc và chủ sở hữu đối với hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Nhìn chung, các kết
quả cho thấy số lượng thành viên ban quản trị càng nhỏ thì kết quả hoạt động của
công ty càng cao (kết quả nghiên cứu của Andres, Azofra và Lospez, 2005; Mak và 7
Yuanto, 2005; Liao, 2010). Tuy nhiên, khi nghiên cứu về nhân tố quan hệ độc lập
của giám đốc đối với ban quản trị, các kiểm định không thu được kết quả có ý nghĩa
thống kê về ảnh hưởng của sự độc lập này với kết quả hoạt động của công ty
(Hermalin và Weisbach, 1991; Mehran, 1995; Klein, 1998; Bhagat và Black, 2002;
Liao, 2010).
Như vậy, các nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của các công ty phụ
nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong quá trình triển khai, xác định được
chức năng vai trò của chủ sở hữu vốn Nhà nước, đánh giá thực trạng quản lý vốn
Nhà nước tại DNNN và tình hình sắp xếp, đổi mới DNNN. Mặc dù vậy, hạn chế
của nghiên cứu là chưa phân tích điểm mới của hệ thống văn bản pháp luật về chính
sách quản lý vốn, thiếu sự kiểm định và đo lường giữa chính sách và thực tiễn.
Nghiên cứu mới chỉ dừng lại tại dẫn chứng số liệu nhưng còn thiếu tính hệ thống.
Đề tài nghiên cứu “Cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp Nhà
nước sau cổ phần hoá” năm 2010, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
(CIEM) đề cập đến quản lý vốn Nhà nước tại các DNNN sau cổ phần hóa và nâng
cao hiệu quả quản lý vốn tại doanh nghiệp, thông qua việc ban hành các tiêu chí đối
với người đại diện vốn, cơ chế phối hợp của nhóm người đại diện vốn tại doanh
nghiệp; tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề
nghiệp tài chính cho người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất chính trị, đạo đức,
nghiệp vụ cho cán bộ quản lý Nhà nước về tài chính đối với doanh nghiệp cũng như
quyền lợi trách nhiệm của người đại diện vốn; sự phối hợp, kiểm tra và giám sát của
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến những đặc tính về tâm lý, hành vi, động cơ
của người đại diện vốn Nhà nước, hay sự kiêm nhiệm nhiều trọng trách khác nhau
tại nhiều doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động,… có ảnh hưởng đến quản lý vốn Nhà
nước. Đây chính là bài toán được đặt ra từ lâu, cần có lời giải từ các nhà quản lý, để
đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
Đề tài “Đổi mới, sắp xếp và vấn đề quản trị doanh nghiệp Nhà nước ở Việt
Nam”, năm 2006, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đánh giá
về tình hình hoạt động của DNNN giai đoạn 1990-2005. Trong đó, các tác giả đã
nêu bật được các văn bản pháp luật về quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, 9
quyền và nghĩa vụ của Bộ quản lý ngành, Bộ Tài chính, UBND tỉnh/thành phố, tổng
công ty và người đại diện vốn, đồng thời nêu nên những phát sinh trong quá trình
về pháp luật, thậm chí đôi khi còn mẫu thuẫn với Luật doanh nghiệp (Điều 68 và 69).
Nghiên cứu còn đề cập đến khía cạnh DNNN mặc dù đã chuyển sang hoạt
động theo mô hình công ty TNHH một thành viên, tuy nhiên vẫn chưa tự chủ trong
kinh doanh mà vẫn giữ thói quen xin phép các cơ quan Nhà nước thực hiện các vấn
đề thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp. Điều này có thể giải thích khi chủ sở hữu
chưa trở thành yếu tố cấu thành của quản trị công ty TNHH một thành viên nằm ở
những hạn chế về năng lực, trách nhiệm và điều kiện hoạt động để Chủ tịch công
ty/Chủ tịch và các thành viên Hội đồng thành viên đảm nhận chức năng “nhân danh
chủ sở hữu”. Bên cạnh đó, quy định về kiểm soát viên cũng đang tồn tại nhiều hạn
chế, trong đó vướng mắc lớn nhất là cơ chế hoạt động của các kiểm soát viên với tư
cách là các cá nhân được chủ sở hữu bổ nhiệm để kiểm tra, giám sát hoạt động của
Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên và của công ty chưa rõ ràng. Tuy
nhiên, tồn tại một thực tế là thành phần kiểm soát viên chủ yếu vẫn là người của
công ty và do công ty trả lương,… Công trình nghiên cứu đã tiến hành phân tích
những bất cập và đưa ra những dự báo về các vấn đề phát sinh đến quá trình chuyển
đổi DNNN sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề quản lý tài
chính, vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là không
xây dựng được mô hình tổ chức chuẩn đối với công ty TNHH một thành viên do
Nhà nước làm chủ sở hữu, để khắc phục những vấn đề đã phân tích ở trên.
Luận án tiến sỹ kinh tế: “Hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng vốn của
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)” năm 2008, tác giả Nguyễn
Phi Hà đã làm rõ một số cơ sở lý luận về cơ chế huy động và sử dụng vốn tại Tổng
công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra xu hướng phát
triển trong thời gian tới đối với Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam khi
chuyển mô hình hoạt động từ Công ty mẹ - con sang mô hình tập đoàn kinh tế.
Những khuyến nghị trong luận án tập trung hoàn thiện cơ chế huy động vốn và sử
dụng vốn để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời gian tới của các tổng công ty.
Tuy nhiên, tại chương 1- cơ sở lý luận, tác giả chủ yếu liệt kê cách thức huy động 12
số luận giải về cơ chế hoạt động và vận hành của doanh nghiệp từ đó chỉ ra những
đặc điểm, cơ chế trong quản lý sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp.
Tuy nhiên, phần lý thuyết của luận án chưa mang tính hệ thống, chưa làm nổi bật
được cơ chế quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Phần thực trạng mới
dừng lại ở việc đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cơ chế quản
lý vốn, chưa có sự gắn kết với nội dung lý thuyết, điều tra bảng hỏi mới dừng lại ở
việc thống kê mô tả, chưa xây dựng được mô hình định lượng đo lường mối quan hệ
giữa cơ chế quản lý cho vốn nói chung với hiệu quả của vốn Nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp. Phần giải pháp còn chung chung, chưa được rõ ràng và cụ thể đối với
phần vốn Nhà nước.
TS. Đỗ Thị Thục và TS. Nguyễn Thị Thu Hương, đồng tác giả của sách tham
khảo: “Quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp Việt Nam” năm 2011.
Các tác giả đã tiếp cận khá thành công và luận giải các vấn đề mang tính thời sự về
quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, chỉ ra nhiều phức tạp đó là: chưa
có quy định rõ ràng, cụ thể về quyền lợi, trách nhiệm của người đại diện hoặc kiêm
nhiệm đại diện vốn; việc đầu tư của DNNN còn dàn trải, chồng chéo; cơ chế thoái
vốn, cơ chế cung cấp thông tin và giám sát hoạt động đối với người đại diện vốn;
chưa tách bạch được chức năng quản lý Nhà nước và chức năng chủ sở hữu, …
Cuốn sách đề cập đến một số mô hình quản lý vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh
nghiệp của một số nước trên thế giới và rút ra một số bài học kinh nghiệm. Đồng
thời các tác giả cũng đề xuất một số giải pháp và điều kiện áp dụng giải pháp để về
quản lý vốn. Tuy nhiên, các tác giả chưa xây dựng được mô hình quản lý vốn của
Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp tại Việt Nam một cách cụ thể để giải quyết các
hạn chế nêu trên.
Luận án tiến sỹ kinh tế: “Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nước” năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương tập
trung làm rõ khái niệm về quản lý vốn Nhà nước, đặc điểm vốn Nhà nước, các nội