Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá - Pdf 27

Tích lũy kiến thức Giáo viên: Phan Thị Khoa
Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá
Lí luận dạy học đã chỉ ra các phơng hình thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập

Vai trò của phơng pháp kiểm tra đánh giá : Đánh giá là một quá trình hình thành
những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc. Nó đợc xem là một khâu
quan trọng cần đợc quan tâm ngay từ lúc làm kế hoạch và trong suốt quá trình triển
khai công việc. Trong dạy học, dựa vào sự phân tích các thông tin phản hồi thu đợc
qua kiểm tra, đối chiếu với những mục tiêu đa ra nhằm đề xuất những giải pháp
thích hợp để thay đổi tình hình, cải thiện chất lợng và hiệu quả dạy- học.
Mối quan hệ giữa mục tiêu và đánh giá trong dạy học
Kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ quan trọng đối với học sinh và giáo viên
mà đối với cả những nhà quản lí giáo dục thuộc các cấp khác nhau.
* Đối với học sinh, việc kiểm tra đánh giá mang tính khoa học, có hệ thống và th-
ờng xuyên sẽ cung cấp thông tin phản hồi giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động
học. Học sinh tự biết mình tiếp thu kiến thức đến mức nào, có những sai sót nào
cần bổ khuyết. Qua đó mà có ý thức phấn đấu vơn lên trong học tập.
* Đối với giáo viên, việc kiểm tra đánh giá nh thế sẽ mang lại những thông tin liên
hệ ngợc ngoài giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy. Giáo viên không chỉ nắm
trình độ chung của cả lớp mà còn biết đợc những học sinh nào có tiến bộ rõ rệt
hoặc sút kém đột ngột để động viên, giúp đỡ kịp thời.
* Đối với nhà quản lí giáo dục, kiểm tra đánh giá cung cấp những thông tin cơ
bản về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để kịp thời chỉ đạo, điều
chỉnh các lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ các sáng kiến nhằm bảo đảm thực hiện tốt
các mục tiêu giáo dục đề ra.
Trờng THCS Đức Ninh Trang
5
Mục tiêu
đào tạo
Trình độ
xuất phát của

4.2.1.Hình thức kiểm tra vấn đáp :
Phơng pháp này đợc áp dụng rộng rãi trong hình thức kiểm tra thờng xuyên của
bộ môn sinh học. Do đổi mới cách viết của SGK, học sinh phải tích cực chủ động
tìm ra kiến thức mới, nên đã tạo điều kiện cho học sinh giáo viên tiến hành kiểm tra
nói cả tiết học.
Để chuẩn bị câu hỏi giáo viên cần nghiên cứu kỹ những kiến thức cơ bản của bài,
nắm chắc yêu cầu của chơng trình, chuẩn kiến thức tối thiểu theo yêu cầu của bộ
giáo dục và đào tạo. Dung lợng kiến thức phải vừa phải sát với trình độ học sinh.
Câu hỏi nêu ra cho học sinh phải chính xác, rõ ràng và xác định, không làm cho
học sinh hiểu sai, dẫn tới trả lời lạc đề. Bên cạnh câu hỏi cơ bản, nên chuẩn bị câu
hỏi bổ sung, tạo điều kiện đánh giá chính xác, chú ý năng lực vận dụng kiến thức,
suy nghĩ sáng tạo.
3. hình thức kiểm tra viết
1.Câu hỏi tự luận (trắc nghiệm chủ quan) : là dạng trắc nghiệm dùng những câu
hỏi mở yêu cầu học sinh xây dựng câu trả lời. Câu hỏi kiểm tra kiến thức cả 6 mức
độ :
a : Câu hỏi biết
- Mục tiêu của câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về cả dữ kiện, số
liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm
- Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại đợc những gì đã học, đã đọc hoặc
đã trả lời qua.
- Các từ để hỏi thờng là : Cái gì , Bao nhiêu , Hãy định nghĩa , Em biết
những gì , Khi nào , Bao giờ , Cái nào , Hãy mô tả ,
Ví dụ : Hãy phát biểu định nghĩa mô là gì ?
Hãy liệt kê các yếu tố của một cung phản xạ ?
b : Câu hỏi hiểu
- Mục tiêu của câu hỏi này là kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ kiện, số
liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa,
- Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói,
nêu ra đợc các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung dạy

g. Câu hỏi tổng hợp
- Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra xem học sinh có thể đa ra những dự
đoán, giải quyết một vấn đề, đa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo.
- Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, các em phải tìm ra những
nhân tố và những ý tởng mới để có thể bổ sung cho nội dung.
- Việc trả lời câu hỏi tổng hợp khiến học sinh phải : dự đoán, giải quyết vấn đề và
đa ra các câu trả lời sáng tạo. Cần nói cho học sinh biết rõ rằng các em có thể tự do
đa ra những ý tởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tởng tợng của riêng mình. Các
câu hỏi này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khá dài, vì vậy hãy để cho học sinh đủ
thời gian tìm ra câu trả lời.
Ví dụ : Hãy đề ra biện pháp vệ sinh hệ thần kinh. Tại sao đề ra nh vậy ?
Hãy tìm cách xác định chức năng của tủy sống.
e. Câu hỏi đánh giá
- Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý kiến
và đánh giá các ý tởng, giải pháp dựa vào những tiêu chuẩn đề ra.
Ví dụ : Theo em làm thế nào để ngăn chặn đại dịch AIDS.
h. Kiểm tra kiến thức bằng trắc nghiệm khách quan : là dạng trắc nghiệm trong
đó mỗi câu hỏi có kèm theo những câu trả lời có sẵn. Loại câu hỏi này cung cấp
cho học sinh một phần hay tất cả các thông tin cần thiết và yêu cầu học sinh phải
chọn câu trả lời hoặc chỉ điền thêm một vài từ. Loại câu hỏi này đợc gọi là câu hỏi
đóng đợc xem là trắc nghiệm khách quan vì chúng đảm bảo tính khách quan khi
chấm điểm, không phụ thuộc vào đánh giá của ngời chấm.
Những loại câu trắc nghiệm dùng trong kiểm tra môn sinh học :
k. Câu đúng - sai : Trớc một câu dẫn xác định học sinh trả lời câu hỏi đó là đúng
hay sai. Loại câu trắc nghiệm thích hợp để kiểm tra những kiến thức sự kiện, cũng
Trờng THCS Đức Ninh Trang
7
Tích lũy kiến thức Giáo viên: Phan Thị Khoa
có thể dùng để kiểm tra các định nghĩa các khái niệm, nội dung các định luật. Loại
này đòi hỏi trí nhớ, ít có khả năng phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém.

m.: Câu điền khuyết : Câu dẫn có để một vài chỗ trống học sinh phải điền vào
chỗ trống những từ hoặc cụm từ xác định.
Quy tắc : Từ phải điền là từ có ý nghĩa nhất của câu đó, nên là danh từ. Mỗi câu
nên có khoảng một đến hai chỗ trống đặt ở giữa hoặc cuối câu. Các khoảng trống
phải có kích thớc ngang nhau.
Ví dụ : Hãy chọn các từ hay cụm từ sau để điền vào chỗ trốngtrong câu để câu trở
nên hoàn chỉnh hợp lý.
a. Tế bào b. Phổi
c. CO
2
d. O
2
Trao đổi khí ở (1) gồm sự khuếch tán của (2) từ không khí ở
phế nang vào máu và của (3) từ máu vào không khí phế nang.
n.: Câu nhiều lựa chọn : Mỗi câu hỏi nêu ra có 3-5 câu trả lời sẵn, trong đó chỉ có
một câu trả lời đúng hoặc đúng nhất. Những câu trả lời khác đợc gọi là câu gây
nhiễu hoặc gài bẫy. Học sinh phải nắm vững kiến thức mới phân biệt đợc. Các
câu gây nhiễu hoặc gài bẫy có vẻ bề ngoài là đúng nhng thực chất là sai hoặc
Trờng THCS Đức Ninh Trang
8
Tích lũy kiến thức Giáo viên: Phan Thị Khoa
chỉ đúng một phần. Loại câu nhiều lựa chọn đợc sử dụng rộng rãi nhất, kích thích
học sinh suy nghĩ nhiều.
Quy tắc : Phần gốc có thể là một câu hỏi hoặc một câu bỏ lửng và phần lựa chọn là
câu bổ sung để phần gốc trở nên đủ nghĩa. Phần lựa chọn nên là từ 4 đến 5, tùy
trình độ kiến thức và t duy của học sinh. Tránh xếp câu trả lời đúng nằm ở vị trí t-
ơng ứng nh nhau ở mọi câu hỏi.
Ví dụ : Loại thức ăn nào đợc biến đổi về mặt hoá học ở khoang miệng
a. Prôtêin, tinh bột c. Gluxit, hoa quả
b. Tinh bột chín d. Lipit, tinh bột

1. Các dạng phiếu hoạt động học tập :
1.1 : Phát triển kỹ năng quan sát :
Ví dụ : Những điểm khác nhau trong xương sọ và xương mặt, bàn tay, bàn chân
của người và vượn người.
Gợi ý : Tỉ lệ so/mặt, trán, xương quai hàm, cằm, răng
Chiều dài ngón, vị trí ngón cái.
1.2 : Phát triển kỹ năng phân tích :
Ví dụ : Xác định điểm đầu và điểm cuối của mạch polynucleotit sơ đồ cấu trúc bậc
1, 2, 3 của phân tử protein.
Yêu cầu : Ghi các từ đầu, cuối lên mỗi mạch polynucleotit.
1.3 : Phát triển kỹ năng so sánh :
Ví dụ 1 : So sánh cấu trúc của AND và ARN
Yêu cầu : Điền vào bảng
Điểm so sánh ADN ARN
- Số mạch
- Số đơn phân
- Thành phần của một đơn
phân
Ví dụ 2 : So sánh lai cải tạo và lai tạo giống mới
Yêu c u : Nghiên c u SGK v i n b ng.ầ ứ à đ ề ả
Lai tạo giống mới Lai cải tạo giống
1. Mục đích
2. Cách tiến
hành
3. Hậu quả
1.4 : Kỹ năng quy nạp, khái quát hóa :
Ví dụ 1 : Kết luận khái quát từ những thí nghiệm lai một cặp tính trạng
Yêu cầu : Phát biểu xu thế biểu hiện các tính trạng của bố mẹ ở F
1
và F

TÝch lòy kiÕn thøc Gi¸o viªn: Phan ThÞ Khoa
1.5 : Phát
triển kỹ năng
suy luận, đề
xuất giả
thuyết :
Ví dụ 1 : Mã mở đầu và mã kết thúc gen có đối mã tương ứng hay không ? Chúng
có khả năng đột biến không ? Nếu có thì gây hậu quả gì ?
( Phiếu học tập này được sử dụng sau khi học sinh đã học về mã di truyền và cơ
chế dịch mã )
Ví dụ 2 : Vì sao trong tế bào chất riboxom phân bố chủ yếu trên lưới nội chất và
tập trung nhiều nhất ở vùng gần nhân ?
( Phiếu học tập này được sử dụng cuối bài sinh tổng hợp protein )
1.6 : Phát triển kỹ năng áp dụng kiến thức đã học :
Ví dụ : Một trâu đực đen, giao phối với một trâu cái đen sinh một con nghé trắng.
Giải thích ?
( Áp dụng định luật trội và định luật phân li )
2. Kỹ thuật thiết kế phiếu học tập :
Để thiết kế được một phiếu hoạt động học tập tốt, phản ánh đúng một trong 6 kỹ
năng trên cần tuân thủ 10 quy tắc sau đây :
- Có mục đích rõ ràng
- Có nội dung ngắn gọn
- Có độ chính xác trong diễn đạt ý.
- Có khối lượng công việc vừa phải
- Có phần chỉ dẫn nhiệm vụ đủ rõ
- Có khoảng trống thích hợp để học sinh điền công việc phải làm.
- Có hình thức trình bày gây hứng thú làm việc
- Có quy định thời gian hoàn thành
- Có chỗ đề tên học sinh để khi cần giáo viên đánh giá trình độ học sinh
- Có đánh số thứ tự ( Nếu biên soạn được một tập phiếu học tập)

xanh
5471 trơn : 1850
nhăn
705 đỏ : 224 trắng
487 cao : 277 thấp
3,01 : 1
2,95 : 1
3,15 : 1
2,84 : 1
11
TÝch lòy kiÕn thøc Gi¸o viªn: Phan ThÞ Khoa
BIỂU DIỄN THÍ NGHIỆM – NGHIÊN CỨU TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC.
I. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học sinh học :
Biểu diễn thí nghiệm (BDTN) là phương pháp quan trọng nhất để tổ chức HS
nghiên cứu các hiện tượng sinh học, vì :
- Thí nghiệm (TN) là mô hình đại diện cho hiện thức khách quan, là cơ sở xuất
phát cho quá trình nhận thức của HS.
- TN là cầu nối lí thuyết và thực tiễn. Vì vậy nó là phương tiện duy nhất giúp hình
thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật.
- TN giúp HS đi sâu tìm hiểu bản chất của các hiện tượng, các quá trình sinh học.
- TN do GV biểu diễn phải là mẫu mực về thap tác để qua đó HS học tập, bắt
chước. Dần dần, khi HS tiến hành được TN họ sẽ rèn luyện được kĩ năng TH, TN.
- TN có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của HS với các mức độ
tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau : thông báo, tái hiện (bắt chước), tìm tòi bộ
phận nghiên cứu.
Tóm lại, TN được sử dụng để học bài mới; củng cố, hoàn thiện kiến thức; kiểm tra
đánh giá kiến thức. TN có thể do GV biểu diễn, hoặc HS tự tiến hành. TN có thể
tiến hành trên lớp, trong phòng thí nghiệm, ngoài vườn, ruộng hoặc tại nhà.
II. Bản chất phương pháp biểu diễn thí nghiệm – nghiên cứu

mối quan hệ nhân - quả, đòi hỏi phát triển ở HS khả năng trừu tượng hóa. Tính tích
cực sáng tạo của HS càng lớn nếu HS được thảo luận về mục đích TN, nêu được
các giả thiết khoa học và dự đoán được kết quả có thể xảy ra.
III. Yêu cầu sư phạm của biểu diễn thí nghiệm – nghiên cứu
1. Những yêu cầu sư phạm
Trước khi BDTN, GV phải đặt vấn đề rõ ràng, giải thích mục đích của TN, tác
dụng của các dụng cụ TN
Cần hướng dẫn HS ghi chép vào vở những hiện tượng xảy ra trong quá trình TN.
Những tài liệu ghi chép được trong quá trình quan sát là rất cần thiết để HS có các
dữ kiện giải thích, gia công, rút ra những kết luận khái quát theo yêu cầu của
những câu hỏi, bài tập mà GV đã nêu ra từ trước. Các câu hỏi, bài tập này cần
được ghi lên bảng, hoặc đọc cho HS ghi vào vở. Yêu cầu của các câu hỏi này là
phải phù hợp với chủ đề của bài học để khi tìm lời giải đáp giúp HS nắm vững bản
chất của hiện tượng.
TN phải đơn giản, vừa sức với HS, tránh những TN quá phức tạp
Số lượng các TN, khoảng thời gian biểu diễn trong bài lên lớp phải hợp lí, tránh
kéo dài quá mức thời gian quy định của một tiết học.
Sau BDTN, cần tổ chức cho HS thảo luận nhờ dựa vào kết quả quan sát được và
các câu hỏi đã nêu ra từ trước. Những kết luận mà HS rút ra được qua cuộc thảo
luận, nhất thiết GV phải bổ sung để chính xác hóa.
Phối hợp một cách hợp lí việc BDTN với lời nói của GV. Tùy theo lôgic của sự
phối hợp này mà tính chất hoạt động nhận thức của HS khác nhau. Nếu ở phương
pháp BDTN – nghiên cứu, TN là nguồn thông tin cho HS, còn lời nói của GV giữ
vai trò chỉ đạo, hướng dẫn thì trong phương pháp BDTN – thông báo tái hiện, lời
nói của GV là nguồn thông tin chính, còn việc BDTN chỉ là để minh họa, xác nhận
những thông tin từ lời nói của GV. Việc lựa chọn lôgic phối hợp nào giữa lời nói
GV với BDTN là tùy thuộc mức đọ phức tạp của nội dung nghiên cứu, vào năng
lực tư duy và trình độ tri thức đã có ở HS. Đối với những sự kiện, hiện tương hay
cơ chế đơn giản, có thể rút ra kết luận nhờ sự quan sát trực tiếp, không cần suy
luận bằng các thao tác lôgic phức tạp thì lời nói của GV chỉ có tính chất hướng dẫn

- Trên cơ sở tài liệu thu được từ sự quan sát TN, HS tự lực rút ra những kết luận
mới.
2. BDTN – nghiên cứu phải theo các bước lôgic sau :
Bước 1 : Đặt vấn đề : Thông báo đề tài nghiên cứu; nêu mục đích nghiên cưus để
kích thích sự tự giác học tập ban đầu.
Bước 2 : Phát biểu vấn đề : Nêu mục đích cụ thể hơn, vạch rõ những phần cấu
thành chủ đề nghiên cứu để có sự đinh hướng cụ thể.
Bước 3 : Đề xuất giả thiết của đề tài, dự đoán các phương án giải quyết, vạch kế
hoạch giải quyết
Bước 4 : Thực hiện kế hoạch giải quyết
Bước 5 : Đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Nếu kết quả thực hiện kế hoạch không phù hợp giả thiết khoa học đã nêu ra thì
phải quay lại bước 3, đề xuất giả thiết khác.
Như vậy thực hiện kế hoạch đưa đến kết quả xác nhận giả thiết đúng thì chuyển
sang bước 6.
Bước 6 : Phát biểu kết luận
3. Những điều cần lưu ý khi BDTN – nghiên cứu
a. BDTN – nghiên cứu nhất thiết phải có phần đối chứng để kiểm tra kết quả TN,
giúp HS tìm được mối quan hệ nhân – quả của các hiện tượng xảy ra trong TN.
Việc xác định yếu tố TN và đối chứng được thực hiện ở bước 4 và 5. Với các TN
minh họa thì đơn giản hơn, không nhất thiết phải có đối chứng.
b. Phải đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học của việc BDTN như : nơi bố trí TN
phải đủ ánh sáng phải đủ rõ cho cả lớp ; các thao tác TN của GV phải thành thạo,
bảo đảm TN thành công ; dự đoán trước những thắc mắc HS có thể hỏi khi quan
sát TN ; lường trước những thất bại có thể xảy ra để giải thích cho HS rõ nguyên
nhân, tránh làm mất lòng tin đối với các em.
Trêng THCS §øc Ninh Trang
14
TÝch lòy kiÕn thøc Gi¸o viªn: Phan ThÞ Khoa
c. Trong dạy học sinh học có loại TN dài ngày nên có thể bố trí ở vườn trường, góc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status