LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã bước
qua biết bao nhiêu thăng trầm sóng gió. Thời điểm vàng son, người người đầu
tư chứng khoán, nhà nhà đầu tư chứng khoán, là ngày 12 tháng 03 năm 2007,
khi mà VN-Index đạt đỉnh 1179.32 điểm. Khoảng thời gian cuối năm 2006,
đến đầu năm 2007, với sự bùng nổ thực sự của chứng khoán thì cũng là sự “
mọc lên nh nÊm ” của các công ty chứng khoán (CTCK). Cũng tại thời điểm
đó, trung bình khoảng 20 ngày lại có mét thành viên mới xuất hiện trên
HASTC hay HOSE. Tính đến thời điểm hiện nay, tháng 4 năm 2009 đó có
188 CTCK chính thức là thành viên của HASTC và HOSE. Một sự cạnh tranh
thực sự như “chiến trường”, nó đang và sẽ trở nên khốc liệt hơn khi vào thời
điểm hiện nay tính thanh khoản trên thị trường là rất cao, cũng như với N§T
họ sẽ có rất nhiều lựa nên đầu tư ở Trung tâm giao dịch Chứng Khoán nào?
Cuộc chạy đua giữa các CTCK nhằm giành giật thị phần đang trong thời gian
khốc liệt, nhất là trong thời điểm hiện nay, với một loạt các chiêu thức cạnh
tranh: giảm phí, nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hoá dịch vụ …
CTCK SHS được thành lập cuối năm 2007. Trải qua hơn 1 năm hoạt
động công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhưng trong quá trình
phát triển, SHS vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định và chưa phát huy hết
thế mạnh của mình. Sau thời gian thực tập tại công ty, tìm hiểu hoạt động của
công ty em thấy công ty cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh để có thể đứng vững trong điều kiện hiện nay. Với
mong muốn đóng góp một số ý kiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội ”.
SV : CAO MINH TIẾN 1 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Đề tài được nghiên cứu với ba mục tiêu cơ bản sau:
của cô giáo hướng dẫn ,cùng các thầy cô bộ môn Kinh doanh chứng khoán và
cán bộ, nhân viên công ty chứng khoán SHS …
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và nghiên cứu nhưng do trình độ còn hạn
chế nên luận văn của em không tránh khỏi những sai sót, hạn chế. Em rất
mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô trong bộ môn.
SV : CAO MINH TIẾN 3 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Chương 1
Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh
tranh của công ty chứng khoán
1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1 Kh¸i niÖm vµ vai trß cña c«ng ty chøng kho¸n
1.1.1.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực chứng
khoán thông qua việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ chứng khoán với mục
đích tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
• Vai trò huy động vốn
Công ty chứng khoán là mét trong những trung gian tài chính có chức
năng huy động vốn. Khi doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát
hành chứng khoán, doanh nghiệp không thể tự đi bán số chứng khoán mà
doanh nghiệp phát hành, nguyên nhân là do doanh nghiệp không có bộ máy
chuyên môn thực hiện việc phát hành chứng khoán. Doanh nghiệp cần có
những người chuyên nghiệp để phát hành chứng khoán cho họ. Còn các nhà
đầu tư không thể tự đến sở giao dịch chứng khoán để mua bán các chứng
khoán phát hành, vì vậy họ phải nhờ đến các công ty chứng khoán. Hay nói
cách khác công ty chứng khoán có vai trò là cầu nối và là kênh dẫn vốn chảy
từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn
rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn).
- Cung cấp thông tin về chính sách tài chính tiền tệ của Chính Phủ có
liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc.
1.1.2 Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán
Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứng
khoán là mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng
khoán chuyên doanh.
• Mô hình công ty chứng khoán đa năng
Theo mô hình công ty đa năng, công ty chứng khoán là một bộ phận
cấu thành của ngân hàng thương mại. Hay nói cách khác, ngân hàng thương
mại kinh doanh trên cả hai lĩnh vực là tiền tệ và chứng khoán.
Ngân hàng thương mại là những công ty có số vốn khổng lồ và sẵn
sàng gia nhập những ngành có lợi nhuận cao. Với lợi thế về kinh nghiệm, vốn
và chuyên môn, Ngân hàng thương mại sẽ dễ dàng trong kinh doanh, cung
ứng những dịch vụ tài chính đa dạng phong phú liên quan đến tài chính tiền
tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính.
Mô hình công ty chứng khoán đa năng có ưu điểm là có thể giảm bớt
được rủi ro hoạt động kinh doanh chung, có thế mạng và kinh nghiệm trong
hoạt động kinh doanh chứng khoán, tạo động lực cho sự phát triển của thị
trường. Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm là công ty có thể sẽ lợi
dụng những ưu thế của mình để lũng đoạn thị trường.
SV : CAO MINH TIẾN 6 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Sơ đồ 1.1: Mô hình CTCK đa năng hoàn toàn.
• Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công
ty chứng khoán độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm
nhận. Mô hình này giúp hạn chế rủi ro cho các ngân hàng và các tổ chức tài
chính trên thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển tự do của thị trường.
SV : CAO MINH TIẾN 7 LỚP K43/17.01
Ngân hàng
nhiệm hữu hạn trên phần vốn mà họ đã góp. Công ty trách nhiệm hữu hạn có
hai loại hình chính là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai
thành viên trở lên. Tuỳ vào lượng vốn góp của các bên mà xác định chức Chủ
tịch hội đồng quản trị.
Ưu điểm của hai loại hình công ty này là Công ty chứng khoán có thể
huy động vốn dễ dàng thông qua việc bổ sung vốn của các thành viên góp vốn
hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua việc phát hành cổ
phiếu (đối với công ty cổ phần) và phát hành trái phiếu (đối với công ty
TNHH).
1.1.4 C¸c nghiÖp vô kinh doanh cña c«ng ty chøng kho¸n
1.1.4.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian, trong đó công ty chứng
khoán tiến hành giao dịch chứng khoán nhân danh mình đại diện cho khách hàng.
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của công ty chứng khoán, nghiệp vụ này bao
gồm thực hiện lệnh giao dịch mua bán chứng khoán cho khách hàng, thanh
toán và quyết toán các giao dịch. Để thực hiện nghiệp vụ môi giới đòi hỏi
công ty chứng khoán phải có tín nhiệm, phải được khách hàng tin cậy, phải có
năng lực kinh nghiệm nghề nghiệp, phải có khả năng phân tích tài chính
doanh nghiệp để tư vấn cho các khách hàng của mình.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán thu phí môi
SV : CAO MINH TIẾN 9 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
giới từ khách hàng. Phí môi giới thường được tính theo tư lệ phần trăm của
tổng giá trị giao dịch.
1.1.4.2 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối
chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi
phát hành.
Quá trình bảo lãnh phát hành bao gồm việc tư vấn tài chính, định giá
chứng khoán giảm để kìm hãm giá và bán ra khi giá chứng khoán lên
nhằm giữ giá chứng khoán.
1.1.4.4 Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán là dịch vụ mà công ty
chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng
khoán, tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp
và hỗ trợ doanh nghiệp phát hành và niêm yết chứng khoán… Dịch vụ tư
vấn đầu tư và tư vấn tài chính có thể ®¬c bất kỳ công ty chứng khoán
hay cá nhân nào tham gia thông qua:
- Khuyến cáo
- Lập báo cáo
- Tư vấn trực tiếp
- Thông qua ấn phẩm về chứng khoán để thu phí.
SV : CAO MINH TIẾN 11 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Hoạt động tư vấn đầu tư là việc cung cấp các thông tin, cách thức, đối
tượng chứng khoán, thời hạn, khu vực… và các vấn đề có tính quy luật của
hoạt động đầu tư chứng khoán. Nghiệp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ
năng chuyên môn mà không yêu cầu nhiều vốn. Tính trung thực của công ty
tư vấn có tầm quan trọng đặc biệt. Ngoài dịch vụ tư vấn đầu tư, các công ty
chứng khoán có thể sử dụng kỹ năng để tư vấn cho các công ty về việc sáp
nhập, thâu tóm, tái cơ cấu vốn của công ty để đạt hiệu quả hoạt động cao.
Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có thể thực hiện
một số hoạt động khác nh giao dịch ký quỹ (cho vay chứng khoán, cho vay
kÝ quỹ), lưu ký chứng khoán…
Không phải công ty chứng khoán nào cũng được thực hiện tất cả các
nghiệp vụ trên. Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán
phải đảm bảo một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm
quyền. Cụ thể ở Việt Nam, một công ty chứng khoán nếu muốn thực hiện đầy
đủ tất cả 4 nghiệp vụ: môi giới (25 tư đồng), tự doanh (100 tư đồng), bảo lãnh
nhất của các tổ chức KDCK là vai trò huy động vốn, là một trong những trung
gian tài chính có chức năng huy động vốn và điều hoà vốn một cách tự nhiên
thông qua các hoạt động Tài chính. Ngành KDCK có vai trò hình thành về giá cả
Chứng khoán, vai trò thực thi tính hoán tƯ của Chứng khoán giúp các nhà đầu tư
dễ chuyển từ tiền sang CK và ngược lại. Vai trò nữa là thực hiện tư vấn đầu tư
thông qua việc cung cấp thông tin phục vụ khách hàng và công tác đầu tư.
Từ tính đặc thù riêng biệt của ngành KDCK mà chúng ta có thể đưa ra
những chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của một công ty Chứng khoán.
SV : CAO MINH TIẾN 13 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCK
1.2.2.1 Thị phần
Vì ngành KDCK là một ngành mang tính đặc thù nên thị phần thị trâng
là một trong những yếu tố quyết định của một CTCK. Một công ty chiếm thị
phần lớn sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của công ty đó. Những công ty
chứng khoán lớn nh SSI, AGRICO, … đều chiếm thị phần khách hàng rất lớn.
Các công ty chứng khoán nếu muốn cạnh tranh được trên thị trâng đều phải
hoàn thiện về nhân sự, công nghệ, tiềm lực tài chính, dịch vụ …để có thể thu
hút được các nhà đầu tư vì sự tin tưởng của các Nhà đầu tư tạo nên thị phần
cho CTCK và mang lại doanh thu cho CTCK.
1.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá về kỊt quả hoạt động kinh doanh.
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh chính là cơ sở cho
những nhà quản lý, nhà đầu tư và tất cả những người quan tâm đến CTCK, để
đánh giá năng lực cạnh tranh của một CTCK chúng ta sẽ xem xét một số chỉ
tiêu sau:
Chỉ tiêu đánh giá thay đổi nguồn vốn.
Mức độ thay đổi về nguồn vốn giữa năm nay và năm trước là một chỉ
tiêu quan trọng, được sử dụng để xác định mức độ cải thiện hoặc giảm sút về
khả năng tài chính của công ty chứng khoán trong năm và được tính bằng
công thức:
hoạt động Doanh thu thuần kinh doanh chứng khoán
Tư suất lợi Lợi nhuận sau thuÕ
nhuËn sau thuế =
x100
trên doanh thu Doanh thu thuần
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
* Chỉ tiêu tư suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh.
Tư suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lợi
của đồng vốn, công thức tính cụ thể:
* Chỉ tiêu đánh giá về chất lượng đầu tư tự doanh.
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư tự doanh của
công ty chứng khoán, một yếu tố đóng góp vào lợi nhuận chung của công ty.
Công thức tính nh sau:
* Chỉ tiêu tư suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
Mục tiêu hoạt động của công ty là đem lại lợi nhuận ròng cho các chủ
sở hữu đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu này. Chỉ tiêu này cho biết một
đồng vốn chủ sở hữu sử dụng sinh ra được bao nhiêu đồng lời nhuận sau thuế.
Công thức xác định nh sau:
SV : CAO MINH TIẾN 16 LỚP K43/17.01
Tư lệ thu nhập từ Thu nhập từ hoạt động đầu tư tự doanh
®Çu tư tự doanh trên= x100
TS đầu tư tự doanh Giá trị tài sản đầu tư tự doanh
Tư suất lợi Lợi nhuận sau thuÕ
nhuËn sau thuế =
x100
trên vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
*Chỉ tiêu hiệu quả gia tăng vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu này cho phép theo dõi đánh giá lợi nhuận ròng của số vốn chủ
sở hữu tăng thêm cho hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này được tính nh sau:
Sự ổn định về chính trị sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư bên ngoài, mở rộng
hợp tác quốc tế tạo cơ hội kinh doanh cho các công ty chứng khoán. Ngược
lại, bất kỳ sự bất ổn nào cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của
thị trường chứng khoán nói riêng và công ty chứng khoán nói chung.
Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước có vai trò định hướng và chi
phối toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Luật pháp không chỉ tạo ra hành lang
pháp lý thông thoáng tạo đà cho các công ty chứng khoán mở rộng hoạt động
kinh doanh mà còn điều chỉnh hoạt động của các công ty chứng khoán bằng
các quyết định, nghị định…
Như vậy có thể nói không chỉ cần sự ổn định về chính trị mà các chính
sách, pháp luật cũng cần phải điều chỉnh một cách đúng đắn, phù hợp với điều
kiện nền kinh tế và sự phát triển của thị trường chứng khoán. Điều này sẽ tạo
ra một môi trường chính trị luật pháp thuận lợi tạo cơ hội cho các công ty
chứng khoán hoạt động.
1.2.3.1.3 Môi trường công nghệ
Mỗi một sự tiến bộ của khoa học đều đưa đến việc loại bỏ các công
nghệ ra đời trước đó với một công nghệ mới vượt trội hơn. Việc áp dụng công
nghệ mới sẽ tạo cho công ty đó có một lợi thế hơn công ty khác trong kinh
doanh như có thể giảm chi phí, tăng năng suất lao động, tiết kiệm được thời
SV : CAO MINH TIẾN 18 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
gian trong các quy trình làm việc. Ví dụ như việc phát minh ra Internet đã làm
cho mọi thông tin được truyền tải một cách nhanh nhất , làm thay đổi toàn bộ
quy trình làm việc của các công ty chứng khoán thời đó. Tuy nhiên nhân tố
này cũng đòi hỏi các công ty chứng khoán phải chủ động nắm bắt xu thế mới
trong hoạt động kinh doanh chứng khoán như chủ động tiếp cận các công
nghệ mới vào lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, có kế hoạch phát triển các
công nghệ mới, các dịch vụ mới…
1.2.3.1.4 Môi trường văn hoá xã hội
Các yếu tố trong môi trường văn hoá xã hội có thể kể đến là: yếu tố
các dịch vụ ngày càng cao, vì vậy các công ty chứng khoán phải không ngừng
nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm dịch vụ để đáp ứng đòi hỏi của khách
hàng. Để có thể cạnh tranh thì việc xây dựng chính sách khách hàng và coi
chính sách này là một định hướng phát triển của công ty là một việc cần thiết.
1.2.3.2 Nhóm nhân tố bên trong
1.2.3.2.1 Trình độ công nghệ thông tin của doanh nghiệp
Công nghệ thông tin và viễn thông là một yếu tố có vai trò cực kỳ quan
trọng. Việc cạnh tranh về ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông trong
ngành dịch vụ chứng khoán trở thành một giải pháp cơ bản để các công ty
chứng khoán có thể tồn tại và phát triển.
Công nghệ phát triển làm thay đổi diện mạo của cả nền kinh tế, trong
đó có cả ngành dịch vụ về chứng khoán. Cùng với sự phát triển của kinh tế,
các ngành dịch vụ về chứng khoán càng đa dạng và phức tạp, việc ứng dụng
SV : CAO MINH TIẾN 20 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
công nghệ đã làm giảm chi phí, giảm rủi ro và giúp hoạt động trở nên nhanh
chóng thuận tiện hơn. Đồng thời, các dịch vụ ngày càng đa dạng, sự cạnh
tranh trong ngành ngày càng gay gắt dẫn đến việc ứng dụng công nghệ thông
tin vào hoạt động trở thành cơ hội cho các công ty chứng khoán tạo ra các sản
phẩm dịch vụ vượt trội: nâng cấp các dịch vụ hiện tại; cung ứng các dịch vụ
mới, cung cấp cho khách hàng theo những cách thức mới; nhờ công nghệ viễn
thông và xử lý thị trâng để vượt qua được hạn chế địa lý và tính kịp thời trong
công bố thông tin, cung ứng dịch vụ tới bất kỳ địa điểm nào có Internet.
Thị trường chứng khoán là thị trường của niềm tin và thông tin. Có thể
nói, thông tin có ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường, vì vậy, để giúp nhà đầu tư
tiếp cận thông tin một cách nhanh nhất, chính xác và hoàn thiện thì phải nhờ
đến công nghệ thông tin. Nhờ đó, tính minh bạch, công bằng trên thị trường
ngày càng được củng cố hơn.
Nh vậy, ứng dụng công nghệ giúp công ty chứng khoán có được sự
vượt trội về mọi mặt, đồng thời cung cấp cho người sử dụng những dịch vụ
phải có một bộ máy quản trị kinh doanh đủ mạnh giúp nó sử dụng một cách
tốt nhất các nguồn lực trong quá trình kinh doanh, ứng phó một cách linh hoạt
với những biến động của môi trường và thị trường để nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Có thể nói, năng lực quản trị được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng tác
động đến khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán.
1.2.3.2.5 Mạng lưới và quy mô hoạt động
Một trong những biện pháp mà các công ty chứng khoán quan tâm đầu
tiên là mở rộng mạng lưới và quy mô hoạt động. Việc mở rộng mạng lưới là
hướng đi tốt nhất hiện nay để mở rộng thị phần. Khi mạng lưới khách hàng
SV : CAO MINH TIẾN 22 LỚP K43/17.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
mở rộng thân thiện với nhà đầu tư sẽ giúp cho thị trường chứng khoán càng
đáp ứng tốt nhu cầu đại chúng, tạo khả năng cho công ty chứng khoán mở
rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Để có thể đứng vững trên thị trường, các công ty chứng khoán cần phải
mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ chính, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán.
1.2.3.2.6 Thương hiệu
Thương hiệu của một doanh nghiệp là tên tuổi của doanh nghiệp đó
trên thị trường. Thương hiệu là một lợi thế cạnh tranh, là một tài sản mà công
ty không thể nào ước tính hết được giá trị thực của nó. Thương hiệu càng nổi
tiếng có nghĩa là công ty chứng khoán có được sự ưu ái của khách hàng, sự
công nhận của đối tác và đó là một lợi thế lớn trong cạnh tranh. Nhưng ngược
lại, để có thương hiệu đồng nghĩa với việc công ty đó đã hội tụ đủ những điều
kiện cần thiết để trở thành một công ty có vị thỊ trên thị trường. Để có được
điều này thì công ty phải tập trung xây dựng hình ảnh của mình qua chất
lượng dịch vụ, tạo niềm tin và uy tín với khách hàng.
Nh vậy không thể không xét đến những yếu tố vĩ mô bao quanh công ty
khi công ty quyết định những chính sách để cạnh tranh và phát triển. Nhưng
ngoài những yếu tố bên ngoài tác động điều chỉnh đến công ty, những yếu tố
Trên thị trường chứng khoán, hàng loạt các công ty chứng khoán mới
ra đời đều áp dụng biện pháp cạnh tranh về phí dịch vụ, nhất là phí môi giới.
Tuy nhiên, để tạo ra được mức phí dịch vụ thấp, công ty cần xem xét đến khả
năng kiểm soát chi phí và chủ động giá của mình, dựa vào các yếu tố cơ bản
để hạ giá thành như chi phí kinh doanh thấp, khả năng tài chính đảm bảo…
Khả năng chủ động về giá càng cao thì công ty càng có lợi thỊ trong cạnh
tranh.
1.2.4.3 Cạnh tranh về thời gian
Cạnh tranh về thời gian là để đón đầu trào lưu thị trường. Doanh nghiệp
cần phải nhạy bén nắm bắt và tiếp cận với những xu hướng mới của thị
trường và cố những giải pháp phản ứng kịp thời đổi mới sản phẩm dịch vụ,
đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề không phải ở chỗ đi trước mà là đi
nhanh hơn. Nếu mỗi bước tiến của doanh nghiệp đều bị đối thủ cạnh tranh bắt
kịp thì doanh nghiệp sẽ mất đi lợi thỊ của mình. Do đó, thời gian là yếu tố
quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh.
SV : CAO MINH TIẾN 25 LỚP K43/17.01