LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Vũ Trí Dũng
đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn báo cáo này.
Tôi chân thành cảm ơn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các giảng
viên của khoa Quốc Tế - Trường Đại học Quốc gia hà nội, những người đã
tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành báo cáo này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban tổng giám đốc Công ty cổ phần
dược TW Mediplantex, các bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi trong qua trình
thực tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã ở bên cạnh
động viên, chăm sóc tôi trong suốt thời gian hoàn thành báo cáo này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2011
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG ƯƠNG MEDIPLANTEX 3
CHƯƠNG 1 6
TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC 6
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH 6
1.1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH
. .
6
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành 6
1.2. Các cấp năng lực cạnh tranh 10
1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG ƯƠNG MEDIPLANTEX 3
CHƯƠNG 1 6
TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC 6
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH 6
1.1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH
. .
6
dược phẩm thế giới. Tuy nhiên trên thị trường dược phẩm hiện nay cũng đang
chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp dược phẩm trong
nước và các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài. Trong đó, các doanh
nghiệp dược phẩm nước ngoài đang tỏ ra có nhiều ưu thế hơn với việc chiếm
lĩnh gần như hoàn toàn phân khúc thuốc đặc trị và đang mở rộng sang phân
khúc thuốc phổ thông. Việc Việt nam gia nhập WTO, một mặt vừa tạo ra
1
nhiều cơ hội, những mặt khác cũng đặt ra nhiều thách thức cho các doanh
nghiệp dược trong nước khi phải cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng hơn.
Công ty cổ phần dược trung ương Mediplantex là một Doanh nghiệp
chuyên sản xuất và kinh doanh dược phẩm , kinh doanh dược liệu nguyên liệu
hóa chất làm làm thuốc. Trong những năm gần đây công ty đang từng bước
phát triển để nâng cao và khẳng định vị thế của mình trên thị trường dược
phẩm. Tuy nhiên để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh cạnh
tranh ngày càng khốc liệt, Công ty cổ phần dược trung ương Mediplantex cần
phải nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình.
Từ yêu cầu cấp thiết đó, đề tai:”Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công
ty cổ phần dược trung ương Mediplantex) đã được thực hiện voeis mục tiêu:
- Đánh giá năng lực canh tranh của Công ty cổ phần Dược phẩm trung
ương Mediplantex năm 2007 – 2010 qua một số tiêu chí.
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranh
của Công ty cổ phần Dược phẩm trung ương Mediplantex .
2
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG ƯƠNG
MEDIPLANTEX
Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex, với 28% vốn nhà nước. Công
ty chính thức hoạt động sang mô hình công ty cổ phần từ tháng 4/2005, với
chức năng kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu các mặt hàng dược phẩm,
dược liệu, nguyên liệu hoá dược, tinh dầu, mỹ phẩm, máy móc thiết bị, bao bì
cao cấp ngành dược phẩm, mỹ phẩm.
- Công ty có mối quan hệ thương mại với các Công ty ở trên 20 nước
từ châu Âu tới châu Á như: Pháp, Anh, Áo, Đức, Tiệp, Trung Quốc, Ấn độ
Kim ngạch nhập khẩu của công ty trong các năm gần đây đạt khoảng
20.000.000 USD mỗi năm trên 6 thị trường trọng điểm: Pháp, Úc, Đức, Ấn
độ, Nhật, Hàn Quốc. Sản phẩm thuốc nhập khẩu có số Visa của Cục quản lý
dược với số lượng trên 200 loại thuốc khác nhau với các nhóm đặc thù như:
nhóm thuốc kháng sinh, hạ sốt, đường ruột, tim mạch, thần kinh, bổ dưỡng.
- Công ty Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex đã tham gia cung
cấp thuốc cho nhiều chương trình thuốc của nhà nước và của Bộ Y tế cũng
như cung cấp thuốc cho các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức, Viện
108, Viện 103 , Hữu nghị, Viện 198, Viện Nhi Thuỵ Điển, Viện Da liễu
Và hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước.
- Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, thành phẩm thuốc
chữa sốt rét được chiết xuất từ Thanh Hao Hoa Vàng, các loại thành phần tân
dược, đông dược, tinh dầu.
Mục tiêu phát triển
Đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp Dược, sản xuất các loại thuốc có
giá trị cao, đẩy mạnh nghiên cứu chế tạo nhiều mặt hàng mới được người tiêu
4
dùng ưa chuộng và có giá trị kinh tế cao.
Song song với đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, công ty cũng chú ý đầu
tư, phát triển các mặt công tác quản lý chất lượng, nghiên cứu phát triển quản lý
kinh tế tài chính, phát triển thương hiệu, mở rộng phát triển thị trường trong
nước và nước ngoài, từng bước quốc tế hoá hoạt động của công ty trên các mặt
quản lý chất lượng kinh tế, thương hiệu, nhân lực thích ứng với yêu cầu của hoạt
động kinh doanh mang tính chất toàn cầu ngày càng cao. Xây dựng thương hiệu
Mediplantex trở thành thương hiệu nổi tiếng và được yêu thích.
Lĩnh vực kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành:
Dược phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm vệ sinh và thực phẩm dưỡng sinh,
quan tâm.
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều
lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao; thường
xuyên được nhắc tới trong các tài liệu chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như
các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối
tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau
về “cạnh tranh”:
(i) Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là
hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài
vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự
kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác.
6
(ii) Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế
giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều
kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu lợi
nhiều nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với
người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua
rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những
người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ.
(iii) Theo Michael Porter [46] thì: cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản
chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi
nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là
sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn
đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh bằng giá cả (giảm giá, chiết
khấu,…) hoặc cạnh tranh phi giá cả (quảng cáo, nỗ lực phân phối,…). Cạnh
tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó,
dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo
ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế.
Những năm gần đây, khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng được
nhiều người quan tâm, từ các nhà nghiên cứu, các chính trị gia đến các nhà
quản lý chính quyền và giới doanh nhân. Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm
này vẫn chưa được quan niệm và sử dụng một cách thống nhất. Từ thực tế
tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, năng lực cạnh tranh có thể được định
nghĩa như sau:
8
Theo OECD “năng lực cạnh tranh” được định nghĩa là sức sản xuất ra
thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm
cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát
triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Theo Bạch Thụ Cường [1], từ điển thuật ngữ chính sách thương mại lại
quan niệm năng lực cạnh tranh là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc một
ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác
đánh bại về năng lực kinh tế”.
Theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ [50]: “năng lực
cạnh tranh là khả năng của một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do và
lành mạnh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường
quốc tế”.
Diễn đàn Kinh tế thế giới [51] lại quan niệm “năng lực cạnh tranh là
khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập
bình quân đầu người cao và bền vững”.
Theo Nhóm tư vấn về năng lực cạnh tranh [31]: “Năng lực cạnh tranh
liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi. Năng lực
cạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc
lợi xã hội. Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối
cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc
tăng thu nhập thực tế của người dân”.
Như vậy, có thể kết luận rằng quan niệm về năng lực cạnh tranh hiện
được hiểu rất rộng theo nhiều nghĩa, và chưa có được một khái niệm thực sự rõ
10
1.2.2. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng cạnh tranh của một doanh nghiệp thể hiện khả năng của nó trong
dài hạn. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh tốt khi nó đạt
được các kết quả tốt hơn mức trung bình. Như vậy, đối với doanh nghiệp,
năng lực cạnh tranh là khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiệu quả
hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khả
năng cạnh tranh về giá và năng lực cạnh tranh ngoài giá (thị phần, chất lượng
sản phẩm, năng suất, vv).
Đối với doanh nghiệp có tham gia hoạt động ngoại thương, việc đánh
giá năng lực cạnh tranh có thể thông qua tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ xuất khẩu
(doanh thu xuất khẩu so với tổng doanh thu), thị phần cho từng vùng hay thị
phần tổng thể.
Vị thế trên thị trường quốc tế cũng là một thước đo trực tiếp năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thương mại, năng lực cạnh tranh
có nghĩa là sự duy trì được thành công trên thị trường quốc tế mà không cần
có sự bảo hộ hoặc trợ cấp. Mặc dù chi phí vận chuyển có thể cho phép các
doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trong nước, nhưng năng lực
cạnh tranh lại thường được tính đến nhiều hơn thông qua lợi thế có được nhờ
năng suất cao hơn.
Trong lĩnh vực phi thương mại, năng lực cạnh tranh là khả năng theo
kịp hoặc vượt qua doanh nghiệp tốt nhất trên thị trường về mặt chi phí và chất
lượng của sản phẩm hay dịch vụ. Đo lường năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong lĩnh vực phi thương mại thường khó khăn hơn và thường bao
gồm các thước đo về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, chi phí và chất
lượng. Với các ngành được đầu tư trực tiếp nước ngoài, thước đo năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là phần trăm doanh thu từ nước ngoài
hoặc thị phần của doanh nghiệp trên thị trường vùng hoặc thị trường toàn cầu.
11
Năng lực cạnh tranh của quốc gia được đánh giá thông qua mức độ và
tốc độ tăng của mức sống, mức độ và tốc độ tăng của năng suất tổng thể, và
khả năng thâm nhập của các doanh nghiệp vào các thị trường quốc tế thông
qua xuất khẩu hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài [29].
Sự gia tăng mức sống của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn khi
doanh nghiệp muốn có được lợi thế trong việc tiếp cận các cơ hội của thị
trường thế giới, nhất là trong điều kiện mà thương mại quốc tế và đầu tư nước
ngoài tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với tăng trưởng sản lượng của nền kinh
tế thế giới những năm vừa qua.
Năng lực cạnh tranh của các ngành tham gia thương mại quốc tế có thể
trở thành một đòn bẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Điều này đặc biệt
đúng với các nước nhỏ, khi mà năng lực cạnh tranh tốt cho phép họ vượt qua
được những hạn chế về quy mô thị trường trong nước để khai thác hết những
tiềm năng của ngành.
Một nền kinh tế mạnh phải có những doanh nghiệp mạnh. Năng lực
cạnh tranh cũng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước nhằm
chống lại những đe doạ từ môi trường kinh tế quốc tế, vốn ngày càng trở lên
khốc liệt hơn bao giờ hết. Sự cạnh tranh này đang tạo những sức ép rất lớn lên
mọi chủ thể của nền kinh tế, từ các nhà quản lý, đến lực lượng lao động và
chính phủ. Trong một môi trường mà mọi doanh nghiệp cần phải liên tục cải
thiện năng lực của mình để vượt qua những thách thức từ đội ngũ đông đảo
các đối thủ, mỗi yếu kém về quản lý, lao động hay chính quyền đều làm tăng
nguy cơ thất bại và có thể trở thành thảm hoạ đối với doanh nghiệp.
13
Đối với cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh có nghĩa là khả năng đạt
được các tiêu chuẩn sống cao hơn của người dân. Ở hầu hết các quốc gia, tiêu
chuẩn sống được xác định bởi năng suất theo các nguồn lực được huy động,
sản lượng của nền kinh tế theo đơn vị lao động hay đơn vị vốn sử dụng. Một
mức sống cao cho mọi người dân của quốc gia có thể được duy trì nhờ sự
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên một số tiêu chí như:
Chất lượng của sản phẩm và bao gói: Đối với ngành dược,các doanh
nghiệp thường xuyên phải đổi mới và hoàn thiện về chất lượng , kiểu dáng,
mẫu mã, tạo được những nét độc đáo riêng,
Chủng loại sản phẩm: Đó là danh mục các thuốc, hàm lượng , các dạng
bào chế
Giá của sản phẩm: Chỉ tiêu này được xác định đủ sức mạnh cạnh tranh
với giá cả cùng loại hoặc tương đương của các nước khác, chi ít la đối thủ
trong khu vực và những đối thủ cạnh tranh với mình.
Hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm : Hệ thống phân phối được
coi là một tiêu chí quan trọng dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh:
Hoạt động xúc tiến có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng uy tín
và doang thu. Hoạt động xúc tiến là cần thiết, để công bố sự có mặt của sản
phẩm trên thị trường, thiêt lập chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường, sản
phẩm của doanh nghiệp sẽ được bảo vệ, tạo điều kiện mở rộng thị trường,
duy trì khác hàng thường xuyên và thu hút khách hàng tiềm năng.
1.3.3 Năng lực sản xuất
Chỉ tiêu này được thể hiện qua 2 tiêu chí:
15
Trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp: Nhà xưởng, máy móc,
trang thiết bị,…
Năng suất lao động bình quân theo doanh thu của cán bộ nhân viên:
Được xác định bằng doanh số bán chia cho tổng số cán bộ công nhân
trong sản xuất và kinh.
1.3.4. Năng lực thu hút và đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực (Man) là một trong bốn nguồn nhân lực của doanh nghiệp
(Man, Money, Management, Materia). Nhờ có khả năng thu hút nguồn nhân lực có
trình độ, tay nghề cao mà doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sản
Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn.
Tốc độ luân chuyển vốn:
Vòng quay hàng tồn kho= Giá vốn bán hàng trong kỳ/Hàng tồn kho
bình quân.
Vòng quay tài sản cố định=Tổng doanh thu thuần trong kỳ/Giá trị tài
sản còn lại.
Vòng quay tài sản ngắn hạn = Tổng doanh thu thuần trong kỳ/ tài sản
ngắn hạn bình quân trong kỳ.
Vòng quay tổng tài sản = Tổng doanh thu thuần trong kỳ/Giá trị tài sản
bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh trong kỳ.
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Hệ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần.
Hệ số lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư
1.3.7. Năng lực quản lý, lãnh đạo
Năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp là yếu tố quan trọng cấu
thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có tổ chức tốt doanh nghiệp sẽ
làm tốt
Thể hiện qua:
Hệ thống tổ chức doanh nghiệp
Trình độ đội ngũ lãnh đạo
1.3.8. Đánh giá tổng quan năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
17
Đây là yếu tố mang tính tổng hợp các yếu tố đã trình bầy ở trên. Uy tín,
danh tiếng của doanh nghiệp đòi hỏi một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì
theo đuổi mục tiêu chiến lược đúng đắn của mình.
Ngoài tiêu chí trên còn còn có thể đánh giá “ lợi nhuận của doanh
nghiệp “ ,”Lợi ích người lao động “…, tùy thuộc vào doanh nghiệp cụ thể,
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cà thực trạng của doanh nghiệp.
Trên đây là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói
- Ki: Hệ số quan trọng của tham số i
- Trong đó ∑ Ki = 1.
- n là số chỉ tiêu lựa chọn
1.4. Thực trạng năng lực cạnh tranh và định hướng phát triển
ngành công nghiệp dược Việt Nam
1.4.1 Thực trạng của Việt nam trên thế giới
Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010-2011 của WEF cho
thấy, Việt Nam đạt điểm số năng lực cạnh tranh (GCI) 4,3 điểm, tăng so với mức
4,0 điểm trong báo cáo 2009-2010 và mức 4,1 điểm trong báo cáo 2008-2009.
Cùng với sự cải thiện điểm số này, thứ hạng của Việt Nam trong xếp
hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu đã tăng lên vị trí thứ 59 trong tổng số 139
nền kinh tế được xếp hạng trong báo cáo năm nay, từ vị trí 75/133 trong báo
cáo năm ngoái, và vị trí 70/134 của báo cáo năm 2008.
Như vậy, sau khi bị giảm điểm và xuống hạng trong năm 2009, năng
lực cạnh tranh của Việt Nam đã được cải thiện dưới góc nhìn của WEF.
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu được WEF công bố ngày 10/9 tại
Bắc Kinh, Trung Quốc, trước thềm hội nghị thường niên của tổ chức này diễn
ra tại Thiên Tân.
WEF đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia dựa 3 hạng mục
cho điểm chính, bao gồm 12 trụ cột khác nhau. Hạng mục thứ nhất (các Yêu
cầu cơ bản) gồm 4 trụ cột là thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô,
19
giáo dục cơ bản và chăm sóc y tế. Hạng mục thứ hai (Các nhân tố cải thiện
hiệu quả) gồm 6 trụ cột là giáo dục bậc cao và đào tạo, tính hiệu quả của thị
trường hàng hóa, tính hiệu quả của thị trường lao động, mức độ phát triển của
thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường. Hạng
mục thứ ba (Các nhân tố về sáng tạo và phát triển) gồm 2 trụ cột là trình độ
phát triển của doanh nghiệp, và năng lực sáng tạo.
Trong mỗi trụ cột này lại bao gồm nhiều yếu tố khác nhau để xếp hạng,
chẳng hạn, trụ cột thể chế bao gồm 21 yếu tố, từ quyền sở hữu trí tuệ tới mức
Tuy thăng hạng so với báo cáo năm ngoái, nhưng năng lực cạnh tranh
của Việt Nam theo WEF vẫn thấp hơn so với hầu hết các quốc gia khác trong
khu vực Đông Nam Á như Singapore (5,5 điểm/hạng 3), Malaysia (4,9
điểm/hạng 26), Brunei (4,8 điểm/hạng 28), Thái Lan (4,5 điểm/hạng 38),
Indonesia (4,4 điểm/hạng 44).
Ba quốc gia Đông Nam Á có điểm số và xếp hạng kém Việt Nam là
Philippines (4 điểm/hạng 85) và Cambodia (3,6 điểm/hạng 109), Timor-Leste
(3,2 điểm/hạng 133). Trong khi đó, theo báo cáo của Forbes, cả Philippines và
Cambodia đều được đánh giá cao hơn Việt Nam.
Hai nền kinh tế đứng liền trên Việt Nam trong xếp hạng này là
Azerbaijan và Brazil, hai nền kinh tế đứng liền dưới là Slovak và Thổ Nhĩ Kỳ.
Quốc gia láng giềng Trung Quốc của Việt Nam đạt 4,8 điểm và đứng ở
vị trí thứ 27, thăng 2 hạng so với năm ngoái. Trong khi đó, nền kinh tế lớn
nhất thế giới là Mỹ bị tụt 2 bậc, xuống vị trí thứ 4 từ vị trí thứ 2 năm ngoái.
Cả nhóm dẫn đầu và nhóm “đội sổ” của Báo cáo Năng lực cạnh tranh
toàn cầu 2010-2011 do WEF thực hiện đều không gây bất ngờ. Top 10 từ
dưới lên của báo cáo đa phần là các quốc gia châu Phi, gồm Chad, Angola,
21
Burundi, Zimbabwe, Mauritania, Burkina Faso, Timor-Leste, Mali,
Mozambique và Nepal.
Chad bị WEF xem là quốc gia có năng lực cạnh tranh kém nhất thế giới
năm nay, trong khi báo cáo của Forbes coi quốc gia Nam Mỹ Venezuela mới
là nơi có môi trường kinh doanh tệ hại nhất thế giới. Vị trí của Venezuela
trong xếp hạng của WEF là số 122.
Top 10 đầu bảng xếp hạng của WEF không khác nhiều so với nhận
định của Forbes trong báo cáo “Best countries for business” của tạp chí này.
Dẫn đầu Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010-2011 là đất nước
châu Âu Thụy Sỹ (5,6 điểm), tiếp theo là Thụy Điển (5,6 điểm), Singapore
(5,5 điểm), Mỹ (hơn 5,4 điểm), Đức (5,4 điểm), Nhật (5,4 điểm), Phần Lan
(5,4 điểm), Hà Lan (5,3 điểm), Đan Mạch (5,3 điểm) và Canada (5,3 điểm).