Nghiên cứu phẫu thuật cấy ốc tai điện tử loại đa kênh - Pdf 27


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ TRẦN QUANG MINH

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT
CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ LOẠI ĐA KÊNH

Chuyên ngành: Tai- Mũi- Họng
Mã số: 62720155 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Công trình được hoàn thành tại:
Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
PGS.TS. PHẠM NGỌC CHẤT

Phản biện 1: PGS.TS. Võ Thanh Quang
Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương Hà Nội.

Phản biện 2: PGS.TS. Đặng Thanh
Trường Đại Học Y Huế

Phản biện 3: PGS.TS. Lê Hành

3/1000 trẻ em sinh ra bò nghe kém, khoảng 40-50% nghe kém ở
người > 75 tuổi. Ở Việt Nam chưa có số liệu chính thức báo cáo về
tỷ lệ nghe kém bẩm sinh cũng như mắc phải trong toàn cộng đồng.
Đối với bệnh nhân nghe kém dạng tiếp nhận nặng và sâu,
đặc biệt cả hai tai và không hiệu quả khi đeo máy trợ thính, cấy
ốc tai điện tử loại đa kênh là chọn lựa tốt nhất giúp bệnh nhân
nghe nói được và giao tiếp với xã hội.
Phẫu thuật cấy ốc tai điện tử bắt đầu vào những năm thập
niên 60 của thế kỷ hai mươi, nhờ vào sự phát triển của các thiết bò
ốc tai điện tử đơn kênh. Từ những năm thập niên 70 của thế kỷ hai
mươi, phẫu thuật cấy ốc tai điện tử phát triển rộng rãi hơn nhờ vào
sự phát triển của các thiết bò ốc tai điện tử đa kênh và những trung
tâm cấy ốc tai điện tử ở Úc, Mỹ, Pháp, Thụy só. Ngày 1/8/1978,
Graeme Clark đã cấy ghép thiết bò ốc tai điện tử đa kênh đầu tiên
trên thế giới cho một bệnh nhân tại Úc.
Cấy ốc tai điện tử đa kênh là phẫu thuật đặt một thiết bò có
khả năng biến những âm thanh thành các tín hiệu điện thông qua
các điện cực đặt bên trong ốc tai, từ đó các tín hiệu này được
chuyển đến các tế bào của hạch xoắn rồi theo dây thần kinh thính
giác đến vỏ não. Đây là kỹ thuật giúp bệnh nhân có được cơ hội
2
phát triển ngôn ngữ gần như bình thường, hội nhập với đời sống xã
hội, giải tỏa tâm lý tự ti, mặc cảm mà những người khiếm khuyết
về một giác quan nào đó thường gặp phải.
Tại Việt Nam, các kỹ thuật phẫu thuật tai nhằm mục đích
phục hồi chức năng nghe ngày càng phát triển rộng rãi, trong đó
phẫu thuật cấy ốc tai điện tử cũng được thực hiện rãi rác tại các
bệnh viện đầu ngành chuyên khoa Tai Mũi Họng ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ của các chuyên gia nước
ngoài. Tuy nhiên những khó khăn, tai biến như nguy cơ liệt mặt,

thuật viên Việt Nam có được sự chọn lựa quy trình tối ưu khi thực
hiện phẫu thuật này. Đề tài cũng rất cần thiết vì góp phần giải
quyết một khó khăn trong mở rộng phẫu thuật cấy ốc tai điện tử ở
Việt Nam.
3. Những đóng góp mới của luận án
(1) Đánh giá sự thành công của phẫu thuật dựa trên các tiêu
chí xác đònh về phẫu thuật:
- Điện cực được đặt vào đúng trong ốc tai cho đến vòng
đánh dấu.
- Đáp ứng thần kinh đầy đủ tất cả các điện cực khi kiểm
tra bằng phần mềm Maestro.
- Trở kháng của các điện cực thấp < 5 kOhm.
(2) Xác đònh các yếu tố cải tiến kỹ thuật đưa đến thành công
của phẫu thuật: đường rạch da nhỏ can thiệp tối thiểu, túi cốt mạc
và đường hầm xương giúp cố đònh bộ phận tiếp nhận trong và dây
điện cực.
4
(3) Đề xuất qui trình phẫu thuật cấy ốc tai điện tử loại đa
kênh với các cải tiến kỹ thuật.
4. Bố cục luận án
Luận án gồm 131 trang: Phần đặt vấn đề 2 trang, mục tiêu
nghiên cứu 1 trang, tổng quan tài liệu 33 trang, đối tượng và
phương pháp nghiên cứu 21 trang, kết quả nghiên cứu 28 trang,
bàn luận 43 trang, kết luận 2 trang, kiến nghò 1 trang. Có 54 hình,
7 biểu đồ, 21 bảng và 95 tài liệu tham khảo (8 tài liệu tham khảo
tiếng Việt và 87 tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài).

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.3 Lòch sử phát triển của ốc tai điện tử

viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. Số mẫu thu thập được là 54
bệnh nhân.
 Tiêu chuẩn chọn mẫu (Chỉ đònh phẫu thuật)
Bệnh nhân > 12 tháng.
Nghe kém nặng đến sâu hai tai. (có thể là nghe kém trước
ngôn ngữ hay nghe kém sau ngôn ngữ)
Chức năng thần kinh thính giác bình thường.
 Tiêu chuẩn loại ra (Chống chỉ đònh phẫu thuật)
Chức năng thần kinh thính giác không bình thường.
Không phát triển tâm sinh lý bình thường.
Đối với trẻ nhỏ, cha mẹ không đồng ý phối hợp huấn luyện
các kỹ năng nghe, nói sau phẫu thuật cấy ốc tai điện tử.
Có bệnh lý nội khoa nặng như rối loạn đông máu, bệnh lý
nội khoa không đảm bảo gây mê trong thời gian phẫu thuật.
6
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiến cứu mô tả hàng loạt ca.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu
Tổng số 54 bệnh nhân được thực hiện phẫu thuật cấy ốc tai
điện tử loại đa kênh tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí
Minh từ tháng 7/2009 đến tháng 12/2012. 52 bệnh nhân là trẻ em,
2 bệnh nhân là người lớn. Các bệnh nhân được chia thành 4 nhóm:
< 2 tuổi, từ 2-5 tuổi, từ 6- 15 tuổi, > 15 tuổi, trong đó nhóm từ 2- 5
tuổi chiếm đa số. Nam chiếm 46,3%, nữ chiếm 53,7%.
3.1.2 Tuổi bệnh nhân

Bảng 3.1: Nhóm tuổi bệnh nhân

2
3,7
Bình thường
49
90,7
Tổng cộng
54
100

7
3.1.5. Tiền sử bệnh nhân
Bảng 3.3: Tiền sử của bệnh nhân.

Bệnh sử
Số trường hợp
Tỷ lệ %
Viêm màng não
2
3,7
Vàng da nhân
1
1,8
Nghe kém đột ngột 2 tai
1
1,8
Bình thường
50
92,7
Tổng cộng
54

và không có tổn thương não trong 54 trường hợp (100%).
3.3. Kết quả phẫu thuật
3.3.1. Vò trí tai phẫu thuật
Phẫu thuật tai trái trong 10 trường hợp (18,5%); tai phải
trong 37 trường hợp (68,5%); hai tai trong 7 trường hợp (13%).
3.3.4. Vò trí lỗ mở ốc tai
Ở vò trí cách phía trước dưới gờ cửa sổ tròn 1mm: 52 trường
hợp (96,3%). Mở vào khoang chung (trong trường hợp dò dạng ốc
tai) đặt điện cực thẳng: 2 trường hợp (3,7%).
3.3.5. Kích thước lỗ mở ốc tai
Kích thước lỗ mở ốc tai: 1,1mm với độ lệch chuẩn ± 0,08.
3.3.8. Thời gian phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật tính từ lúc rạch da đến lúc may da
xong, trung bình là 112 phút với độ lệch chuẩn ± 32.
3.3.10. Thời gian hậu phẫu
- Thời gian nằm viện sau phẫu thuật (thời gian hậu phẫu)
trung bình 10 ngày với độ lệch chuẩn ± 1,5.
- Thời gian nằm viện hậu phẫu 7-10 ngày: 38 trường hợp
(70,4%).
9
- Thời gian nằm viện hậu phẫu > 10 ngày: 16 trường hợp
(29.6%).
3.3.12. X quang sau phẫu thuật: (tư thế Stenvers)
- 52 trường hợp (96,3%) điện cực nằm đúng vò trí, xoắn theo
ốc tai trên phim Stenvers sau mổ.
- 2 trường hợp (3,7%) hình ảnh điện cực thẳng tại vò trí ốc tai.
3.3.13. Biến chứng
Bảng 3.11: Tỷ lệ biến chứng.
Loại biến chứng
Số trường hợp

Tổng cộng
54
100

3.4 Kết quả đánh giá ngôn ngữ. (Dựa vào bảng đánh giá)
Chúng tôi cũng phối hợp các chuyên gia thính học trong
việc đánh giá kết quả huấn luyện ngôn ngữ như là một phần đánh
10
giá kết quả phẫu thuật vì nếu đặt điện cực vào đúng vò trí của vòn
nhó thì huấn luyện ngôn ngữ sau phẫu thuật cấy ốc tai điện tử mới
đạt kết quả tốt, bệnh nhân mới nghe nói tốt được.
Bảng 3.15: Kết quả huấn luyện ngôn ngữ.
Kết quả huấn luyện ngôn ngữ
Số trường hợp
Tỷ lệ %
Xuất sắc
11
20,4
Tốt
25
46,3
Khá
13
24,1
Trung bình
5
9,2
Tổng cộng
54
100

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng mẫu nghiên cứu
4.2.1. Về phân loại và mức độ nghe kém
Cả 54 bệnh nhân đều là nghe kém nặng và nghe kém sâu
(điếc đặc), đa số nghe kém > 90 dB, phù hợp với một số tác giả:
John K. Niparko, Brandon Isaacson, Graeme Clark.
4.2.3. CT Scan và MRI trước phẫu thuật
Chúng tôi thực hiện CT Scan độ phân giải cao ở hai tư thế
axial và coronal, độ dày mỗi lát cắt là 1mm tương tự các tác giả:
R.F. Gray, Chaturvedi.
2 trường hợp (3,7%) có CT Scan trước mổ ghi nhận dò
dạng ốc tai là dạng khoang chung (common cavity).
Một số tác giả cũng báo cáo các dò dạng ốc tai trong nghiên
cứu như Craig A. Buchman có 28 ca/ 315 trường hợp cấy ốc tai
điện tử (8,8%).
52 trường hợp (96,3%) trong nghiên cứu của chúng tôi có
các cấu trúc bình thường: tình trạng thông bào xương chũm, độ
12
dày vỏ xương sọ, trần xương thượng nhó, dây VII, xoang tónh mạch
bên, ốc tai, ống tai trong.
Balkany và Dreisbach (1987) đề xuất một bảng phân loại
đánh giá mức độ vôi hóa ốc tai:
* C0: Ốc tai bình thường.
* C1: Không nhìn thấy rõ nội mạc ốc tai, màng xương phần
đáy ốc tai dày lên.
* C2: Có sự hẹp rõ ràng ở phần đáy ốc tai.
* C3: Vôi hóa tắc nghẽn ở phần đáy, giữa hoặc toàn bộ ốc tai.
R.F. Gray và A.Chaturvedi trong các công trình nghiên
cứu cũng nhận thấy khoảng 20% các bệnh nhân có sự cốt hóa ốc
tai ở một mức độ mà CT Scan không phát hiện được.
Adunka và cộng sự cũng nhận thấy hơn 50% bệnh nhân có

Phẫu thuật cấy ốc tai điện tử hiện nay đã được thực hiện
rộng rãi trên thế giới, tất cả các phẫu thuật viên đều có quan điểm
chung về chỉ đònh phẫu thuật: nghe kém dạng tiếp nhận nặng và
sâu hai bên, chức năng thần kinh thính giác bình thường. Chỉ
đònh phẫu thuật của chúng tôi cũng giống với nhiều tác giả trên
thế giới như Hough, Graeme Clark, Briggs, John K. Niparko, P.
Van de Heyning
4.3.2. Kết quả phẫu thuật
4.3.2.1. Vò trí tai phẫu thuật
Việc chọn lựa vò trí tai phẫu thuật thường dựa trên hình ảnh
CT Scan trước phẫu thuật, số bệnh nhân phẫu thuật bên phải
14
nhiều hơn gấp ba lần số bệnh nhân phẫu thuật bên trái do đa số
thuận tay phải (khi hình ảnh CT Scan 2 bên giống nhau).
Trong năm 2011 có 6 bệnh nhân được phẫu thuật cấy ốc tai
điện tử 2 bên cùng lúc. Các tác giả T. Balkany, R. Hoffman, B.
Gantz, R. Peters, R. Livotsky đều nhận thấy lợi ích của phẫu thuật
cấy ốc tai điện tử hai bên so với chỉ cấy một bên rất rõ ràng.
4.3.2.2. Kỹ thuật mổ ít xâm lấn với đường mổ nhỏ
Hiện nay có nhiều loại đường rạch da, tuy nhiên đường rạch
da phải bảo đảm 3 yếu tố:
 Đủ rộng để bộc lộ phẫu trường và vò trí đặt bộ phận tiếp
nhận trong.
 Bảo tồn mạch máu nuôi vành tai.
 Bảo đảm đủ vạt cân cơ che phủ bộ phận tiếp nhận trong.
Chúng tôi nhận thấy những đường rạch da lớn, kéo dài
làm tăng nguy cơ chảy máu và tổn thương các mô dưới da, ngoài
ra còn kéo dài thời gian phẫu thuật và mất thẩm mỹ. Sau năm
2009, chúng tôi đã thực hiện đường rạch da sau tai chỉ với chiều
dài 3-4 cm, tương tự đường rạch da để phẫu thuật tai thông thường.


16
4.3.2.4. Vò trí lỗ mở ốc tai
Hiện nay trên thế giới có 2 phương pháp: đặt qua màng
cửa sổ tròn và đặt qua lỗ khoan mở ốc tai, mỗi phương pháp có ưu
và nhược điểm riêng.
Trong một nghiên cứu về thống kê các phương pháp mở ốc
tai năm 2006, Adunka và cộng sự đã có một số kết quả cho thấy
kỹ thuật mổ của đa số các phẫu thuật viên khu vực Bắc Mỹ là mở
ốc tai ở vò trí trước dưới gờ cửa sổ tròn.
Các kết quả bao gồm:
 83,6 % PTV mở ốc tai tách biệt với màng cửa sổ tròn trong
đó, 76,4 % (chiếm 63,9% tổng số) khoan ở vò trí trước dưới gờ cửa
sổ tròn, 23,6 % (chiếm 19,7% tổng số) khoan ở phía trên gờ cửa sổ
tròn. Theo tác giả, khoan ở vò trí trước dưới gờ cửa sổ tròn an toàn,
ít gây tổn thương màng nền, tiếp cận dễ với vòn nhó tránh đặt lạc
chỗ vào vòn tiền đình gây giảm thính lực.
 16,4 % PTV đặt điện cực xuyên qua màng cửa sổ tròn.
Theo đa số các tác giả trên thế giới, chúng tôi thực hiện mở
ốc tai theo kỹ thuật mở ốc tai lỗ nhỏ ở vò trí trước dưới gờ cửa sổ
tròn. Trong 52 trường hợp (96,3%) có hình dạng, vò trí ốc tai trong
giới hạn bình thường trên CT Scan, chúng tôi đặt điện cực theo kỹ
thuật này đạt tỷ lệ thành công trong cả 52 trường hợp.

Hình 2.7: Lỗ mở ốc tai.
17
2 ca (3,7%) có dò dạng ốc tai hai bên trên CT Scan, đó là dò
dạng khoang chung (common cavity) chúng tôi phải thực hiện đặt
điện cực đặc biệt. Đây là loại điện cực thẳng cũng bao gồm 24
kênh, có chiều dài khoảng 10mm. Trường hợp đầu chúng tôi đặt

4.6. Bàn luận về kết quả và xác đònh các yếu tố cải tiến đưa
đến thành công của phẫu thuật
Tổng hợp các tiêu chí của nhiều tác giả kinh nghiệm
(Graeme Clark, Briggs, John Niparko, Hough, Van de Heyning…)
cũng như qua nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đánh giá kết
quả phẫu thuật dựa trên 4 tiêu chí đã nêu: Tốt, Khá, Trung bình,
Kém, từ đó xác đònh kết quả thành công của phẫu thuật cấy ốc tai
điện tử là:
- Điện cực được đặt vào đúng trong vòn nhó của ốc tai cho
đến vòng đánh dấu.
- Đáp ứng thần kinh đầy đủ tất cả các điện cực khi kiểm tra
bằng phần mềm Maestro.
- Trở kháng của các điện cực thấp < 5 kOhm.
Tất cả 54 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều đạt kết quả
tốt (khi điện cực được đặt đúng vò trí và bệnh nhân không có các
biến chứng nặng, vết mổ lành tốt). Các cải tiến kỹ thuật đóng góp
vào thành công của phẫu thuật: đường mổ nhỏ, tạo túi cốt mạc và
tạo đường hầm xương giúp cố đònh thân bộ phận tiếp nhận trong
và dây điện cực. Các cải tiến về kỹ thuật này giúp giảm tỷ lệ biến
chứng tụ máu, bầm máu cũng như loại bỏ hoàn toàn biến chứng
19
hoại tử vạt cốt mạc (do không cần bóc tách tạo vạt cốt mạc) đồng
thời giảm thời gian phẫu thuật rất nhiều.
4.8. Đề xuất quy trình phẫu thuật cấy ốc tai điện tử đa kênh
Từ 54 trường hợp trong nghiên cứu, chúng tôi đề xuất quy
trình phẫu thuật cấy ốc tai điện tử loại đa kênh như sau:
4.8.1. Chuẩn bò trước phẫu thuật
Bệnh nhân thực hiện các yêu cầu sau:
 Xét nghiệm thính học:
- Tiến hành đo thính lực, OAE, Free- field có hoặc không có

sau tạo túi cốt mạc chứa bộ phận tiếp nhận trong, lưu ý cầm máu
kỹ ở thì này vì sau khi đặt điện cực sẽ tắt máy đốt.
- Bước 2: Thực hiện phẫu thuật sào bào thượng nhó, xác
đònh các điểm mốc: ống bán khuyên ngang, ngành ngang xương
đe và cống Fallope.
- Bước 3: Mở ngách mặt, dùng khoan mài 3 mm lấy bỏ các
thông bào chũm quanh ống bán khuyên ngang và chân tường dây
VII, lưu ý tìm kiếm tế bào Wullstein, nếu có sẽ dễ dàng hơn cho
phẫu thuật viên khi mở vào ngách mặt. Sau khi mở vào ngách mặt
cần xác đònh xương bàn đạp, gân cơ bàn đạp, gờ cửa sổ tròn (là
điểm mốc quan trọng nhất).
- Bước 4: Mở vào ốc tai, dùng khoan Skeeter chỉnh tốc độ
12000 vòng/ giây mở 1 lỗ nhỏ khoảng 1mm ở phía trước dưới của
gờ cửa sổ tròn, cách cửa sổ này khoảng 1mm, khoan mở rộng kích
thước đến khoảng 1,1mm- 1,2 mm. Sau khi mở vào ốc tai, cần
quan sát kỹ màng đáy nằm giữa vòn nhó và vòn tiền đình trước khi
mở rộng lỗ mở ốc tai, tránh làm tổn thương màng đáy. Lưu ý dùng
21
nước ít và hút không để bột xương lọt vào gây bít tắc ốc tai. Dùng
gòn tẩm Adrenaline 0,1 % đặt vào hòm nhó cầm máu trước khi tạo
giường đặt bộ phận tiếp nhận trong.
- Bước 5: Tạo giường đặt bộ phận tiếp nhận trong và đường
dẫn, dùng mũi khoan lớn 6 mm khoan xương ở mặt ngoài xương sọ
để đặt bộ phận tiếp nhận trong. Chọn phần xương tương đối phẳng
để đặt bộ phận tiếp nhận trong. Trong quá trình khoan xương có
thể chảy máu, dùng sáp xương hoặc sử dụng khoan mài lớn không
dùng nước để cầm máu.
Tạo đường dẫn dây điện cực từ bộ phận tiếp nhận trong tới
hố mổ: Dùng khoan 2 mm tạo đường dẫn, độ sâu đường dẫn 2 mm
là vừa đủ. Khi cách bờ hố mổ chũm khoảng 1 cm, tạo đường hầm

trong ốc tai. Trong đó có ba trường hợp chúng tôi phải đặt lần 2 vì
sau lần đặt đầu tiên, các điện cực chưa vào hết trong ốc tai.
 Sử dụng phần mềm Maestro xác đònh trở kháng thấp và có
đáp ứng thần kinh ở tất cả các điện cực.
2. Trong nghiên cứu, chúng tôi có 3 trường hợp (5,6%) bầm
máu đường rạch da phẫu thuật, không có biến chứng nặng.
3. Các kỹ thuật cải tiến để nâng cao tỷ lệ thành công trong
phẫu thuật bằng phương pháp của chúng tôi là:
 Đường mổ nhỏ với kỹ thuật may trong da không cắt chỉ.
 Tạo đường hầm xương giúp cố đònh dây điện cực.
 Tạo túi cốt mạc giúp cố đònh bộ phận tiếp nhận trong.
 Tạo đường mở ngách mặt không quá rộng, tránh gây tổn
thương dây thừng nhó và dây VII (chiều rộng 3,4mm ± 0,08 và
chiều dài 4,5mm ± 0,16)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status