VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
NHIỆM VỤ “XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH HÀ TĨNH”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÊN CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BÃO, LŨ LỤT, HẠN
HÁN ĐẾN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ
HỘI TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 – 2020
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 10 – HĐ SỐ ?)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU v
CHƯƠNG 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH 6
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 6
1.1.1.Vị trí địa lý 6
1.1.2.Địa hình, địa chất 7
1.1.1.Khí hậu 8
1.1.2.Thủy văn, tài nguyên nước 8
1.2.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI 9
1.1.3.Dân số và lao động 9
1.1.4.Kinh tế xã hội 9
1.1.5.Điều kiện xã hội 15
CHƯƠNG 2.
ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN XẢY RA TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TĨNH VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2010 -
2020 18
ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê tần suất bão và ATNĐ tại khu vực từ Nghệ An – Quảng Bình
(1961 – 2010) 18
Bảng 2.2. Phân loại chỉ số hạn hán 24
Bảng 2.3. Mạng lưới chợ tỉnh Hà Tĩnh 33
iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh 6
Hình 2.2. Thống kê các cơn bão đổ bộ vào khu vực Hà Tĩnh (1961 – 2010) 19
Hình 3.3. Gió bão làm đổ lúa 35
Hình 3.4. Ngập lụt do lũ 36
Hình 3.5. Hạn hán ảnh hưởng đến đất trồng nông nghiệp 36
Hình 3.6. Lũ lụt ảnh hưởng tới nguồn lợi thủy hải sản 37
iv
MỞ ĐẦU
Thiên tai thường gây ra nhiều tác động có hại lên môi trường sống của con
người và tài nguyên môi trường. Tuy vậy cho đến nay khi nói về thiệt hại do thiên tai
gây ra người ta thường chỉ nghĩ đến những thiệt hại về tài sản và tính mạng của con
người mà còn chưa chú ý đầy đủ đến những thiệt hại do thiên tai gây ra cho tài nguyên
môi trường. Những thiệt hại do thiên tai gây ra đối với tài nguyên môi trường có quan
hệ chặt chẽ với tính mạng và sức khỏe của người dân, có ảnh hưởng sâu sắc đến sản
xuất và có tác động to lớn đến an sinh xã hội.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đối gió mùa, ở vị trí là một trong 5 ổ bão của khu
vực Châu Á Thái Bình Dương, nơi thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình
thiên tai khác nhau, đặc biệt là các trận bão, lũ lụt, hạn hán Trong những năm vừa
qua, thiên tai đã xảy ra ở khắp các khu vực trên cả nước và đã gây ra nhiều thiệt hại to
lớn về người, về tài sản của nhà nước và nhân dân. Thiên tai cũng gây ra nhiều tổn thất
cho các kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và đã có những tác động sâu sắc đến tài nguyên
môi trường của nhiều vùng.
0
38
’
vĩ độ Bắc, 105
0
11
’
– 106
0
36
’
kinh độ Đông. Ranh giới phía Bắc giáp
với tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp với tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp với tỉnh
Boolikhamxay và KhămMuộn của Lào (với 170km biên giới Quốc gia) và phía Đông
giáp với biển Đông với chiều dài bờ biển hơn 137km.
Hà Tĩnh có vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ với cả nước, mà còn với nước
bạn Lào và vùng Đông Bắc của Thái Lan. Trong tương lai, Hà Tĩnh có điều kiện trở
thành cầu nối của hai miền Nam, Bắc và là nút giao thông quan trọng trên trục hành
lang Đông, Tây của khu vực, với các tuyến giao thông huyết mạch đi qua: Quốc lộ 1A,
đường sắt, đường Hồ Chí Minh, đường biển (trục giao thông Bắc, Nam); Quốc lộ 8 với
cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo và Quốc lộ 12 với cửa khẩu Cha Lo Quảng Bình (trục
hành lang Đông Tây), nối với hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng đã và đang đầu
tư xây dựng.
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện với 262 phường xã, thị trấn, gồm
10 đơn vị huyện, 2 thị xã. Thị xã Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá
của tỉnh nằm cách Hà Nội 341 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Nam theo
Quốc lộ 1A.
6
Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển
tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông phù sa biển trên các vỏ
phong hoá Feranit hay trầm tích biển. Đây là vùng dân cư đông đúc, sản xuất chủ yếu
là cây lúa nước, lạc, đậu, đỗ, khoai lang, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài ra còn có
các nghề phụ như dệt chiếu, dệt vải, đan lát, làm mộc.
1.1.1.4. Vùng ven biển
Nằm ở phía Đông đường QL1A chạy dọc theo bờ biển gồm các xã của huyện
Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình được tạo bởi những
đụn cát, các vùng trũng được lấp đầy trầm tích đầm phá hay phù sa được hình thành do
các dãy đụn cát chạy dài ngăn cách bãi biển. Ngoài ra trong vùng còn xuất hiện các
dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển do kiến tạo của dãy Trường Sơn Bắc. Do nhiều cửa
7
sông, lạch tạo nên nhiều bãi ngập mặn. Dân cư trong vùng có mật độ lớn sản xuất bằng
nghề nông, đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản, làm muối. Đây là vùng có tiềm năng phát
triển nghề biển mạnh, sản xuất lúa vùng này cho năng suất thấp do thiếu nguồn nước
ngọt, đất đai bị nhiễm mặn, chua nhiều, mùa mưa thường bị ngập lụt. Hướng chuyển
đổi về cơ cấu canh tác có thể chuyển dần vùng đất lúa đang canh tác có sản lượng thấp
sang nuôi trồng thuỷ sản.
1.1.1. Khí hậu
1.1.1.5. Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,8
0
C. Nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất đạt
17
0
C. Các tháng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt độ trung bình tháng đạt
28,7 ÷ 29,8
0
C vào tháng VII.
1.1.1.6. Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 85%. Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các
Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s,
15 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m
3
/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã phục
vụ tưới được 47.737 ha/vụ. Tuy nhiên việc sử dụng nước phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt
mùa mưa.
Nước ngầm ở Hà Tĩnh tuy chưa có số liệu điều tra toàn diện nhưng qua các số
liệu đã thu thập được cho thấy mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng
mưa trong mùa. Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông,
miền trung du và miền núi nước ngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, ảnh
hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Về chất lượng nước ở Hà
Tĩnh nhìn chung khá tốt, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng
như sinh hoạt. Riêng đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thuỷ
triều, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân, vì vậy cần kiểm tra độ mặn
nước sông trước khi bơm tưới cho cây trồng. Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở
Sơn Kim huyện Hương Sơn, vị trí thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu
Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh.
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
1.1.3. Dân số và lao động
Dân số tỉnh Hà Tĩnh tính đến 31/12/2005 có 1.289.058 người, chiếm 1,7% dân
số cả nước, trong đó dân số nông thôn chiếm 89,03%, (cả nước là 74%). Mật độ dân
nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Tốc độ tăng GDP khá cao, nông nghiệp phát triển vững chắc. Cơ cấu kinh tế dịch
chuyển theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
vụ. Văn hóa xã hội phát triển mạnh, an ninh trật tự được giữ vững. Đời sống nhân dân
được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.
Năm 2005, GDP tính theo giá hiện hành đạt 5.990,7 tỷ đồng, bằng 0,72% GDP
cả nước. (Tính theo giá 94, GDP năm 2005 đạt 4.063,5 tỷ đồng). Tăng trưởng kinh tế
ổn định, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, cao hơn trung bình cả nước, nhưng
còn thấp hơn so với các tỉnh lân cận và vùng Bắc Trung bộ.
Nhịp độ tăng GDP nông nghiệp khá cao và ổn định ở mức 45%. Trong thời kỳ
20002005, tổng sản phẩm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng, bình quân 4,70%/
năm, cao hơn so với trung bình cả nước (4,0%).
Công nghiệp và xây dựng có nhịp độ tăng khá cao, đạt 14,74%/năm, nhưng do
quy mô của khu vực này còn nhỏ bé, nên đóng góp vào tăng GDP còn bị hạn chế.
Khu vực dịch vụ tăng khá ổn định, cao hơn trung bình vùng Bắc Trung bộ và
cả nước. Trong giai đoạn 2000 - 2005, nhịp độ tăng dịch vụ đạt 9,32%/năm.
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong suốt thời kỳ 2001 - 2005, cơ cấu kinh tế của tỉnh theo GDP có sự chuyển
dịch đúng hướng, phù hợp với xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung của cả nước,
theo xu thế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ
trọng khu vực nông lâm thủy sản, được thể hiện như sau (bảng 2):
Bảng 2: Cơ cấu các ngành kinh tế qua một số năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị tính
Năm
2000
Năm
2001
Năm
Tăng sản lượng một số cây trồng vật nuôi chính:
Trong giai đoạn 2001 - 2005, sản lượng lương thực tăng trên 10%, do tăng diện
tích gieo trồng (tăng vụ) và tăng năng suất cây trồng. Trong đó tăng sản lượng xấp xỉ
5%. Trong cùng thời kỳ, sản lượng cây công nghiệp tăng khá cao, nhưng chủ yếu do
tăng diện tích gieo trồng.
Để đảm bảo tăng giá trị sản xuất ổn định như thời gian qua, cần xây dựng một
số hồ chứa nước đa tác dụng, đồng thời cần áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật sinh
học vào trồng trọt và chăn nuôi trên diện rộng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp:
Năm 2005, nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 81,98%, lâm nghiệp:
7,14% và thuỷ sản chiếm 10,88% tổng giá trị sản xuất.
Trồng trọt
Trong những năm qua ngành trồng trọt đã có những thành công căn bản, năng
suất cây trồng tăng cao, nhất là lúa. Cơ cấu cây trồng được bố trí hợp lý hơn, tỷ trọng
cây lâu năm tăng dần. Tỷ lệ các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt được
sử dụng tăng dần. Tuy vậy, ứng dụng các loại giống cây mới vào sản xuất còn hạn chế,
nhân ra diện rộng còn chậm.
Chăn nuôi
Quy mô và chất lượng đàn gia súc, gia cầm tăng dần, nhưng đóng góp của chăn
nuôi vào thu nhập của người dân tăng chậm.
Giá trị sản xuất chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp có xu
hướng tăng, năm 2001 chiếm 29,73% tăng lên 31,38% năm 2005.
Tuy vậy, trong suốt thời kỳ 1996 - 2005, số trâu bò bình quân trên hộ nông
nghiệp hầu như không tăng, bình quân 1,1 con / hộ.
Tổng đàn lợn năm 2005 có 453 nghìn con, tốc độ tăng bình quân 1996 - 2005 là
3,73%. Hình thức chăn nuôi hộ gia đình có quy mô ngày càng lớn. Đàn lợn tăng khá
nhanh trong giai đoạn 2001 - 2005, do lương thực bình quân đầu người tăng, từ 264kg
năm 1995 lên 378kg/ người năm 2005, và thị trường thức ăn gia súc khá phát triển,
nhưng hiện nay, thị trường tiêu thụ thịt lợn còn nhỏ, do quy mô dân số nhỏ và thu nhập
bình quân đầu người còn thấp, nhất là khu vực nông thôn.
và đóng đồ mộc dân dụng. Các ngành này tăng trưởng chậm do thiếu nguyên liệu
(nguồn nguyên liệu chủ yếu là gỗ lậu).
• Diêm nghiệp
Diêm nghiệp là ngành truyền thống của tỉnh, nhưng hiệu quả sản xuất kinh
doanh thấp. Diêm nghiệp được tập trung sản xuất ở 4 huyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên,
Kỳ Anh và Nghi Xuân với sản lượng muối hàng năm đạt 26.000 tấn, trong đó muối i
ốt 13.000 tấn. Có 4.000 hộ với hơn 8.000 lao động làm diêm nghiệp. Do làm muối thủ
công năng suất thấp, đời sống của người làm muối còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói
nghèo của vùng làm muối chiếm 17% (theo tiêu chuẩn cũ), cao hơn mức trung bình
của tỉnh.
b. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh có hai đặc điểm nổi bật:
(1) Công nghiệp và TTCN của tỉnh còn nhỏ bé đang trong giai đoạn bắt đầu
phát triển. Năm 2005, trên địa bàn của tỉnh có 12.122 cơ sở sản công nghiệp, giải
quyết việc làm thường xuyên cho 28,5 nghìn lao động, bằng 3,9% tổng số lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế cả tỉnh.
12
(2) Trong thời kỳ 1996 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp tăng khá cao, đạt 14,7%/năm theo xu hướng tăng dần.
Nhờ sự nỗ lực của ngành, trong những năm qua công nghiệp đã có nhiều khởi
sắc, là do:
Công nghiệp và TTCN của tỉnh phát triển đúng hướng, dựa trên các thế mạnh
về tài nguyên và lao động. Tỉnh đã khai thác quặng Titan, khai thác vàng, chế biến
dăm gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng cho xuất khẩu và để sử dụng trong nước.
So với 10 năm trước, thiết bị và công nghệ được nâng cấp, trong đó thiết bị khai
thác quặng Titan được đánh giá vào loại hiện đại.
Một số cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản có quy mô khá đã đi vào hoạt
động. Từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh đã có ba doanh nghiệp có quy mô
khá đi vào hoạt động là: nhà máy thủy sản đông lạnh, chế biến dăm gỗ xuất khẩu và
chế biến hoa quả,
Bên cạnh những kết quả nêu trên, lĩnh vực thương nghiệp còn bộc lộ một số
hạn chế chủ yếu như:
Thiếu chiến lược thị trường, đồng thời còn thiếu các sản phẩm dịch vụ mang
bản sắc riêng, khả năng cạnh tranh còn yếu, chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với
giá cả;
Số lượng doanh nghiệp làm thương nghiệp tuy nhiều nhưng chủ yếu là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, vòng quay vốn còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao.
• Du lịch
Trên địa bàn Hà Tĩnh đã hình thành một số điểm du lịch có ý nghĩa Quốc gia và
Quốc tế như khu lưu niệm Nguyễn Du, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang và nhiều
điểm du lịch khác có ý nghĩa vùng và địa phương.
Cơ sở hạ tầng du lịch ngày càng được hoàn thiện, số nhà nghỉ, khách sạn, nhà
hàng ở các khu du lịch tăng về số lượng và chất lượng. Tuy vậy, công tác đảm bảo vệ
sinh môi trường, trật tự an toàn tại các khu du lịch còn nhiền bất cập. Đặc biệt là hệ
thống thu gom, chứa và xử lý sơ bộ chất thải tại các điểm du lịch còn chưa đảm bảo
yêu cầu vệ sinh sạch sẽ, nhiều nơi còn thiếu.
Hiện tại, chưa có những sản phẩm du lịch đặc trưng, hấp dẫn đối với khách du
lịch nên ngày lưu trú của khách còn thấp. Du lịch mang tính mùa vụ, khách du lịch đến
Hà Tĩnh chủ yếu vào các dịp lễ hội, kỳ nghỉ hè. Doanh thu du lịch từ khách Quốc tế
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số doanh thu. Trong hoạt động lữ hành, việc nối các
tour du lịch với các tỉnh và cả nước còn nhiều hạn chế. Hệ thống khách sạn có quy mô
vừa và nhỏ, trang thiết bị thiếu đồng bộ. Sử dụng nhà nghỉ, khách sạn tại các khu du
lịch biển còn thấp, mới đạt 2530% tổng số buồng phòng. Tỷ lệ lao động và cán bộ có
trình độ nghiệp vụ du lịch còn thấp.
1.1.1.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Thực trạng phát triển đô thị:
Hiện nay toàn tỉnh có 14 đô thị, trong đó 1 thị xã loại IV, TP. Hà Tĩnh đã được
công nhận là đô thị loại III, còn 12 thị trấn đô thị loại V. Hầu hết các đô thị là trung
tâm hành chính, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước và thương mại. Dân số đô thị năm
2005 chiếm 10% tổng số dân. Dự báo đến 2020, dân đô thị chiếm 30% tổng số dân,
Do đặc điểm sản xuất của vùng nông thôn nên việc phát triển mở rộng khu dân
cư nông thôn thường gắn chặt với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng địa phương,
thông thường là mở rộng vào đất nông nghiệp xung quanh làng bản.
Trong những năm gần đây cùng với việc phát triển của cơ chế thị trường,
hướng mở rộng khu dân cư có nhiều thay đổi. Đất ở nông thôn được mở rộng theo các
trục giao thông thôn, xã. Vừa giải quyết đất ở gắn với hệ thống dịch vụ.
1.1.5. Điều kiện xã hội
1.1.1.5. Giao thông
Đường bộ:
Hà Tĩnh có 4 đường Quốc lộ chạy qua và 27 tuyến đường tỉnh lộ với tổng chiều
dài 387 km. Nếu tính cả giao thông nông thôn, tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn
tỉnh là 2.917 km.
Tuy đạt được những thành tựu nêu trên, nhưng hiện nay 80% đường bộ được
đánh giá vào loại xấu và rất xấu, nhiều đoạn đường bị ngập trong mùa mưa. Hệ thống
cầu, ngầm còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng.
Đường sắt:
Đường sắt đi qua địa phận Hà Tĩnh dài 70 km (qua Đức Thọ, Vũ Quang,
Hương Khê). Trên tuyến đường sắt có 11 ga, trong đó cá hai ga hàng hóa là Hương
Phố và Phúc Trạch, góp phần trao đổi hàng hóa thuận lợi cho các điểm dân cư lân cận.
1.1.1.6. Thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng đầu tư
xây dựng, đang bước vào thời kỳ phát huy tác dụng. Tuy vậy, do điều kiện địa hình
chia cắt, đất dốc, thuỷ lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong nông
nghiệp, thiếu nước khá trầm trọng vào các tháng gió Tây nam hoạt động mạnh ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng.
1.1.1.7. Giáo dục và đào tạo
Hà Tĩnh là một trong các tỉnh có hệ thống giáo dục phổ thông phát triển nếu so
với cùng mặt bằng mức sống. Hệ thống giáo dục đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
học tập trong tỉnh. Đến năm 2005 tỉnh có 1 trường cao đẳng sư phạm, 4 trường trung
học chuyên nghiệp, 1 trường dân tộc nội trú.
về nhận thức trong mọi tầng lớp nhân dân, góp phần hạn chế các cặp vợ chồng sinh
con thứ 3 trở lên.
Từ năm 1995 đến nay công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng được chú ý mở
rộng về quy mô và nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo chữa các bệnh thông thường,
chủ động phòng chống và kịp thời dập tắt các dịch bệnh xã hội có khả năng lây lan cho
nhân dân. Nhiều chương trình Quốc gia về y tế được quan tâm sát sao, thực hiện có
hiệu quả.
Tuy vậy, ngành y tế tỉnh cần phải nâng cấp các cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu
khám chữa bệnh đang xuống cấp, đầu tư máy móc, thuốc men, đào tạo dược sỹ, bác sỹ
(cấp một) giỏi của một số chuyên khoa thiếu như sản, chụp cắt lớp.
1.1.1.9. Văn hóa xã hội, thể dục thể thao
16
Công tác văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xây dựng làng văn hóa được triển
khai trên diện rộng và đạt kết quả tốt. Phục vụ tốt, kịp thời các ngày lễ lớn của dân tộc
và lễ hội truyền thống ở các địa phương. Đến năm 2005 đã có 78% gia đình văn hóa,
tăng 30% so với năm 2000.
Công tác tôn tạo, bảo quản và giữ gìn các di tích lịch sử, văn hoá được chú
trọng, các thiết chế văn hoá từ huyện đến cơ sở được tăng cường.
Lĩnh vực thông tin, phát thanh và truyền hình đã thực hiện tốt vai trò làm công
cụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đến nay
100% số xã thị trấn được nghe phát thanh và xem truyền hình.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành văn hóa còn thiếu về số lượng và kém về
chất lượng chưa tương xứng với tên gọi của nó. Hiện nay cả tỉnh có 1 trung tâm văn
hóa cấp tỉnh và 11 trung tâm văn hóa huyện, thị nhưng đã xuống cấp, một số trung tâm
còn ở nhà tạm. Vùng sâu, vùng xa đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân còn kém,
thiếu thông tin, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Vì vậy để đem tri thức đến với dân,
công tác văn hoá, thông tin và thể dục thể thao cần được tiếp tục đẩy mạnh trong các
năm tới.
1.1.1.10. Bưu chính viễn thông
Bưu chính viễn thông trong thời kỳ 1996 - 2005 đã có bước phát triển tích cực,
mưa và gây ra sức phá hủy mạnh mẽ với độ cao sóng lớn nhất trong bão đạt 5m.
Theo số liệu thống kê bão từ năm 1961 đến năm 2010 thì ở vùng biển tỉnh Hà
Tĩnh có tới 43 cơn bão và ATNĐ, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8, 9 và 10.
Bảng 2.1. Thống kê tần suất bão và ATNĐ tại khu vực từ Nghệ An – Quảng Bình (1961
– 2010)
Vùng bờ biển T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Nghệ An - Quảng Bình 0 0 0.02 0.08 0.24
0.3
1 0.22 0 0
Trong đó thì cơn bão có tên quốc tế là ROSE đổ bộ vào vùng ven biển vào
tháng 8 năm 1968 là một cơn bão mạnh nhất (cấp 13). Ngoài ra có 4 cơn bão mạnh cấp
12, có tên quốc tế là KIM (7/ 1971), ANITA (7/1973), BRIAN (10/ 1989) và BECKY
(8/1990). Hình 3.1 thống kê các cơn bão đổ bộ vào vùng biển Hà Tĩnh từ năm 1961
đến năm 2010.
18
Hình 2.2. Thống kê các cơn bão đổ bộ vào khu vực Hà Tĩnh (1961 – 2010)
Nguồn:[ TT KTTV QG, ]
Bão đổ bộ vào gây thiệt hại rất lớn cho tỉnh Hà Tĩnh điển hình là cơn bão số 5
năm 2007 hay còn có tên là bão Lekina.
Cơn bão số 5 (có tên là bão Lekina) được hình thành ngày 29 tháng 9 từ một
vùng Áp thấp Nhiệt đới trên khu vực đảo Lu Dông (Philipin). Sáng sớm ngày 30 tháng
9 mạnh lên thành bão và đổ bộ vào đèo Ngang khu vực giữa vùng biển tỉnh Hà Tĩnh
Quảng Bĩnh vào 19h tối ngày 3/10 với sức gió cấp 12, giật trên cấp 12. Đây là cơn bão
mạnh, hướng và tốc độ di chuyển thay đổi nhiều lần, khi vào gần bờ cường độ bão
đã không suy yếu mà còn mạnh lên cấp 12, giật trên cấp 12, gây mưa lũ lớn cho các
tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
19
Do mưa to nhiều ngày liền cùng với địa hình đồi núi đã hình thành đợt lũ quét
lớn và được cho là đợt lũ lịch sử tại các tỉnh miền Trung trong vài chục năm gần đây.
Theo Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, mưa lũ đã làm 37 người chết, 24
trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, như trận lũ
quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khu vực thị xã.
Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi cao xen kẽ với thung lũng và
sông suối thấp.
Lũ quét tạm thời có thể phân chia làm 3 loại:
+ Lũ gây ra do mưa địa phương, tập trung lớn ở các lưu vực tự nhiên (hầu như
chưa có tác động của con người).
20
+ Lũ gây ra do mưa lớn trên các lưu vực đã chịu tác động mạnh của các hoạt
động kinh tế của con người làm mất ổn định hay phá vỡ cân bằng sinh thái lưu vực
(thay đổi lớp phủ, chế độ dòng chảy, lượng trữ hay các đặc tính lưu vực…).
+ Lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình một lượng nước tích do vỡ đập chắn hay các
đập giữ nước, các đập băng
Lũ quét thường xảy ra vào đầu mùa lũ: tháng VI, VII ở Bắc Bộ và tháng X ở
Trung Bộ. Lũ quét thường xảy ra trên các sông suối vừa và nhỏ ở miền núi và trung du
trong phạm vi cả nước, nhưng thường tập trung ở 2 vùng là miền núi và trung du Bắc
Bộ, vùng ven biển Trung Bộ.
Lũ quét thường gây hoạ cho các sông nhỏ và vừa nhưng ít đối với sông lớn. ở
các lưu vực sông suối nhỏ miền núi, nới có điều kiện thuận lợi để hình thành lũ quét
như: địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc long sông/suối lớn, độ ổn định của
lớp đất trên bề mặt lưu vực yếu do quá trình phong hóa mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn
phá… ở những nơi này, khi xẩy ra mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn thì dễ
xảy ra lũ quét.
1.1.1.12. Tình trạng lũ lụt tại Hà Tĩnh
Ngập lụt trong mùa mưa bão:Vùng Kỳ Anh Thường xuyên bị ngập lụt trong
mùa mưa bão là các khu vực có địa hình thấp dọc theo sông Quyền, sông Cái và sông
Vinh.
Trong mùa mưa bão, đa phần khu vực đồng bằng địa hình thấp phía đông bắc
vùng nghiên cứu (theo QL.1A) đều bị ngập, khu vực xã Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Văn, Kỳ
Trinh, Kỳ Hưng Kỳ Thịnh, Kỳ Lợi ,chỉ các nơi tập trung dân cư có địa hình cao là ít
tích, sông và sông lũ. Giữa các bề mặt tích tụ có một số khối núi sót của sườn bóc
mòn tổng hợp, sườn rửa trôi bề mặt. Các bề mặt tích tụ biển gió và các núi sót là các
yếu tố địa mạo cản trở cho việc thoát nước.
Về mặt thủy văn và cấu trúc lưu vực sông
Hà Tĩnh nói chung và vùng Kỳ Anh nói riêng là khu vực có lượng mưa nhiều ở
miền Bắc Việt Nam với lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000mm, cá biệt có
năm trên 3000mm. Lượng mưa phân bố không đều trong năm. Tổng lượng mưa trong
vùng dao động trong khoảng 2000 - 3000mm. Lượng mưa này duy trì được một thảm
thực vật khá dày trên các vùng núi, nhiều rừng còn giữ được các vạt rừng nguyên thủy,
trong đó phải kể đến rừng ở phía nam vùng.
Trong cơn bão số 5, năm 2007 vừa qua vùng Kỳ Anh bị ngập nước, trụ sở
UBND huyện và nhiều nhà dân bị ngập đến 1,0m - 1,5m, đa số các xã trong huyện bị
mất thông tin liên lạc, hàng nghìn căn nhà bị ngập và nước cuốn trôi.
Mạng lưới sông suối trong vùng ở mức trung bình và thưa với các sông chính là
Sông Vinh, Sông Trí, Sông Quyền, Sông Cầu Rạc, Suối Thông Đa số chúng là các
sông nhỏ, lưu vực hẹp, bắt nguồn từ sườn bắc dãy núi Hoành Sơn, dòng chảy dốc với
hướng dòng chảy chủ yếu từ nam lên phía Bắc. Tuy là các sông nhỏ nhưng vào mùa
mưa lũ với các đợt mưa cường độ mạnh, dài ngày, nước sông Quyền và sông Vinh các
sông nhỏ khác chảy dồn rất nhanh vào vùng đồng bằng, nước thoát chậm, gây ngập
lụt, ứ đọng. Đường đi của sông Vinh và sông Quyền gấp khúc và đổi hướng liên tục.
Với đường đi như vậy thì sự thoát nước chậm vào mùa mưa bão là hiển nhiên.
Bề ngang sông Quyền thay đổi, có chỗ bị thu hẹp lại, có chỗ phình to hơn và
dao động từ 100m đến 200m. Tại Cửa Khẩu bề rộng trung bình hiện tại là 300m (bề
rộng tại đây năm 1968 là 600m).
Tại khu vực xã Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hưng và Kỳ Thịnh có di tích dòng chảy
cổ. Sông Quyền và sông Vinh có xu hướng chuyển dòng khá phức tạp.
Về mặt cấu trúc thạch học
Vùng nghiên cứu có cấu trúc địa chất phức tạp. Theo tài liệu đo vẽ, nghiên cứu
địa chất Miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 (ĐojikovA.E và nnk., 1965) thì vùng
thuộc phạm vi của đới Hoành Sơn.
Các hoạt động nhân sinh
Cũng như các vùng khác, nếu so sánh các bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 in năm
1975, 2001, 2005 và qua khảo sát tại thực địa thì các công trình dân sinh ngày càng
tăng theo thời gian và có rất nhiều công trình nhân sinh mới xuất hiện. Đó là hệ thống
đê điều, các công trình thủy lợi (kênh mương dẫn nước, tưới tiêu, các trạm bơm, các
đập nước, các hồ nước nhân tạo), các khu dân cư mới, các khu công nghiệp, đường
giao thông, cảng biển, các công trường khai thác đá Mật độ khá dày của các công
trình kể trên đã góp một phần không nhỏ vào việc cản trở các dòng chảy, làm chậm tốc
độ dòng chảy. Một hoạt động nhân sinh gián tiếp nhưng rất quan trọng làm ngày càng
gia tăng nguy cơ ngập lụt cho các vùng nghiên cứu là hiện tượng phá rừng để lấy đất
canh tác ở các vùng núi và sự khai thác tài nguyên và sự can thiệp quá mức của con
người tới thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái.
23
Xếp theo mức độ quan trọng thì nguyên nhân ngập lụt của vùng nghiên cứu là:
thủy văn, cấu trúc lưu vực sông -> tân kiến tạo -> địa hình -> địa mạo -> hoạt động
nhân sinh -> cấu trúc thạch học.
2.1.2. Hạn hán
1.1.1.13. Định nghĩa và các chỉ số phân hạng
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng, kéo dài, làm giảm
hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy
sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước ngầm dưới đất
v.v
Để đánh giá mức độ hạn hán người ta dùng chỉ số khô hạn. Chỉ số khô hạn
tháng là tỉ lệ giữa lượng bốc hơi tháng trên lượng mưa tháng. Chỉ số khô hạn năm là
lượng bốc hơi năm trên lượng mưa năm.
Người ta dùng chỉ số khô hạn tháng để phân định mùa khô, mùa ẩm cho từng
khu vực và chỉ số khô hạn năm để phân vùng khô hạn theo lãnh thổ.
Tại vùng biển và ven biển Việt Nam chỉ số khô hạn phổ biến là 0.2 - 0.8. Những
nơi có chỉ số khô hạn dưới 0,2 là các rốn mưa Trà My (0.17). Những nơi có chỉ số khô
hạn trên 1.0 là Nha Hố (2.44), Cam Ranh (1.54), Phan Thiết (1.27), Nha Trang (1.04).
chảy môi trường, gây khó khăn cho giao thông đường thủy, ảnh hưởng đến nơi sinh
sản và sống của các loài động vật thủy sinh làm giảm nguồn lợi thủy sản. Hạn hán cạn
kiệt dòng chảy làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gây xâm nhập mặn tại các
24