Vấn đề về con người trong triết học - Pdf 27


1

DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU
LUẬN VÀ THUYẾT TRÌNH
HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2014 – 2015
Nhóm số: ………
Tên đề tài: Vấn để về con người và bản chất con người
STT
Theo
Ds
Lớp
HỌ VÀ TÊN
(kèm theo số
ĐTDĐ ở dưới họ
và tên)
TIÊU LUẬN
THUYẾT TRÌNH
ĐIỂM
TỔNG
KẾT
(A+B)
/2
Tỉ
lệ
%
Mức
độ
hoàn
thành
Điểm


……………………………………………………………………………………………………………………

Ngày…. Tháng…. năm 20….
Giáo viên
3

Mục lục
I. Mở đầu 4
1. Đặt vấn đề 4
2. Mục tiêu đề tài 4
II. Kiến thức cơ bản 5
1. Khái niệm con người, con người là một động vật 5
a. Khái niệm con người 5
b. Con người là một động vật đúng hay sai? 9
2. Sự thống nhất giữa 2 mặt trong con người 9
a. Mặt sinh vật 9
b. Mặt xã hội 11
c. Hai mặt trong mõi con người 12
3. Bản chất của con người theo quan điểm triết học MAC 14
a. Bản chất con người 14
b. Luận điểm của MAC về bản chất con người 18
4. Ý nghĩa của phương pháp luận và liên hệ 21
a. Ý nghĩa phương pháp luận 21
b. Liên hệ trong cuộc sống hằng ngày 22
III. Kiến thức vận dụng 32
1. Bình luận câu nói: “Cha mẹ cho em thành người, thầy cô cho em cái chữ” 32
a. Nghĩa đen và nghĩa bóng 32

phát từ vấn đề con người và quay trở về đấu tranh giải phóng con
người.
Nghiên cứu vấn đề con người theo quan điểm triết học Mác Lênin
giúp chúng ta có cơ sở lý luận đúng đắn để nhận thức và thực hiện tốt
chính lược con người của Đảng ta trong công cuộc đổi mới mọi mặt
của đời sống con người trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2. Mục tiêu đề tài
Nắm vững bản chất con người theo quan điểm triết học Mác Lênin.
Hiểu rõ mối quan hệ cá nhân xã hội.

5

Thấy rõ được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch
sử đồng thời thấy được vai trò đặc biệt quan trọng của lãnh tụ, vĩ nhân
trong lịch sử?
Từ đó giúp ta có cơ sở lý luận để quán triệt và thực hiện quan điểm
của Đảng ta về chiến lược con người trong xây dựng và bảo vệ tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
II. Kiến thức cơ bản
1. Khái niệm con người, con người là một động vật
a. Khái niệm con người
 Trong triết học phương Đông
Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch
sử triết học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính,
bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con
người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do? Đây cũng
chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan – một nội dung cấu thành
thế giới quan triết học.
Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề
này hay vấn đề kia. Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà

Lạp trải qua giai đoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay,
những vấn đề triết học về con người vẫn là một đề tài tranh luận chưa
chấm dứt.
Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề
triết học về con nngười trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm
khác với nền triết học phương Đông. Nhìn chung, các nhà triết học
theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn giác độ khoa học tự
nhiên để lý giải về bản chất con người và các vấn đề khác có liên
quan. Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra
quan niệm về bản chất vật chất tự nhiên của con người, coi con người

7

cũng như vạn vật trong giới tự nhiên không có gì thần bí, đều được
cấu tạo nên từ vật chất. Tiêu biểu là quan niệm của Đêmôcrit về bản
tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn của con người.
Đây cũng là tiền đề phương pháp luận của quan điểm nhân sinh theo
đường lối Êpiquya Những quan niệm duy vật như vậy đã được tiếp
tục phát triển trong nền triết học thời Phục hưng và Cận đại mà tiêu
biểu là các nhà duy vật nước Anh và Pháp thế kỷ XVIII; nó cũng là
một trong những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của
Phoiơbắc. Trong một phạm vi nhất định, đó cũng là một trong những
tiền đề lý luận của quan niệm duy vật về con người trong triết học
Mác.
Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm
trong lịch sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý
tính của con người. Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm
của Platôn thời Cổ đại Hy Lạp, Đêcáctơ trong nền triết học Pháp thời
Cận đại và Hêghen trong nền triết học Cổ điển Đức. Do không đứng
trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý

đây:
Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của
giới tự nhiên, cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh
bằng sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc
biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài.
Thứ hai, con người là bộ phận của giới tự nhiên do đó những biến
đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc
gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con người và xã hội
loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người với giới
tự nhiên; ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người luôn tác
động trở lại môi trường tự nhiên và làm biến đổi môi trường tự nhiên.

9

Tuy nhiên, con người cũng không đồng nhất với các tồn tại khác
của giới tự nhiên, nó có đặc tính xã hội. Bản tính xã hội của con người
là bản tính đặc thù của nó trong quan hệ với các tồn tại khác của giới
tự nhiên. Bản tính xã hội của con người thể hiện ở các mặt sau:
Một là, nguồn gốc hình thành con người không chỉ là quá trình tiến
hóa của giới tự nhiên mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động.
Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật
để tiến hóa và phát triển thành người.
Hai là, sự tồn tại và phát triển của con người luôn bị chi phối bởi
các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thì mỗi con
người cũng biến đổi và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân lại trở
thành tiền đề cho sự phát triển xã hội.
Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong
tính thống nhất của nó, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến
đổi lẫn nhau, nhờ đó tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con
người trong quá trình làm ra lịch sử của chính mình. Vì vậy, để lý giải

động vật chỉ có thể tách rộng ra trong xã hội mà thôi. Con người là
động vật duy nhất như lao động có mục đích, nên đã thoát ra khỏi
tình trạng loài vật, nhưng khi thoát ra khỏi giới tự nhiên như thế,
không có nghĩa là con người đã độc lập tuyệt đối đối với giới tự
nhiên. Không bao giờ có độc lập tuyệt đối của con người với giới tự
nhiên. Ngay cả khi chúng ta tưởng như mình bị tách khỏi giới tự
nhiên thì ngay lúc đó chúng ta cũng vẫn có mối liên hệ trực tiếp nhất
với tự nhiên vì xương, thịt, máu và bộ não của chúng ta là thuộc về
tự nhiên, nằm trong giới tự nhiên như Ăngghen nói.
Do con người cần phải ăn để sống, và có cấu trúc tương tự sinh
vật nên vẫn còn mang phẩm chất sinh vật.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự
nhiên. Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong

11

nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong
con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì
vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con
người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát
triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên.
b. Mặt xã hội
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức
vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện
thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật
chất. "Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn
giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người
bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu
sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến
do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu

khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội
của nó. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt
con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ
lao động, là "một động vật có tính xã hội", hoặc con người động vật
có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh
một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa
nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức
vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện
thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật
chất. "Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn
giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người
bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu
sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến
do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu

13

sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính
đời sống vật chất của mình".
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay
đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn
con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên". Tính xã hội của
con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản
xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người.
Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của
cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và
phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao
động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người,
đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

trọng nhất của thế giới từ trước đến nay. Đó là vấn đề mà luôn được
các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc
nhất. Không những thế trong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa
và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà nghiên
cứu cổ đại đặt biệt chú ý đến. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y
học, triết học, xã hội học… Từ rất sớm lịch sử đã quan tâm đến con
người và không ngừng nghiên cứu về nó. Mõi lĩnh vực nghiên cứu
đó đều có ý nghĩa riếng đối với sự hiểu biết và lợi ích cho con người.
Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác. Lĩnh vực triết học lại có nhiều
mâu thuẩn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu
tranh khong biết khi nào dừng. Những lập trường chính trị trình độ
nhận thức và tâm lý của những người nghiên cứu khác nhau và do
đó đã đưa ra những tư tưởng, hướng giải quyết khác nhau.
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học đều tự hỏi:
Thực chất con người là gì và để trả lời câu hỏi đó phải giải quyết
hàng loạt mâu thuẩn trong chính con người. Khi phân tích các nhà

15

triết học cổ địa coi con người là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ
bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ.
Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể muôn loài.
Chỉ đứng sau thần linh, con người được chia làm hai phần: phần xác
và phần hồn. Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng: phần hồn
là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối mội hoạt động của phần
xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì
ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn,
không có linh hồn nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không
ngừng được phát hiện. Càng ngày các nhà triết học tìm ra được bản
chất con người và không ngừng khắc phục lý luận trước đó.

xét con người một cách trừu tượng. Đó là kết quả của việc tuyệt đối
hoá phần hồn thành con người trừu tượng, tự ý thức còn chủ nghĩa
duy vật trực quan thì tuyệt đối hoá phần xác thành con người trừu
tượng, sinh học. Tuy nhiên họ vẫn còn nhiều hạn chế, các quan niệm
nói trên chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người.
Sau này chủ nghĩa Mac đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn
chế đó, đồng thời phát triển những quan niệm con người đã có trong
các học thuyết triết học trước đây để đi đến quan niệm về con người
thiện thực, con người thực tiễn cải tạo tự nhiên xã hội với tư cách là
con người hiên thực. Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên và xã
hội đồng thời vừa là chủa thể cải tạo tự nhiên.
 Kết luận:
Theo C.Mác, “Bản chất con người không phải là một cái trừu
tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó,
bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(C.Mác và
Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3,
tr.11).

17

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác
nhau và bản chất, “bản tính người” của con người song về cơ bản
những quan niệm đó đều mang tính phiến diện, trừu tượng và duy
tâm thần bí, tuyệt đối hóa phương diện tự nhiên của con người, xem
nhẹ việc lý giải con người từ phương diện lịch sử xã hội.
Quan điểm của C.Mác đã khắc phục được hạn chế của quan điểm
duy vật siêu hình về con người, trong khi thừa nhận bản tính tự
nhiên của con người còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ
lịch sử xã hội, từ đó phát hiện ra bản tính xã hội của nó, hơn nữa
chính bản tính xã hội của con người là phương diện bản chất nhất

là một vấn đề không thể thiếu được của thế giới quan Mác – Lênin.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin con người là khái niệm chỉ những
cá thể người như một chỉnh thể tỏng sự thống nhất giữa mặt sinh học
và xã hội học của nó. Con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài
từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Do vậy nhiều quy luật sinh vật học
cùng tồn tại và tác động đến con người. Để tồn tại vơi tư cách là một
con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uống… Điều đó
giải thích vì sao Mác cho rằng con người trước hết phải ăn, mặc, ở
rồi mới làm chính trị.
Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tính sinh học của con người
thì không thể giải thích được bản chất của con người. Không chỉ có
“con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” mà thực ra quan
điểm của Mác là một quan điểm toàn diện.
Mác và Anghen nhiều lần khẳng định quan điểm của những nhà
triết học đi trước rằng. Con người là một bộ phận của giới thự nhiên,
là động vật xã hội, nhưng khác với họ, Mác, Anghen; xem xét mặt tự
nhiên của con người như ăn, ngủ, đi lại, yêu thích… Không còn
hoàn toàn mang tính tự nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá.

19

Mác viết: “bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con
người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội” con người là sự
kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác đã nhiều lần so
sánh con người với vật, so sánh con người với con vật gần giống con
người… Và để tìm ra sự khác biệt đó, Mác đã chỉ ra nhiều chổ chỉ
có ở con người làm tư liệu sinh hoạt của mình, con người thay biến
đổi tự nhiên theo quy luật của tự nhiên, con người là thucows đo của
vạn vật, con người sản xuất ra công cụ sản xuất… Luận điểm xem

nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính con
người và quyết định quan hệ giữa người với người trong sản xuất.
Sản xuất ngày càng phát triển tính chất xã hội hoá ngày càng tăng.
Việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự
phát triển mới của nền sản xuất do nó mang lại sẽ cần đến những
con người hoàn toan mới. Những con người có năng lực phát triển
toàn diện và đến lượt nó, nền sản xuất sẽ tạo ra những con người
mới, làm nên những thành viên trong xã hội, có khả năng sử dụng
một cách toàn diện năng lực phát triển của mình theo Mác “phát
triển sản xuất vì sự phồn vinh xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho
mõi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn
diện là một quá trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã
hội” để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện hơn nữa.
Mác coi sự kết hợp chặc chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển
con người là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cải tiến xã hội.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất
mà còn là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực
lương sản xuất của xã hội mà hơn nữa, con người còn đóng vai trò là
chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản

21

xuất vật chất con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử của xã
hội loài người. Từ quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của
lực lượng sản xuất xã hội có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản
chất con người, coi như là mục đích tự thân. Bơi vậy theo Mác ý
nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triể
con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm chất con người,
giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người để con
người được sống với cuộc sống đích thực. Và bước quan trọng nhất

người tới sự phát triển tự do và toàn diện.
 Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của
quần chúng nhân dân và vai trò của các cá nhân đối với tiến trình
lịch sử đã cung cấp một phương pháp luận khoa học quan trọng cho
hoạt động nhận thức và thực tiễn:
Thứ nhất, lý giải một cách khoa học về vai trò quyết định lịch sử
của quần chúng nhân dân, chống những quan điểm sai trái của chủ
nghĩa duy tâm đồng thời đem lại phương pháp luận khoa học trong
việc nghiên cứu, đánh giá vai trò của cá nhân, của vĩ nhân, của lãnh
tụ trong cộng đồng xã hội.
Thứ hai, cung cấp phương pháp luận khoa học để các đảng cộng
sản phân tích các lực lượng xã hội, tổ chức xây dựng lực lượng quần
chúng nhân dân trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tập
hợp đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân để xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội.
b. Liên hệ trong cuộc sống hằng ngày
Trong thế giới có vô vàn các sự vật, các hiện tượng và các quá
trình khác nhau. Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại, tác động,
ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Trong

23

lịch sử triết học, để trả lời câu hỏi đó, ta thấy có những quan điểm
khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình
cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này
tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự
ràng buộc và quy định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn
nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên.
Tuy vậy, trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có

thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế.
Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng đang hàng ngày chịu sự tác
động của các sự vật hiện tượng khác (như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm,
áp suất không khí , đôi khi cũng chịu sự tác động của con người).
Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên dù muốn
hay không cũng luôn luôn bị tác động của các sự vật, hiện tượng
khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân. Ngoài sự tác động của
tự nhiên, con người còn tiếp nhận sự tác động của xã hôị và của
những người khác. Chính con người và chỉ có con người mới tiếp
nhận vô vàn các mối mối liên hệ. Do vậy, con người phải hiểu biết
các mối quan hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình, giải
quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã
hội và bản thân con người .Chỉ có liên hệ với nhau sự vật hiện tượng
mới tồn tại, vận động, phát triển. Ví dụ: con vật thì có mối liên hệ
giữa kẻ săn mồi và con mồi : con hổ với con nai…, nếu không có
mối liên như vậy thì con vật không thể tồn tại. Còn con người thì có
các quan hệ xã hội giữa người này với người khác có như vậy con
người mới tồn tại, vận động và phát triển.
Mối liên hệ có tính phổ biến
Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng
khác. Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.Xuất

25

phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới mỗi sự vật, hiện tượng
là một thể thống nhất, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một
cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhât. Không chỉ
trong tự nhiên, mà cả trong xã hội, lẫn trong trong tư duy, các sự vật
hiện tượng cũng liện hệ tác động qua lai lẫn nhau. Không thể tìm bất
cứ ở đâu, khi nào các sự vật, hiện tượng lại tồn tại một cách cô lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status