BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HỒ THỊ MỸ TÌNH
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
FRIEDRICH NIETZSCHE
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
TRIẾT HỌC
Huế, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HỒ THỊ MỸ TÌNH
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
FRIEDRICH NIETZSCHE
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN TIẾN DŨNG
Huế, 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong
luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong
bất kỳ trong một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Hồ Thị Mỹ Tình
Con kính cảm ơn Ba Mẹ và gia đình, những
thân phận con người, sự tồn tại của con người càng trở thành vấn đề nóng
bỏng trong triết học. Friedrich Nietzsche – một trong những triết gia dám
tạo điểm nhấn, dám đưa ra những quan điểm trái chiều với quan điểm
truyền thống trong xem xét và đánh giá con người. Friedrich Nietzsche,
nhà tư tưởng Đức, người gây chấn động bằng tuyên bố “Chúa đã chết”.
Và con người muốn hiện hữu với tư cách là chủ thể của chính mình,
không tha hóa với chính mình, thì phải biết cởi bỏ những giá trị ảo quanh
mình. Những tư tưởng về con người và những chủ đích mà con người cần
vươn tới của Friedrich Nietzsche trở thành tiền đề quan trọng của chủ
nghĩa hiện sinh, trong đó con người hiện hữu với tư cách là một nhân vị.
Cùng chủ nghĩa hiện sinh, Friedrich Nietzsche đã tạo ra một phong cách
sống mới, một cách nhìn mới về vấn đề con người.
Vấn đề con người là một vấn đề triết học có ý nghĩa đặc biệt, do
vậy, việc nhìn nhận, đánh giá vai trò và vị trí của con người luôn là một
vấn đề cấp thiết trong mọi thời đại. Những năm gần đây, thế giới nói
chung, Việt Nam nói riêng, quan niệm coi con người là trung tâm trở
thành cách nhìn, cách nghĩ có sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của đông
đảo các nhà lý luận và các nhà chính trị xã hội. Chúng ta, mỗi cá nhân
đang sống và cống hiến, nhận thức rõ việc phát huy năng lực của chính
bản thân đồng nghĩa với việc phát huy nguồn nhân lực cho đất nước, lấy
con người làm trung tâm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
một việc làm đặc biệt có ý nghĩa và hết sức cấp thiết. Tìm hiểu, khai thác
tư tưởng, quan niệm về con người của Friedrich Nietzsche để nhìn nhận rõ
hơn, thiết thực hơn vấn đề con người, đồng thời chọn lọc những yếu tố
tích cực, góp phần hữu ích vào việc phát huy mạnh mẽ hơn tiềm năng sức
lực, trí lực của con người trong thời đại mới.
Với ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài
“Vấn đề con người trong triết học Friedrich Nietzsche” làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp cao học ngành triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
trong “Zarathustra đã nói như thế” [32]; “Mười nhà tư tưởng lớn thế
giới” [34] của Vương Đức Phong và Ngô Hiếu Minh; “Phridrich
Nitsơ” [2] của Lưu Căn Báo; “Câu chuyện triết học” [23] của Bryan
Mage; “Nhập môn triết học phương Tây” [36] của S. E. Stumpt và
D. C. Abel; “Lịch sử triết học và các luận đề” của
S. E. Stumpt [37];“Hành trình cùng triết học” của T. Honderich [19].
Ở Việt Nam sau năm 1990, việc nghiên cứu và giới thiệu Nietzsche
hướng vào hai bộ phận hợp nhất tạo thành tư tưởng Nietzsche là văn học
và triết học, có các công trình như: Trần Mai Nhi với “Những trường hợp
giữa F. Nietzsche và văn học” [28]; “Nhân vị - một thành tố trung tâm
của chủ nghĩa hiện sinh” [29]; Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng với
“Lược khảo triết học phương Tây hiện đại” [10]; Nguyễn Tiến Dũng với
“Lịch sử Triết học phương Tây” [9], “Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử và sự
hiện diện ở Việt Nam” [8]; “Triết học Nítsơ và cuốn sách viết về triết học
Nítsơ đầu tiên ở Việt Nam” [7]; Trần Thiện Đạo với “Chủ nghĩa hiện sinh
và thuyết cấu trúc” [11]; Nexmeyanov E.E với “Triết học hỏi và
đáp” [24]; Hoàng Đức Bình với “F. Nietzsche: con người và tác phẩm
Zarathustra đã nói như thế” [3]; Hà Lê Dũng với “Sự ảnh hưởng của
triết học F. Nietzsche đối với chủ nghĩa hiện sinh vô thần” [6]…
Trong các công trình nghiên cứu trên, một số đi vào nhìn nhận và
đánh giá tổng quát về cuộc đời và tư tưởng của Nietzsche, một số thì tập
trung đi sâu phân tích một khía cạnh về con người và lập trường triết học
của Nietzsche. Có thể khẳng định, cho đến nay, ở Việt Nam chưa có công
trình nào trùng với tên của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Sau khi hoàn thành, luận văn phải đạt được mục đích là:
+ Làm rõ quan điểm của Nietzsche về con người.
+ Chỉ rõ những luận điểm có thể kế thừa và những tư tưởng cần
phê phán.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE
1.1. Bối cảnh thời đại
Marx viết: “Các nhà triết học không phải là những cây nấm mọc trên
đất. Họ là những sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình, mà những tinh
lực quý giá nhất và khó thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết
học” [27, tr.9]. Vâng, mỗi thời đại sinh ra những anh hùng, những tư tưởng
nảy mầm trên từng mảnh đất của những con người sống trong thời đại ấy. Tất
cả chính là những tinh túy, là niềm trăn trở của các bậc vĩ nhân, dẫn nhân loại
bước lên những nấc thang mới của sự phát triển.
Một tất yếu lịch sử ở thế kỷ XIX là sự ra đời của triết học Mác, khi
châu Âu đang trong giai đoạn đầy biến động về tất cả mọi mặt của những vấn
đề nóng bỏng của thời đại, đó là: Thân phận con người sẽ như thế nào? Xã
hội loài người sẽ đi về đâu?
Người ta nói rằng, thế kỷ XIX là thế kỷ của những biến đổi mạnh mẽ
của tinh thần lẫn vật chất, từ chính trị đến kinh tế, khoa học – kỹ thuật ở châu
Âu. Làm thay đổi toàn bộ bộ mặt, cũng như đã phủ lên đời sống của con
người châu Âu một lớp áo mới – một sự chuyển đổi mới mẻ về chiều sâu tâm
lý, quan niệm sống và cảm xúc.
Thế kỷ mà chủ nghĩa tư bản xác lập địa vị thống trị của mình, dần
chuyển sang chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của nó. Chủ nghĩa tư bản
tạo ra một lực lượng sản xuất đồ sộ gấp nhiều lần lực lượng sản xuất của tất
cả các thế hệ trước gộp lại. Nền sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao,
kéo theo sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn, sự phân hóa giàu nghèo vì thế
cũng ngày càng gay gắt.
Thế kỷ XIX cũng là thế kỷ mà sự phát triển của khoa học liên tiếp
phục vụ cho sự phát triển của sản xuất. Những phát minh về hóa học, vật lý
thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo phát triển, đưa lại bước tiến mới chưa từng
thấy về năng suất lao động, sản phẩm tăng đột biến, cơ sở kỹ thuật của nền
sản xuất đổi mới, hiện đại. Như ngọn lửa bỗng dưng bừng sáng vào những
năm 40 của thế kỷ XIX, nước Anh trở thành cường quốc của kỹ thuật. Sự
làm cho chính cuộc sống bị tiêu diệt. Lúc này, các thành tựu mà con người
tạo ra gần như quay lại chống con người. Niềm tin bị khủng hoảng, khi mọi
thứ ngày càng hiện đại thì chính con người ngày càng bị tha hóa: “Sự đảo lộn
liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng của tất cả các quan hệ xã
hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với
tất cả các thời đại trước. Tất cả các quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả
tràng quan niệm về tư tưởng được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan
hệ ấy đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế, những quan hệ đó
chưa kịp cứng thì đã già cỗi ngay. Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trì
trệ đều tan biến như mây khói. Tất cả những gì thiêng liêng đều bị ô uế và rút
cuộc mọi người đều phải buộc nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và
những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo” [25, tr.601]. Bản chất
của chế độ mới ngày càng lộ liễu.
Từ thành tựu rực rỡ của khoa học, cả châu Âu đề cao lý tính, mọi
người cần đến chân lý khoa học hơn là những gì có trong thần thoại về cuộc
sống mà ở đó có vẻ như dễ sống hơn. Bằng việc vận dụng những quy luật của
lý tính, có thể quản lý được tự nhiên và phát triển không hạn chế các năng lực
tinh thần và thể chất của con người. Châu Âu cận đại là thời đại chủ nghĩa lý
tính thịnh hành, “tri thức là sức mạnh” của Bacon vang dội lên chín tầng
mây, hầu như tri thức là tâm linh của con người. Một thời gian, loài người trở
thành đức Chúa trời chân chính của thế giới. Với loài người, lúc ấy như vừa
thoát ra khỏi tín ngưỡng “Thuyết chúa sáng tạo thế giới”, như là đã được giải
phóng. Loài người lúc này không một chút lo lắng, lòng đầy tin tưởng khi
sống trong một thời đại đầy hy vọng. Sự tin phục ở khoa học của con người
đã thay thế tín ngưỡng Tôn giáo, họ hiểu rằng khoa học và lý tính có thể đem
lại hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, sau khi lịch sử bước vào ngưỡng cửa
của thế kỷ mới, đặc biệt sau khi trải qua hai cuộc Đại chiến thế giới, người ta
phát hiện, khoa học không phải là vạn năng, sự phồn vinh vật chất đơn thuần
chỉ có thể tạo ra hạnh phúc giả tạo và biến con người thành nô lệ của máy
móc, con người dần bị tha hóa. Châu Âu lún sâu vào cuộc khủng hoảng tín
nhà tư tưởng lớn thời cận đại. Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 ở
Roecken, miền Trung nước Đức, tức miền Thuringe, nơi phát xuất phong
trào cải cách. Sinh ra trong buổi giao thời thế kỷ từ chủ nghĩa tự do quá độ
lên chủ nghĩa đế quốc, nhà triết học giàu tính chiến đấu này đã rất nhạy
cảm trước sự thối nát của thời cuộc. Ông say mê khai thác, tìm tòi, xác
định lại ý nghĩa cuộc sống trong khi các giá trị truyền thống đang dần mất
đi. Cha là mục sư, nên ông được giáo dục rất cẩn thận về trí dục và đức
dục.
Friedrich Nietzsche sinh đúng ngày sinh nhật của Quốc vương, bố
của ông rất yêu mến và đặt nhiều niềm tin vào người con của mình.
Nhưng cuộc đời của Nietzsche đã đi ngược lại với mong ước của bố mẹ
và gia đình. Trong một trang của cuốn Sự vật nhân bản Nietzsche viết:
“Những xung khắc không giải quyết giữa đức tính và lòng tin ở cha mẹ đã
tồn tại nơi đứa con và tạo ra lịch sử cả cuộc đau khổ nội tâm của nó”.
Từ mấy thế hệ gia đình của Nietzsche là thành lũy sùng đạo Kytô
giáo, kính Chúa, là môi trường kết hợp một nền văn hóa rộng rãi với một
thứ luân lý khắt khe và một lòng tôn trọng với các đức tin Tôn giáo. Ông
nội của Nietzsche từng làm giám sát khu giáo dân, là một tín đồ sùng đạo
tài hoa. Bố là Karl Ludwig Nietzsche sinh năm 1813, là một người có tài
năng âm nhạc siêu việt, biểu diễn dương cầm và sáng tác các ca khúc,
được Quốc vương Phổ yêu mến. Sau Nietzsche còn có một em gái
Elisabeth sinh năm 1846, và một em trai Ludwig Joseph sinh năm 1848.
Nietzsche tự hào về tổ tiên của mình là quý tộc Ba Lan, dòng máu mang
đậm tính dân tộc.
Nietzsche bị khuyết tật bẩm sinh, ốm yếu, đầu to, người nhỏ, mắt
lác. Bị chứng bệnh đau đầu, mắt kém mãn tính của bố di truyền lại nên
ông nếm đủ sự khinh thường và chế nhạo của thiên hạ, tâm hồn ông đã
sớm thấy sự cô đơn và u uất. Bố mất lúc Nietzsche vừa mới lên năm vì
căn bệnh nhũn não. Nỗi đau chưa nguôi, thì mấy tháng sau, em trai chưa
đầy hai tuổi của ông cũng ra đi. Đau thương chết chóc liên tiếp đến quá
buồn, phản ánh thời đại u uất, cuộc sống nhiều đau thương xót xa. Ngòi
bút thơ Nietzsche uyển chuyển, ngôn ngữ trong sáng [2, tr.18]:
“…Trên thế giới này,
Cuối cùng không ai tìm được
Thú vui quê hương và gia đình;
Chúng ta chưa bao giờ rời khỏi trái đất,
Cuối cùng trở về trong lòng của nó,
Khi tiếng chuông du dương vang vọng,
Tôi bất giác thầm nghĩ:
Chúng ta mọi người đang cuồn cuộn
Đi đến quê hương vĩnh hằng.
Người nào hằng giờ hằng phút
Thoát khỏi sự ràng buộc của trái đất,
Hát lên bài ca mục đồng quê hương,
Ca ngợi cái cực lạc của thiên đàng”.
Đó là bài thơ Quê vũ, Nietzsche sáng tác lúc còn bé, lúc ông luôn
lẫn tránh những đám đông, thích tìm về chốn hữu tình thơ mộng.
Năm 1858, mười bốn tuổi, Nietzsche được giới thiệu đến học tại
trường Schulpforta, cách nhà bốn dặm, là một trường có uy tín về giáo dục
cổ điển, nhiều giáo viên danh tiếng. Trong sáu năm học ở đây, Nietzsche
đặt ra nguyên tắc cho mình đó là học tập nghiêm túc, đi sâu tìm tòi,
nghiên cứu chuyên ngành, hạn chế những yêu thích cá nhân. Vì vậy mà
Nietzsche đã học tập rất có hiệu quả, ông nghiên cứu tác phẩm cổ điển
Đức và so sánh phương thức tư duy của họ, kết hợp nghiên cứu lịch sử và
địa lý, vận dụng phương pháp giáo dục vào vật lý và âm nhạc. Với đức
tính cần cù, chịu khó và sự giảng dạy rất thấu đáo của nhà trường,
Nietzsche tiến bộ rất nhanh về kiến thức ngôn ngữ văn học và khả năng
cảm thụ. Nietzsche rất uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực và có nhiều kiến
giải độc đáo.
Ngoài việc tán thưởng âm nhạc cổ điển, Nietzsche còn thích tác
giá trị của ông.
Trong thời gian học Đại học Leipzig, Nietzsche hai lần tham gia
chiến tranh thống nhất nước Đức. Lần đầu quân nhập ngũ thứ nhất năm
1866, chiến tranh Phổ - Áo. Lần thứ hai là năm 1867, lúc Leipzig bị bệnh
thổ tả hoành hành, Nietzsche rời trường đại học tham gia quân tình
nguyện, sau đó được tuyển vào bộ đội pháo binh địa phương Naumburg,
phục vụ quân ngũ một năm. Tháng 3 năm 1868, ông bị ngã trong một lần
tập cưỡi ngựa, bị chấn thương xương ngực. Trong thời gian tại ngũ,
Nietzsche tận mắt thấy được sự tàn khốc của chiến tranh và những đau
thương mất mát của các chiến sĩ, chứng kiến được cái bi tráng hào hùng
cũng những hy sinh anh dũng kiên cường. Khi nước Đức thống nhất, dưới
con mắt ông, thắng lợi của vũ lực không có nghĩa là thắng lợi của văn hóa,
mọi tiến bộ về vật chất chỉ phục vụ cho cuộc sống xa xỉ mà thôi.
Nietzsche cho rằng thắng lợi của chủ nghĩa đế quốc Đức là sự hủy diệt
triệt để tinh thần nước Đức, nước Đức lúc ấy trở thành tự mãn và không
có linh hồn. Tháng 10 năm 1868, Nietzsche ra khỏi quân đội và trở về Đại
học Leipzig học tiếp kỳ học cuối. Nietzsche tỏa sáng trong lĩnh vực học
thuật đến mức trở thành giáo sư chính thức ở tuổi 25 – một trường hợp
gần như chưa từng có.
Nietzsche là một trong những nghệ sĩ văn chương tài năng. Nhiều
người Đức nhìn nhận ông là vĩ đại nhất trong tất cả tác gia văn xuôi Đức.
Sở dĩ Nietzsche có thể đàm luận với rất nhiều nghệ sĩ sáng tạo là do bản
thân ông được mệnh danh là một nghệ sĩ giữa các triết gia. Ông làm thơ
hay, biết soạn nhạc, nhưng quan trọng hơn cả là bút pháp văn chương của
ông rực rỡ khác thường. Đa số tác phẩm của ông không được viết theo
cùng một kiểu văn xuôi mở rộng như trong triết học, với những luận
chứng và phản chứng được trình bày chi tiết, mà được thể hiện bằng hình
thức tản văn qua những câu cách ngôn, những câu thơ dạng kinh thánh,
hoặc những đoạn văn được đánh số riêng rẽ. Ông có phương pháp đặc
trưng để tìm cách đưa người đọc nhìn mọi sự theo một đường hướng mới
1.2.2. Sơ lược tư tưởng và tác phẩm của Friedrich Nietzsche
Triết học phương Tây hiện đại với nghĩa là triết học phi mác xít đã
hình thành và được truyền bá ở các nước phương Tây từ giữa thế kỷ XIX
đến nay. Đó là một trong những vấn đề mà giới triết học thế giới và Việt
Nam rất quan tâm, nhất là hiện nay, khi cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận
diễn ra gay gắt. Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy ý
chí Nietzsche xuất hiện ở Đức, ngay lúc đó người ta chưa chú ý, nhưng về
sau ảnh hưởng của nó rất sâu rộng. Nó xuất phát từ lập trường của chủ
nghĩa phi lý tính, dưới khẩu hiệu “đánh giá lại mọi quan niệm giá trị”; phê
phán gay gắt văn hóa châu Âu dưới sự chi phối của truyền thống Kytô
giáo và triết học lý tính. Nó nêu lên rằng cần phát huy cao độ bản năng và
sức sống nội tại của con người, lấy ý chí quyền lực làm thước đo đánh giá
mọi cái.
Chủ nghĩa duy ý chí là một bộ phận thuộc trào lưu triết học nhân
bản của triết học phương Tây hiện đại. Là triết học duy tâm đề cao tác
dụng ý chí của con người, thậm chí biến nó thành nền tảng và điểm xuất
phát của mọi tồn tại. Chủ nghĩa duy ý chí ra đời trong bối cảnh lịch sử khi
giai cấp tư sản châu Âu đã mất tính chất cách mạng và mâu thuẫn của hình
thái ý thức, kiến trúc thượng tầng của nó biểu lộ rõ ràng… Chủ nghĩa duy
ý chí phản ánh sự phản ứng của tầng lớp phản động bảo thủ nhất trong
giai cấp tư sản châu Âu lúc bấy giờ đối với lý luận cách mạng có đặc
trưng lý tính. Ở mức độ nhất định, nó cũng có thể thích ứng với tinh thần
của phái cấp tiến trong giai cấp tiểu tư sản đang bất mãn với hiện thực xã
hội và đòi hỏi tự do tuyệt đối về cá tính. Chủ nghĩa duy ý chí ra đời có ảnh
hưởng lớn nhất ở Đức và cũng phát triển ở Pháp, Anh và một số nước Bắc
Âu khác. Schopenhauer và Nietzsche là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa
duy ý chí ở Đức.
Nietzsche và triết học Nietzsche là một khối hoàn bích, không nứt
nẻ: triết học của ông là đời sống của ông và đời sống của ông là tài liệu
suy tưởng của ông. Trần Thái Đỉnh cho rằng “tất cả tác phẩm của
Theo Nietzsche, mỗi người trong chúng ta phải tự mình trở nên toàn
mãn, nói vâng với cuộc sống, sống tận lực cho thỏa chí của mình. Một
trong những từ ông thường dùng nhất là “dám”; và có lẽ điều răn đầu tiên
của ông là: “Hãy dám trở nên chính mình” [23, tr.255].
Có rất nhiều tác phẩm ra đời, ngay cả khi Nietzsche rơi vào tình
trạng vô cùng đau đớn, mệt mỏi, khổ tâm, ông vẫn không ngừng sáng tác.
Nguồn gốc của bi kịch, có tên gọi đầy đủ là “Bi thảm sinh ra từ
tinh thần âm nhạc”, viết từ năm 1870 – 1871, năm 1872 xuất bản đầu tiên,
sau hai năm có sửa chữa một số phần và xuất bản lần thứ hai. Lần xuất
bản năm 1886, Nietzsche viết lại bài tựa mới là “Thưởng thức sự tự phê
phán”. Đây là tác phẩm quan trọng thể hiện Nietzsche ngày càng chín
muồi, dùng nhãn quan hoàn toàn mới nghiên cứu bi kịch của Hy Lạp, tìm
tòi ý nghĩa cuộc sống, là điểm xuất phát và là cơ sở của toàn bộ tư tưởng
của ông sau này.
Tác phẩm mượn nghệ thuật để bàn về đời người, mượn bi kịch Hy
Lạp nói về bi kịch đời người, lần đầu tiên, Nietzsche diễn đạt khá hoàn
thiện quan điểm mỹ học – triết học – đời người. Hai thần Mặt trời và thần
Rượu đều bắt nguồn từ bản năng của con người, cái trước là sự xung động
con người cá thể mượn ảo giác ngoại quan tự tôi khẳng định; cái sau là sự
xung động con người cá thể tự mình phủ định và trở về bản chất thế giới.
Nietzsche lấy thần Mặt trời và thần Rượu làm khái niệm cơ bản nhất, trình
bày những vấn đề như cội nguồn, tinh thần âm nhạc, trực giác nghệ thuật,
thời cơ chuyển biến văn hóa Socrates của bi kịch Hy Lạp.
Thần Mặt trời Apollo là thần Thái dương trong truyền thuyết thần
thoại Hy Lạp, còn gọi là “thần sáng suốt”, ánh sáng của nó làm cho phần
ngoại quan của vạn vật đẹp đẽ. Theo Nietzsche, thần Mặt trời tượng trưng
của ngoại quan đẹp, còn ngoại quan của cái đẹp về bản chất là một loại ảo
tưởng của con người. Trong đời sống hàng ngày, giấc mộng là trạng thái
của thần Mặt trời. Trong nghệ thuật, nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật thần
Mặt trời điển hình.
giáo cho rằng tình dục là cái gian ác và sa đọa, nên tín đồ cần cảm thấy
xấu hổ và tự trách mình trước sự kích động về tình dục. Theo Nietzsche,
vì giáo hội cấm đoán nên ma quỷ càng được con người thấy thích thú hơn
là sứ trời và thánh nhân, câu chuyện về tình yêu cũng được các tầng lớp
ưa thích. Giáo hội còn cho rằng sự hoài nghi là tội lỗi, những cái giáo hội
cần là sự tê dại và tinh thần hoảng hốt, đòi hỏi ca tụng hết lời đối với nước
tù trong đầm ao đã vùi ngập lý trí.
Tri thức vui vẻ (1881 – 1882, phần thứ 5 viết năm 1886). Trong
tập sách này, Nietzsche so sánh ông với phái chủ nghĩa lãng mạn, phái
Epicure, và tín đồ Kytô giáo. Cho rằng bản thân ông là nhân vật loại hình
bi kịch kiểu Dionysus. Nietzsche nêu ra nhiều loại học giả như luật sư,
mục sư và học giả Do thái, phê phán các học giả này không suy nghĩ giải
quyết vấn đề một cách sáng tạo, chỉ mong dùng các phương thức của mình
để chứng minh mình làm những công việc chính đáng hữu ích.
Phía bên kia của cái thiện và cái ác (1885 – 1886). Cuốn sách phê
phán cái hiện đại: khoa học hiện đại, nghệ thuật hiện đại, chính trị hiện
đại. Nietzsche nêu ra cái tương phản của người hiện đại, thay đổi quan
niệm thiện ác của con người: cái mà mình không thích thì đừng làm cho
người khác. Đồng thời ông nêu ra hai loại đạo đức chủ yếu là đạo đức tự
chủ và đạo đức nô lệ…Cuốn sách được giới học thuật khen ngợi, cho rằng
Nietzsche đã vạch ra một con đường mới cho nhân loại.
Hoàng hôn của ngẫu tượng (1888) chỉ chân lý đã đến lúc chấm
dứt. Sách chưa đến 150 trang, viết chỉ trong vài ngày. Nietzsche dùng
giọng châm biếm nói rằng quyền lợi làm cho người ta mê muội, nước Đức
được xem là dân tộc của những nhà tư tưởng, người Đức ngày nay đã
không còn thói quen nghiêm túc đối với mọi sự vật chân chính…
Chống tín đồ Kytô (1888) Nietzsche công kích toàn diện văn hóa
Kytô giáo: đạo đức, tín ngưỡng giả tạo, nhân sinh quan suy đồi, thế giới
quan trốn tránh thế giới. Nietzsche tuyên bố “Chúa đã chết”, phủ định
quan điểm giá trị của Kytô giáo đã làm lung lay tư tưởng tín ngưỡng của
và những đề cập không giống nhau, nhưng tất cả đều xoay quanh vấn đề
con người: bi kịch của đời người, thiện và ác, khát vọng tình yêu, sự hoài
nghi, sự ngay thẳng, tâm lý tín ngưỡng, quyền làm người, sự bất bình của
con người với nỗi trăn trở về cuộc sống và số phận của con người trong
xã hội hiện tại đang nhiễu loạn. Những tác phẩm của Nietzsche đã khẳng
định sức mạnh và giá trị đáng phục của một con người đặc biệt, một con
người mà cuộc đời sớm chìm trong đau thương, mất mát, lại thường xuyên
tự đấu tranh với bệnh tật. Nietzsche đã có lúc gần như gục ngã, nhưng ông
đã dũng cảm đứng lên, gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh thời đại, làm một
bước nhảy, rẽ sang một con đường mới. Đến nay, những giá trị mà
Nietzsche để lại không ngừng được giới học thuật nghiên cứu, tìm hiểu.
1.3. Tiền đề tư tưởng
1.3.1. Sụp đổ niềm tin và khi “Thượng đế đã chết”
Tôn giáo là một hiện tượng đã tồn tại lâu đời trong xã hội loài
người. Trong lịch sử, rõ nhất là trong lịch sử phương Tây, đã từng có thời
kỳ thần quyền Tôn giáo thống ngự toàn bộ đời sống xã hội, chi phối cuộc
sống con người không chỉ phần hồn mà cả phần xác, không chỉ bên đạo
mà cả bên đời. Lịch sử cũng đã từng biết đến những vụ đụng độ Tôn giáo
quyết liệt, những cuộc chiến tranh Tôn giáo đẫm máu. Không chỉ trong
thời Trung kỷ với những cuộc Thập tử chinh kéo dài, dai dẳng hàng trăm
năm, mà những người Kytô giáo tiến hành nhằm giành lại Thánh địa
Jerusalem trong tay người Islam giáo. Cả trong thời hiện đại với sự bức
hại của chủ nghĩa Nadi đối với người Do Thái hồi Thế chiến II, trong các
trại tập trung cưỡng bức, dưới 6 triệu người chết trong vòng 5 năm (1940
– 1945). Đằng sau sự phân biệt chủng tộc, là thiên kiến điên cuồng của tín
đồ Kytô giáo với tín đồ Do Thái giáo. Marx khẳng định rằng chính con
người làm ra Tôn giáo chứ Tôn giáo không làm nên con người. Nói cách
khác, Tôn giáo là sự tự ý thức và tự cảm giác của con người vốn chưa tìm
thấy bản thân mình, hoặc đã tự đánh mất mình một lần nữa. Tôn giáo là
tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của một thế giới vô tình,
đức tính có mục đích chê chối và ghét bỏ cuộc hiện sinh. Các Tôn giáo
cũng như nền luân lý cổ truyền mắc vào tội “yếm thế”, không biết chân
nhận những giá trị cuộc sống hiện nay, tức cuộc sống tại thế. Đối với
những người “yếm thế” đó, Nietzsche bảo rằng thà họ đừng sống nữa, vì
sống để chờ chết như thế là sống thừa.
“Nếu thần sáng tạo ra tất cả, thế thì tại sao loài người không biến
thành những con vật đớn hèn chỉ dựa vào bố thí, giống như những người
truyền giáo suốt ngày chỉ quỳ lạy cầu xin vô tích sự. Chúng ta đã là người
thì cần phải sống ra dáng con người, hãy đứng lên rời bỏ hạnh phúc nô
lệ!” [2, tr.101]. Như vậy, “Chúa đã chết”, đạo đức cũ rích đã bị cuốn đi.
Và cái thay thế nó là “đạo đức của người kiên cường” mới, một loại đạo
đức chống lại sự nhu nhược truyền thống cua Kytô giáo. Nietzsche mượn
lời của Zarathoustra trong tác phẩm Zarathoustra đã nói như thế để vạch
trần những “con người hiện đại” chịu ảnh hưởng của văn hóa trụy lạc và
dùng ngòi bút sắc bén tuyên chiến đối với những giá trị văn hóa “đồi trụy”
này. Ông vừa chống lại Kytô giáo vừa chống lại đạo đức trần thế, để dựng
nên quan niệm giá trị mới, dùng siêu nhân sáng tạo thay thế Chúa ảo
tưởng.
Dưới con mắt của Nietzsche, tội ác của Kytô giáo là chồng chất, nói
đến bao lâu cũng không diễn tả hết được. Đạo đức bị suy đồi đã len lỏi
vào trong mọi giá trị của loài người, được con người coi đó là giá trị nhân
sinh và là giá trị văn hóa cao nhất. Vì nhận thấy những sâu mọt càng ăn
sâu càng mục rỉ nên Nietzsche muốn châm ngòi nổ, đánh thức cơn u mê
của con người, ông hét vang: “Chúa đã chết! Nhà thờ hàng ngày các người
đi đến là mồ chôn của Chúa!” [2, tr.109].
Nietzsche miêu tả nguyên nhân Chúa chết rằng: khi Chúa còn trẻ,
vất vả cực khổ nhưng ham báo thù, về sau ngày càng già, ôn hòa và từ bi,
cuối cùng có một ngày, cuối cùng vì Chúa có quá nhiều thông cảm,
không chịu đựng nổi khi nhìn thấy sự đau khổ của nhân gian nên bị chết
ngạt. Tức là Chúa cũng có địa ngục của Chúa, Chúa chết vì sự thông cảm
những giá trị quan trọng cho sự phát triển của nhân loại: “Không có nghệ
thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ, thì không có đế chế La
Mã, mà không có các cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã thì
không có châu Âu hiện đại” [25, tr.245]. Nhiều nhà tư tưởng của thế kỷ
XIX, trong đó có Nietzsche đã truy tìm về một thời kỳ hoàng kim trong