TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG
TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI
Chuyên ngành: Sư phạm giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiên:
Th.s. MAI PHÚ HỢP MAI THỊ CẨM NHUNG
MSSV: 6055381 CẦN THƠ – 4/2009 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử của sự phát triển văn minh, văn hóa nhân loại, vấn đề con
người và tương lai của con người luôn giữ vị trí trung tâm và trở thành đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học – xã hội khác mà đặc biệt là khoa
học xã hội nhân văn nhưng chỉ có triết học mới nhận thức con người một cách
toàn diện trong tính chỉnh thể của nó.
Những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về con người như: Bản chất con
người là gì? Vai trò của nó trong sự phát triển nhân loại thể hiện như thế nào?.
Đằng sau những câu hỏi này là cả một vấn đề mà nhân loại quan tâm nghiên
cứu. Có thể nói việc nghiên cứu con người không phải là một đề tài mới song
nó vẫn là một vấn đề luôn luôn mới. Là sản phẩm của quan hệ xã hội, con
người cũng đồng thời là chủ thể cải tạo xã hội và từ đó cải tạo chính bản thân
mình. C.Mác và Ăngghen khẳng định: “Bản thân xã hội sản xuất ra con người
với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế”
[2, 169]. Như vậy trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì bản chất con
người cũng biểu hiện khác nhau.
Có thể nói cùng với Ấn Độ, Trung Hoa là cái nôi của nền văn minh
phương Đông nói riêng và nhân loại nói chung. Với những phát minh vĩ đại
trên lĩnh vực khoa học tự nhiên. Trung Hoa cũng là quê hương của hệ thống
triết học lớn. Trải qua gần 40 thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung
Hoa bao hàm một nội dung cực kỳ phong phú với hệ thống triết học rộng lớn
và sâu sắc mà đặc biệt vấn đề con người trong triết học Trung Hoa cổ đại nói
riêng và cũng như con người trong lịch sử Trung Hoa nói chung là một vấn đề
trung tâm, nổi bật trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Nhưng con người được
nghiên cứu ở đây không được chú trọng trên tất cả các mặt mà chỉ chú ý đến
khía cạnh đạo đức, luân lý, hướng nội với mục đích nhằm xoa dịu mâu thuẫn,
ổn định xã hội, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
Ở Đông Phương, ngay từ trước công nguyên rất lâu, đạo lý nhân bản đã
được hiền nhân đặt để và phổ biến dù rằng khi ấy hầu hết cuộc sống con người
vẫn còn ở tình trạng bộ lạc. Để sống con người Trung Hoa thời sơ khai phải
đại để qua đây có thể có những hiểu biết cơ bản về cái nhìn của người Trung
Hoa về vấn đề con người thời cổ đại cũng như cho đến giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm:
- Làm rõ những tiền đề về kinh tế, chính trị - xã hội Trung Hoa thời cổ
đại có những đặc điểm gì tạo điều kiện cho sự ra đời của những quan điểm về
bản chất con người của các triết gia.
- Khai thác các tư tưởng triết học cơ bản về nhân sinh quan của các triết
gia tiêu biểu trong một số trường phái triết học tiêu biểu.
Đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ là phân tích, làm rõ các quan điểm của
các nhà triết học tiêu biểu về con người, bản chất con người, cũng như cách
nhìn nhận và đánh gia về con người và tìm hiểu những ảnh hưởng của các
quan niệm này đến xã hội lúc bấy giờ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đi sâu làm rõ một số nội dung của đề tài nghiên cứu:
- Tư tưởng triết học cơ bản của các triết gia, các trường phái triết học về
vấn đề con người như Nho giáo, Lão giáo, Pháp gia…trong triết học Trung
Hoa cổ đại.
- Những điểm được và hạn chế của các quan niệm về con người của các
triết gia.
Về phạm vi nghiên cứu thì đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu vấn đề con
người của các trường phái triết học thời Trung Hoa cổ đại chứ không đi sang
nghiên cứu con người ở các thời kỳ khác trong triết học Trung Hoa.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiếp cận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Những phương pháp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu đề tài là
phương pháp logic và lịch sử. Ngoài ra tác giả còn sử dụng phối hợp một số
phương pháp như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa…
Chương 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TRUNG HOA THỜI KỲ CỔ ĐẠI ( 2205 TCN – 222 TCN)
Trung Hoa cổ đại là một trong những trung tâm văn hóa, khoa học và
triết học cổ xưa, phong phú và rực rỡ nhất không chỉ của nền văn minh
phương Đông mà của cả nhân loại.
Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ thứ III TCN
kéo dài đến thế kỷ III TCN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung
Hoa bằng uy quyền bạo lực, mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến. Trong
khoảng 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân thành hai thời kỳ
lớn:
. Thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu)
. Thời Xuân Thu – Chiến Quốc
1.1. Thời kỳ Ân Thương – Tây Chu
1.1.1. Triều Hạ (khoảng thế kỉ XXI – XVI TCN)
Trung Quốc đã trãi qua xã hội nguyên thủy. Rất nhiều nơi trên lãnh thổ
Trung Quốc đã phát hiện được nhiều di chỉ thuộc các thời kì đồ đá cũ và đồ đá
mới. Tiêu biểu cho thời kỳ đồ đá mới ở Trung Quốc là văn hóa Ngưỡng Thiều.
Theo các ghi chép, các truyền thuyết, các thư tịch cho biết rằng người
nguyên thủy “sống chung với cầm thú” nhân dân ít mà cầm thú nhiều, nhưng
nhân dân không thắng nổi cầm thú, rắn rết” [13, 124] do đó họ Hữu Sào đã
dạy dân chặt cây làm tổ để tránh hại. Trong khi đó người nguyên thủy cũng
chưa biết dùng lửa, về sau họ Toại Nhân đã dạy dân đục gỗ lấy lửa, thức ăn
chính do đó tránh được bệnh tật. Sau đó, Phục Hi đã dạy dân kết thừng để làm
lưới bắt cá, Thần Nông phát minh ra cày dạy dân nghề trồng trọt.
Về quan hệ xã hội của người nguyên thủy ở Trung Quốc thì lúc đầu có
thể có quan hệ quần hôn nội tộc. Đến cuối xã hội nguyên thủy, theo truyền
thuyết ở lưu vực Hoàng Hà có nhiều thủ lĩnh bộ lạc nối tiếp nhau. Đó là
Hoàng Đế, Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đường Nghiêu, Ngu
Thuấn, Hạ Vũ.
có nhiều màu như đen, xám, trắng, vàng, đỏ nhưng tiêu biểu nhất là loại đồ
gốm đen bóng. Vì vậy văn hóa Long Sơn còn gọi là văn hóa đồ gốm đen.
Bộ máy nhà nước cũng còn rất đơn giản, chỉ mới có một số chức vụ
quản lý ngành kinh tế gọi là Mục chính (quản lý việc chăn nuôi), Xa chính
(quản lý xe), Bào chính (phụ trách việc tiến dâng thức ăn cho vua)…
Đến cuối đời Hạ, vua Kiệt là một bạo chúa nổi tiếng, áp bức bóc lột
nhân dân thậm tệ, cả nước oán hờn. Nhân đó nước Thương mới thành lập đã
tấn công Hạ, nhà Hạ diệt vong.
1.1.2. Nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI – khoảng năm 1066
TCN)
Tương truyền rằng thủy tổ của tộc Thương là Khế, người đồng thời với
Hạ Vũ, nhưng đến cháu thứ 14 của Khế là Thang, tộc Thương mới bắt đầu
bước sang xã hội có giai cấp.
Trong khi nước Thương ở vùng hạ lưu Hoàng Hà không ngừng lớn
mạnh thì nước Hạ ở trung lưu Hoàng Hà đang nhanh chóng suy yếu, nhân dân
đang căm ghét vua Kiệt, nhân đó, Thang đã đem quân đánh Hạ, Kiệt thua chạy
đến đất Nam Sào, nhà Hạ bị tiêu diệt nhà Thương được hình thành.
Khi mới thành lập, nhà Thương đóng đô ở Bạc ở phía nam Hoàng Hà,
nhưng từ đó trong nội bộ giai cấp thống trị thường xảy ra những cuộc đấu
tranh. Để làm yếu thế lực của tầng lớp quý tộc, đồng thời để tránh nước lụt,
vua Thương đã dời đô nhiều lần và đến cháu 10 đời của Thang là Bàn Canh thì
dời đô đến Ân ở phía Bắc Hoàng Hà. Cho đến khi nhà Thương diệt vong, chỉ
trừ vua cuối cùng là Trụ đóng đô ở Triều-ca, còn đều lấy Ân làm kinh đô, vì
vậy triều Thương còn gọi là triều Ân.
Về mọi mặt, đời Thương có một bước phát triển lớn so với triều Hạ.
Tình hình đó chủ yếu được phản ánh trong các di chỉ Trịnh Châu và Ân Khư.
Ở Trịnh Châu đã phát hiện được nền nhà, mộ, xưởng luyện đồng,
xưởng làm đồ gốm, đồ xương, xưởng cất rượu. Ân Khư chính là kinh đô của
triều Thương. Tại đây đã phát hiện khu lăng mộ của các vua Thương, phần mộ
của các quý tộc và bình dân.
“Hoặc mười năm, hoặc bảy tám năm, hoặc năm sáu năm, hoặc ba bốn năm”.
Trong đó nổi tiếng tàn bạo nhất là vua Trụ, vua cuối cùng của nhà Thương.
Sách Sử kí của Tư Mã Thiên chép: “Trụ đánh thuế nặng để lấy tiền chất vào
kho Lộc Đài, lấy thóc chứa vào kho Cự Kiều, tăng thu chó ngựa của lạ để chất
vào trong thất, mở rộng bãi gò, vườn uyển, đình đài…lấy rượu làm hồ, treo
thịt làm rừng…” [13, 128].
Hơn nữa Trụ còn dùng hình phạt tàn khốc để trừng trị nhân dân, lại
luôn luôn gây chiến tranh với các bộ lạc xung quanh làm cho nhân dân thêm
cực khổ, do đó nhân dân vô cùng oán hận. Nhân tình hình đó nước Chu ở phía
tây vốn là một nước phụ thuộc của Thương đem quân tấn công Triều-ca. Nhà
Thương diệt vong.
1.1.3. Triều Tây Chu (khoảng năm 1066 – 771 TCN)
Chu là một bộ lạc cư trú ở thượng lưu Hoàng Hà. Tương truyền rằng
thủy tổ của tộc Chu là Khí, vì trồng lúa giỏi nên được gọi là Hậu Tắc và được
tôn làm thần nông nghiệp. Đến đời cháu 12 đời của Khí là Cổ Công Đản Phụ,
sự phân hóa giàu nghèo trong bộ lạc Chu đã biểu hiện rất rõ rệt. Vì bị người
Nhung lấn chiếm nên Cổ Công Đản Phụ đã phải dời bộ lạc từ đất Mân đến đất
Kỳ và định cư ở cánh đồng Chu. Tại đây bộ tộc Chu làm nhà cửa, xây thành
quách, đặt “quan lại”. Những cuộc chiến tranh với bộ tộc xung quanh đem lại
cho Chu nhiều chiến lợi phẩm và nô lệ càng đẩy nhanh quá trình phân hóa
trong bộ tộc Chu.
Đến đời cháu của Cổ Công Đản Phụ là Xương thì nước Chu chính thức
thành lập. Xương chính là Chu Văn Vương, còn Cổ Công Đản Phụ được truy
tôn làm Thái Vương.
Văn Vương không ngừng củng cố và phát triển thế lực của mình, phạm
vi thống trị đến vùng Trường Giang, trong khi đó nước Thương đang ngày
càng suy yếu. Văn Vương định tấn công nước Thương nhưng kế hoạch chưa
thành công thì mất. Bốn năm sau người nối ngôi là Vũ Vương đem quân tiến
đánh nước Thương. Lúc bấy giờ, quân chủ lực của Thương đang đi đánh các
tộc ở phái đông nam không thể về kịp, nên vua Trụ phải trang bị vũ khí cho tù
ăn chơi xa xỉ, say đắm tửu sắc. Vì quá yêu nàng Bao Tự nên đã phế truất
hoàng hậu họ Thân và Thái tử Nghi Cữu rồi lập Bao Tự làm hoàng hậu và con
trai của nàng là Bá Phục làm thái tử. Do vậy năm 771 TCN, cha của hoàng hậu
họ Thân là Thân hầu liên kết với người Khuyển Nhung đem quân đánh U
Vương. U Vương thua chạy bị người Khuyển Nhung giết chết.
Ngay sau đó Thái tử Nghi Cữu lên làm vua, hiệu là Bình Vương.
Nhưng Cao Kinh bị người Khuyển Nhung tàn phá nặng nề nên dời đô sang
Lạc Ấp ở phía đông. Thời kỳ Tây Chu đến đây chấm dứt.
Ở thời Tây Chu nhìn chung về tình hình kinh tế chưa có bước phát đáng
kể so với xã hội trước. Về công cụ sản xuất chưa có tiến bộ vượt bậc so với
thời Thương tức là chưa vượt qua được thời đại đồng thau. Tuy vậy nhờ sự
tích lũy kinh nghiệm lâu đời, nhờ việc quy hoạch đồng ruộng gắn liền với hệ
thống tưới nước, sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể. Trên cơ
sở ấy, giai cấp thống trị đã thu được nhiều lương thực chất đầy các kho. Thời
Tây Chu các ngành thủ công nghiệp, các nghề đúc đồng thau và các nghề làm
đồ gốm, đồ ngọc, đồ đá, xương da, gỗ, nghề dệt…đều đạt đến trình độ khá
cao.
Tuy nhiên nền kinh tế Trung Hoa lúc bấy giờ mang nặng tính chất tự
nhiên, những nhu cầu trong đời sống hàng ngày của nhân dân đều dựa vào
kinh tế tự túc tự cấp, nhưng để phục vụ cho đời sống của giai cấp quý tộc, việc
trao đổi buôn bán cũng diễn ra trong phạm vi cả nước. Tuy tiền tệ đã được sử
dụng nhưng hiện tượng lấy vật đổi vật vẫn còn rất phổ biến.
Về chế độ ruộng đất: Đến thời Tây Chu, việc phân phong đất cho quý
tộc và việc chia ruộng đất cho nông dân đã trở thành chế độ rất hoàn chỉnh.
Sau khi chinh phục được nước Thương và các bộ tộc nhỏ khác tất cả đất đai
trong nước đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua. Do quyền sở hữu thuộc về
nhà nước nên ruộng đất không được mua bán. Ngoài vùng xung quanh kinh đô
mà vua Chu giữ lại cho mình, gọi là vương kì, đất đai trong cả nước đươc
phân phong cho anh em và các công thần của nhà vua. Tùy theo bà con thân
hay sơ, công lao lớn nhỏ mà được phân phong ruộng đất rộng hay hẹp, gần
Dưới vua, chư hầu là các quan lại lớn, nhỏ gọi là khanh, đại phu, sĩ. Họ
giữ các chức vụ trong triều đình nhà Chu và ở các nước chư hầu.
Nông dân là giai cấp đông đảo nhất và là lực lượng giữ vai trò quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp và là những người cày cấy ruộng “tỉnh điền”.
Họ sống trong các làng xã mà từ xưa đã lập thành những công xã nông thôn.
Những người có chức trách trong công xã định kỳ phải tiến hành chia ruộng
đất cho những hộ nông dân, trong các dịp thời vụ, các chức dịch của công xã
có nhiệm vụ đôn đốc việc sản xuất.
Ngoài việc sản xuất nông nghiệp, nông dân còn làm một số nghề phụ
khác như chăn tằm, dệt lụa, kéo sợi, dệt vải…mặc dù nông dân được coi là
“dân của vua” tức là dân tự do nhưng bị áp bức bóc lột nặng nề. Nhận 100
mẫu ruộng công nằm trong lãnh địa của quý tộc, nông dân phải nộp thuế bằng
khoảng 1/10 thu hoạch. Ngoài ra họ còn nộp các khoản thuế phụ khác như lụa,
da, thú săn…và phải làm tạp dịch như xây dựng dinh thự, thành quách, cầu
cống…Đời sống của họ rất cực khổ.
Giai cấp có địa vị thấp kém là nô lệ. Cũng như đời Thương, nguồn nô
lệ chính là tù binh, ngoài ra còn có một số người đồng tộc bị biến thành nô lệ
vì phá sản hoặc vì phạm tội. Công việc chủ yếu của nô lệ là hầu hạ và làm các
công việc trong gia đình. Có một số được làm trong các xưởng thủ công và tổ
chức buôn bán của nhà nước. Nô lệ thường bị thích chữ vào mặt và bị coi như
hàng hóa để buôn bán, trao đổi, ban tặng. Thời Tây Chu, 5 nô lệ mới đổi được
một con ngựa và một cuộn tơ. Lúc bấy giờ tục dùng người tuẫn táng vẫn thịnh
hành. Trong số những người được chôn theo ấy, chắc chắn phần lớn là nô lệ.
1.2. Thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc
1.2.1. Thời Xuân Thu
Thời Xuân Thu là giai đoạn đầu của thời Đông Chu bắt đầu từ năm 770
TCN cho đến thế kỷ V TCN trước sau gồm khoảng 3 thế kỷ. Sở dĩ thời kỳ này
gọi là Xuân Thu vì nó tương đương với giai đoạn lịch sử được chép trong sách
Xuân Thu của Khổng Tử. Sách Xuân Thu là quyển sử nước Lỗ trong đó ghi
chép những sự kiện xảy ra từ 722 TCN đến năm 481 TCN. Thời Xuân Thu là
“Tôn vua trừ Di”, vua Tề là Tề Hoàn Công đã ngăn chặn được sự xâm lấn và
quấy nhiễu của người Nhung Địch. Năm 656 TCN, Tề cùng một số nước khác
đem quân hỏi tội nước Sở vì sao không nộp cống cho nhà Chu. Nước Sở phải
đề nghị giảng hòa. Sau đó Tề Hoàn Công họp hội nghị chư hầu mấy lần, được
chư hầu công nhận làm bá chủ ở miền hạ lưu Hoàng Hà.
Nước Tấn ở vùng Sơn Tây ngày nay cũng là một nước lớn. Năm 636
TCN, công tử Trùng Nhĩ sau khi lưu lạc ở nước ngoài 19 năm được về làm
vua, hiệu là Tấn Văn Công. Từ đó sự tranh chấp trong nội bộ chấm dứt, thế
nước trở nên hùng mạnh. Năm 632 TCN, Văn Công chỉ huy liên quân Tấn,
Tề, Tần, Tống đánh bại liên quân Sở, Trần, Thái ở Thành Bốc. Sau đó Tấn
Văn Công họp hội nghị chư hầu, nước Tấn được công nhận làm bá chủ.
Nước Sở ở lưu vực Trường Giang vốn là một nước nhỏ thành lập từ đời
Thương. Nhờ khuất phục được nhiều bộ lạc xung quanh và thôn tính được một
số nước chư hầu nhỏ của nhà Chu, nước Sở đã trở nên lớn mạnh. Đến thời
Xuân thu, vua Sở chính thức xưng vương, không thừa nhận địa vị Thiên tử của
nhà Chu. Đến thời Sở Trang Vương (691 – 613 TCN) thế nước của Sở càng
mạnh. Năm 597 TCN, Sở đánh Trịnh, Tấn đem quân đến cứu cũng bị đánh
bại, do dó nước Sở cũng trở thành bá chủ.
Nước Tần ở vùng Tây Bắc thành lập tương đối muộn. Khi Bình Vương
dời đô sang Lạc Ấp, nhờ có công hộ tống vua Tần mới được nhà Chu phong
làm chư hầu. Đến thời Tần Mục Công (659 – 621 TCN), Tần nhiều lần đánh
nhau với Tấn, tiếp đó lại bành trướng sang phía Tây, tiêu diệt được nhiều nước
chư hầu nhỏ của nhà Chu, thôn tính được đất đai của nhiều bộ lạc Nhung
Địch, do đó cũng trở thành một nước lớn.
Trong các nước tranh quyền bá chủ lúc bấy giờ, nước Tề chỉ làm bá chủ
được một thời gian ngắn, nước Tần chỉ khống chế được vùng Tây Bắc, chỉ còn
hai nước Tấn và Sở kình địch với nhau lâu dài nhất để giành ngôi bá chủ ở
vùng Hoàng Hà. Năm 546 TCN, hai nước giảng hòa và đều được công nhận là
bá chủ. Các nước chư hầu khác đều phải nộp cống cho hai nước.
Khi những cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ ở miền Bắc vừa lắng
nhiều cải tiến rõ rệt. Sản phẩm bằng đồng thau thời kỳ này nói chung có hình
dáng thanh thoát, trang trí đẹp mắt. Ngoài các thứ như chuông, đỉnh, đồ uống
rượu, qua, dao…còn có một số sản phẩm mới như kiếm ngắn, gương đồng…
Nhờ có công cụ bằng sắt, nghề mộc cũng tiến bộ rất nhiều. Đến thời kỳ
này còn xuất hiện một số nghề mới như nghề luyện sắt, nghề sơn. Nghề làm
muối cũng rất được coi trọng. Vì vậy, có nước chư hầu đã đặt chức quan
chuyên trách về sắt và muối.
Cũng như trước kia, nhà nước vẫn nắm một bộ phận quan trọng trong
việc sản xuất thủ công nghiệp. Tùy theo ngành nghề nhà nước tổ chức thành
các xưởng khác nhau như xưởng đồng, xưởng sắt, xưởng dệt, xưởng gốm,
xưởng mộc…
Hoạt động thương nghiệp đến thời Xuân Thu cũng khá sôi nổi. Trong
số các nước chư hầu, Tề là nước có nền thương nghiệp phát triển sớm nhất.
Đến thế kỉ VII TCN, việc buôn bán ở nước Tề khá thịnh vượng. Quản Trọng
nói: “…Nay những người buôn bán ở khắp các nơi, xem xét bốn mùa, chủ ý
các thổ sản của các địa phương mình để biết giá chợ, đánh bò xe ngựa đi khắp
bốn phương, đem cái có đổi lấy cái không có, mua rẻ bán đắt” [13, 141].
Đến giữa thời Xuân Thu, trung tâm của việc buôn bán ở Trung Quốc là
nước Trịnh vì nước này có vị trí thuận lợi về mặt giao thông. Nhờ vậy, lái
buôn nước Trịnh đã đi buôn bán khắp đó đây: Nam thì xuống Sở, Bắc thì lên
Tấn, Đông thì sang Tề. Nhờ hoạt động của họ, thổ sản các nơi được trao đổi
với nhau.
Cùng với sự phát triển của công thương nghiệp, nhiều thành phố vốn là
những đô thị trung tâm chính trị đã trở nên phồn hoa đông đúc như Lâm Tri
của Tề, Hàm Đan của Triệu, Đại Lương của Ngụy, Lạc Dương của
Chu…Trong số đó, theo Chiến Quốc sách, thành phố Lâm Tri có đến 7 vạn
hộ. Qua đó có thể thấy số dân trong các thành thị Trung Quốc lúc bấy giờ
không phải là ít.
Về quan hệ ruộng đất thì đến thờ Xuân Thu đã có sự thay đổi về quyền
sở hữu ruộng đất.
thời việc mua bán ruộng đất lại thúc đẩy chế độ ruộng tư phát triển nhanh
chóng.
Trước chiều hướng phát triển không thể ngăn chặn được của chế độ
ruộng tư dẫn đến sự xáo trộn về ruộng đất, việc thu thuế đồng loạt như trước
rõ ràng là không thích hợp nữa, vì vậy nhiều nước đã cải cách chế độ thuế
khóa. Giữa thế kỷ VII TCN, áp dụng chính sách cải cách của Quản Trọng,
nước Tề đã căn cứ theo ruộng đất tốt xấu để đánh thuế. Năm 594 TCN, nước
Lỗ bắt đầu đánh thuế theo diện tích ruộng đất. Việc đó, chứng tỏ nước Lỗ
chính thức thừa nhận sự chênh lệch về ruộng đất trong hàng ngũ nông dân và
thừa nhận quyền tư hữu ruộng đất của nông dân là hợp pháp.
Về quan hệ giai cấp: Trước hết, sự xuất hiện chế độ ruộng tư đã dẫn
đến sự phân hóa trong giai cấp thống trị. Do có ruộng đất riêng, một số Khanh,
đại phu, sĩ đã biến thành những địa chủ mới.
Sự tan rã của chế độ tỉnh điền đã làm cho giai cấp nông dân bị phân
hóa. Một bộ phận nông dân vẫn giữ được 100 mẫu ruộng được chia trước kia,
có khi còn khai khẩn thêm được một ít nữa, đã trở thành nông dân tự canh.
Một bộ phận hoàn toàn “không có tấc đất cắm dùi” thì phải làm tá điền hoặc
cày thuê cho địa chủ. Một bộ phận có một ít ruộng đất nhưng chưa đủ nuôi
sống gia đình thì phải lĩnh canh thêm ruộng đất của địa chủ. Do sự phân hóa
trong giai cấp nông dân như vậy nên nghĩa vụ nộp tô thuế của họ cũng có phân
biệt. Những nông dân cày cấy ruộng đất của mình phải nộp thuế 1/10 cho nhà
nước bằng sản phẩm, ngoài ra còn phải nộp vải lụa và phải đi làm lao dịch.
Những nông dân lĩnh canh thì phải nộp tô 5/10 cho địa chủ.
Những người làm nghề công thương trước kia bị lệ thuộc vào nhà nước
do đó chưa hình thành những tầng lớp độc lập. Bắt đầu từ thời Xuân Thu,
trong xã hội mới xuất hiện một số thợ thủ công và người buôn bán tự do.
Tầng lớp buôn bán cũng ngày càng đông đảo. Thời Xuân Thu, nước
Trịnh có nền thương nghiệp phát triển nhất nên ở đây có nhiều lái buôn giàu
có. Ở các nước khác cũng có những nhà buôn lớn nổi tiếng như Lữ Cống,
Phạm Lãi, Bạch Khuê. Tử Cống là một học trò của Khổng Tử, chuyên buôn
công đó đều bị viện binh của nước Tề đánh bại. Ít lâu sau, Ngụy bị Tần và Sở
lần lượt tấn công ở phía Tây và phía Nam, bị hai nước chiếm mất nhiều đất đai
nên Ngụy suy yếu.
Ở phía Đông, cuộc xung đột diễn ra chủ yếu giữa Tề và Yên. Tiếp đó,
Tề liên minh với Ngụy, Hàn để đánh Tần, Sở. Trước sự lớn mạnh của Tề, năm
248 TCN, nước Yên liên minh với các Tần, Ngụy, Triệu, Hàn để đánh Tề.
Phần lớn đất đai của Tề bị Yên chiếm làm quận, huyện. Năm năm sau, tuy Tề
lấy lại được đất đai đã mất nhưng thế lực của Tề ngày càng yếu.
Nước Tần ở phía Tây đến đầu thời Chiến Quốc vẫn còn tương đối lạc
hậu. Để đất nước trở nên giàu mạnh, vua Tần là Hiếu Công muốn tìm người có
tài năng giúp mình cải cách. Vừa dịp ấy có Thương Ưởng, một nhà chính trị
theo đường lối Pháp gia đến nước Tần, được Hiếu Công trọng dụng. Năm 359
TCN, Hiếu Công bắt đầu ban hành các luật cải cách của Thương Ưởng với
những nội dung chủ yếu:
Tăng cường trật tự trị an: Nhân dân cứ 5 nhà, 10 nhà được tổ chức
thành một nhóm để kiểm soát lẫn nhau và cùng chịu trách nhiệm chung. Nếu
một người phạm pháp thì những người kia phải tố giác. Nếu tố giác thì được
thưởng ngang với công chém được một đầu giặc ở ngoài mặt trận. Nếu không
tố giác thì bị chém ngang lưng, nếu che giấu cho người phạm tội thì bị xử
ngang với tội đầu hàng địch ở ngoài mặt trận.
Khuyến khích sản xuất nông nghiệp: Nếu ai sản xuất được nhiều lúa,
dệt được nhiều lụa thì được miễn lao dịch. Còn nếu ai bỏ nông nghiệp để đi
buôn hoặc vì lười biếng mà trở nên nghèo đói thì cả nhà bị biến thành nô lệ.
Khuyến khích lập quân công: Bất cứ ai chém được một đầu giặc thì
được thưởng tước một cấp, nếu muốn làm quan thì được cấp lương mỗi năm
50 thạch lúa. Ruộng vườn, nô lệ được chiếm hữu nhiều hay ít, quần áo ăn mặc
đẹp như thế nào đều căn cứ theo chức tước cao hay thấp. Dù là con quý tộc,
nhưng nếu không có chiến công thì cũng không được phong tước.
Sau khi ban hành những chủ trương cải cách trên, ở kinh đô có hàng
nghìn người phản đối, trong đó có cả Thái tử. Thương Ưởng cho rằng “Muốn
Chu. Đến năm 256 TCN và năm 249 TCN, hai nước này lần lượt bị Tần tiêu
diệt. Đến đây ở Trung Quốc chỉ còn 7 nước lớn và Tần đã trở thành một lực
lượng vô địch. Năm 230 TCN, Tần diệt Hàn, và sau đó đã liên tiếp diệt Triệu
(228 TCN), Ngụy (225 TCN), Sở (223 TCN), Yên (222 TCN), Tề (221 TCN).
Thời Chiến Quốc đến đây chấm dứt, Trung Quốc thống nhất.
Về tình hình kinh tế xã hội: Cũng giống như thời Xuân Thu thì tiến bộ
mới quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh tế thời kỳ này là sự ra đời của đồ sắt.
Đến thời Chiến Quốc, đồ sắt càng được sử dụng một cách phổ biến. Nhiều loại
công cụ bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi cuốc, xẻng, liềm, búa và một số khuôn đúc
sắt thuộc thời kỳ này đã được phát hiện.
Trong lĩnh vực nông nghiệp đã biết sử dụng gia súc làm sức kéo, đặc
biệt là vấn đề thủy lợi. Ở thời Chiến Quốc, các công trình thủy lợi được xây
dựng nhiều hơn. Các nước Ngụy, Tần đều có những kênh đào khá dài.
Các nghề thủ công thời Chiến Quốc lại càng có những bước tiến mới.
Riêng nghề luyện sắt có sự tiến bộ về mặt kỹ thuật. Ngoài việc làm rèn sắt,
người ta còn biết kỹ thuật đúc, do đó đã luyện được cả gang và thép.
Nền thủ công nghiệp tư doanh đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc cũng
phát triển. Những nghề đòi hỏi phải có nhiều vốn như nghề luyện sắt, nghề
làm muối thường do các nhà giàu kinh doanh. Họ phải nộp thuế bằng 3/10 thu
nhập cho nhà nước. Những nghề thủ công vốn là nghề phụ gia đình giờ đây
cũng không ngừng tách rời khỏi nông nghiệp để trở thành những nghề độc lập.
Chính bộ phận thủ công nghiệp này đã cung cấp các loại đồ dùng hàng ngày
cho nhân dân.
Thời Xuân Thu thì hoạt động thương nghiệp đã phát triển nhưng đến
thời Chiến Quốc cũng khá sôi nổi nhưng sang thời Chiến Quốc, nền thương
nghiệp của Trung Quốc càng phát triển hơn trước. Do đó, trong xã hội đã xuất
hiện một số lái buôn lớn có số vốn lên đến hàng vạn lạng vàng, chuyên đầu cơ
tích trữ và lũng đoạn thị trường.
Đến thời Chiến Quốc tiền tệ được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực:
trao đổi hàng hóa, trả tiền thuê nhân công, cho vay lấy lãi, nộp thuế. Tuy vậy,