ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN TRIẾT HỌC PHẠM THỊ THU PHƯƠNG
PHẠM THỊ THU PHƯƠNG VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM
VỀ CON NGƯỜI CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
6
1.1. Tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội
6
1.2. Tiền đề văn học – nghệ thuật, khoa học và một số triết lý trong
thần thoại Hy Lạp
15
1.2.1. Tiền đề văn học – nghệ thuật
15
1.2.2. Tiền đề khoa học
22
1.2.3. Triết lý trong thần thoại Hy Lạp
28
Chương 2: QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI Ở MỘT SỐ NHÀ TRIẾT
HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI TIÊU BIỂU
37
2.1. Quan niệm về con người ở các nhà triết học “tiền Xôcrát”
37
2.2. Quan niệm về con người ở các nhà triết học Hy Lạp cổ đại giai
đoạn cổ điển (Xôcrát, Platôn, Arixtốt)
58
2.3. Một số nhận xét về quan niệm con người ở các nhà triết học Hy
Lạp cổ đại
89
2.3.1. Giá trị tích cực
89
2.3.2. Một số hạn chế
92
triết học Mác về vấn đề con người để từ đó, khẳng định giá trị khoa học trong
tư tưởng triết học mácxít về con người, đồng thời thấy được sự vận dụng đúng
đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đường lối, chính sách
phát triển con người Việt Nam toàn diện cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. 2
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này có thể coi là sự đóng góp ít nhiều,
hữu ích vào việc tìm hiểu kho tàng lịch sử triết học và do vậy, cả trong việc kế
thừa, tiếp thu và phát huy những giá trị tốt đẹp của triết học phương Tây trước
Mác nói chung, triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng nhằm khẳng định giá trị
nhân văn của triết học Hy Lạp cổ đại.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài con người trong lịch sử triết học phương Tây đã có một số công
trình nghiên cứu, như:
- Vũ Minh Tâm (chủ biên), Tư tưởng triết học về con người, Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 1996.
Trong công trình này có độ dày 239 trang, các tác giả đã trình bày một
cách tương đối có hệ thống tư tưởng về con người trong lịch sử triết học, từ
triết học cổ đại đến triết học Mác – Lênin.
- Con người – những ý kiến mới về một đề tài cũ, (gồm 2 tập), Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1986 (An Mạnh Toàn dịch).
Đây là công trình gồm 2 tập với 641 trang, do An Mạnh Toàn dịch, Mai
Thanh hiệu đính. Trong cuốn sách này, các tác giả đã nghiên cứu những vấn
đề cơ bản về quá trình phát triển, về bản chất và những đặc trưng của con
người khi mới xuất hiện, khi sống trong xã hội nguyên thủy, trong các xã hội
có đối kháng giai cấp, và trong xã hội chủ nghĩa. Quan niệm của triết học
phương Tây hiện đại và những kết quả mới trong các công trình nghiên cứu
khoa học về con người cũng đã được đề cập trong cuốn sách này.
triết học Hy Lạp cổ đại, đồng thời cũng đã chỉ ra và phân tích quan niệm của
nền triết học này về con người.
- Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn, Đại cương lịch sử
triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh, 2006. 4
Đây là công trình biên soạn về lịch sử hình thành và phát triển triết học
phương Tây, từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức. Công trình
có độ dày 720 trang. Triết học Hy Lạp cổ đại được trình bày ở chương 2. Ở
đây, khi nói về quá trình hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại,
các tác giả đã tập trung luận giải tư tưởng triết học của Xôcrát, Platôn và
Arixtốt, trong đó quan niệm của các nhà triết học này về con người đã được
đề cập đến.
Ngoài ra, còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí Triết học, Lý luận
Chính trị… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ mới trình bày một
cách khái quát về quan niệm con người trong triết học Hy Lạp cổ đại mà chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Vì vậy, thực hiện đề tài này,
tác giả mong muốn lấp đi một phần của khoảng trống đó, đem đến một cái
nhìn toàn diện tương đối chi tiết hơn, về một trong những tư tưởng cốt lõi của
triết học Hy Lạp cổ đại, góp phần khẳng định giá trị của nó trong dòng chảy
tư tưởng triết học nhân loại.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của Luận văn này là phân tích, trình bày một cách có hệ
thống quan niệm về con người trong triết học Hy Lạp cổ đại qua tư tưởng một
số nhà triết học tiêu biểu để từ đó, đưa ra một số nhận định về giá trị tích cực
và hạn chế của các quan niệm đó.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ
6
Chương 1
ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI
QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
Đất nước Hy Lạp ngày nay là một quốc gia phát triển. Hy Lạp là thành
viên của nhiều tổ chức quốc tế, như Liên hợp quốc, NATO, Tổ chức Hợp tác
và Phát triển Kinh tế - OECD, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO và là một
thành viên của Liên minh châu Âu. Hy Lạp thiết lập quan hệ ngoại giao với
Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 15 tháng 4 năm 1975.
Thời cổ đại, Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất, có
ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Đây
chính là mảnh đất của những đền đài phế tích cổ xưa nằm rải rác khắp nơi trên
đất nước, nơi ra đời của nền dân chủ, triết học phương Tây và Thế vận hội
Olympic. Khó có thể kể hết những gì mà người Hy Lạp đã đóng góp cho nền
văn minh nhân loại trong các lĩnh vực triết học, mỹ thuật và kiến trúc, thi ca và
văn học Giờ đây, những thành tựu mà người Hy Lạp đã đem lại cho nhân loại
vẫn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ của hầu hết các dân tộc trên thế giới.
Sự hình thành tư tưởng triết học nói chung, quan niệm về con người nói
riêng không thể tách rời các điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và
bên ngoài mà trong đó, trước hết phải kể đến các điều kiện, tiền đề kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học và những triết lý trong thần thoại Hy Lạp.
1.1. Tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội
Hy Lạp giống như một bàn tay chìa các ngón ra biển Địa Trung Hải
trong bản đồ châu Âu. Phía Đông là lãnh thổ thuộc về châu Á. Ở thế kỷ IV –
các bang đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tập quán xã hội, nên
các cô gái Sparta luôn rèn luyện các môn thể thao để trở thành những bà mẹ
khỏe mạnh về thể chất. Dân Sparta hiếm khi đi đâu đó mà thường sống khép 8
mình trước những ý tưởng mới có thể đã gợi hứng cho sự theo đuổi về mặt trí
tuệ, như triết học hay viết sử.
Athens ở Hy Lạp là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất lúc bấy
giờ, có ảnh hưởng rộng khắp vùng Địa Trung Hải. Đây là một thành bang
rộng lớn, được mở rộng bờ cõi vào năm 700 trước CN, bao gồm toàn bộ vùng
bình nguyên Attica. Đây cũng là thành bang luôn quan tâm đến việc mở rộng
buôn bán với những chiều hướng chính trị mạnh mẽ, năng động. Chế độ quân
chủ ở Athens đã chấm dứt năm 683 trước CN. Thay vào đó các thành phố
được quản lý bằng ba, sau đó là chín quan chấp chính (những nhà quản trị
được lựa chọn hàng năm bằng một hội nghị mà bởi tất cả nam công dân
trưởng thành bỏ phiếu bầu cử). Sau nhiệm kỳ một năm, chín quan chấp chính
vĩnh viễn tham gia một hội đồng gọi là Tòa án tối cao. Đây là tổ chức có ảnh
hưởng mạnh hơn Hội đồng chấp chính trong việc đề ra chính sách công.
Giữa hai thành bang Athens và Sparta đã xảy ra cuộc chiến tranh tàn
khốc do Sparta khởi sự. Athens đã thua trong cuộc chiến Peloponnese và quân
Sparta đã áp đặt lên thành bang Athens một chế độ bù nhìn, gọi là bè lũ Ba
mươi Bạo chúa vào năm 404 trước CN. Khi người dân Athens giành lại được
quyền hành, họ đã khôi phục liên minh hải quân vào năm 394 trước CN. Mặc
dù có ít thành viên, nhưng sự hoang đàng của họ không giảm bớt. Bất chấp
những hứa hẹn về tôn trọng sự độc lập của các thành viên liên minh, quân
Athens bắt dân chúng phải cống nạp như khi còn ở trong Liên minh Delos và
do vậy, đã diễn ra các cuộc nổi dậy của dân chúng và liên minh này sụp đổ
vào khoảng năm 355 trước CN. Cuộc chiến tranh giữa hai thành bang này là
một trong những cơ sở chính trị - xã hội cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực thế
10
Sự phát triển buôn bán đường dài thậm chí còn nổi bật hơn. Các nhà cai
trị thời Hellene
1
đã thiết lập một hệ thống tiền tệ hợp lý, xây dựng đường xá,
kênh đào, tảo trừ những vùng biển có hải tặc. Các thương nhân có thể buôn
bán về phía Đông đến Ấn Độ và về phía Tây vượt qua Địa Trung Hải đến bờ
biển Đại Tây Dương thuộc châu Phi và châu Âu. Thế nhưng, sự thịnh vượng
của Hy Lạp lại không được phân bố đồng đều. Các nhà cai trị và những thành
viên của tầng lớp thượng lưu (thường là người Hy Lạp) đã tích góp những tài
sản kếch sù, nhưng chỉ nhỏ giọt xuống cho những tiểu nông và người lao
động và điều này đã dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo và làm gia tăng xung đột
xã hội.
Các đô thị ở Hy Lạp, với vị trí thuận tiện, đã tiếp thu được các luồng tư
tưởng mới từ phương Đông chuyển tới nhờ quan hệ mậu dịch giữa các dân
tộc. Người Hy Lạp đã tiếp thu được từ Ai Cập quan niệm coi nước là nguồn
gốc của thế giới sinh vật, của vạn vật; từ Babylone là quan niệm của nhà thiên
văn học Selevka với giả thuyết coi vũ trụ là một hệ thống mà trong đó, mặt
trời là trung tâm, là khởi thủy của tất cả vạn vật, còn mặt đất chỉ là một đại
dương; từ nhà hiền triết Ấn Độ Brihaspati là nhận định coi thế giới vật chất và
vạn vật, sinh vật, kể cả con người đều do 4 nguyên tố tạo ra: lửa, không khí,
nước và đất, rằng “chúng ta không tin ở một thiên đường nào cả, ở một sự giải
thoát nào cả, và cũng không tin linh hồn còn sống được trong thế giới siêu
trần” [xem 62]. Cũng nhờ vị trí thuận lợi, các đô thị ở Hy Lạp đã tiếp thu
được nhiều kiến thức mới về kỹ thuật sản xuất. Cùng với đó, người Hy Lạp,
khi tiếp nhận những khái niệm trừu tượng có khả năng kích thích hoạt động
khái quát của tư duy, đã chuyển từ thực tiễn đến lý luận, từ nghệ thuật sang
khoa học, từ khoa học sang triết lý.
không giàu, không nghèo” và các tầng lớp trung lưu, luôn giữ thái độ trung
dung trong mọi trường hợp và đối với mọi vấn đề giai cấp đang diễn ra trong
xã hội cổ đại. Điều đó cho phép các tầng lớp trung lưu đông đảo đóng vai trò
“hoãn xung” giữa các tầng lớp quá khích, cực đoan, luôn đấu tranh để đưa thể 12
chế Polis vào tình trạng xung đột liên miên. Nhu cầu phát triển kinh tế, xây
dựng một hệ thống thế giới quan mới được coi là một lợi khí đấu tranh. Song,
trong phạm vi kinh tế cũng như trong phạm vi chính trị, tầng lớp quý tộc
không bao giờ khoanh tay đứng nhìn. Do đó, triết lý cổ đại Hy Lạp luôn mang
nặng tính chiến đấu.
Hình thái xã hội Hy Lạp cổ đại là hình thái chiếm hữu nô lệ. Nói về
hình thái này, trong Chống Đuy - rinh, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chỉ có
chế độ nô lệ mới làm cho sự phân công lao động có thể thực hiện được trên
một quy mô rộng lớn hơn giữa nông nghiệp và công nghiệp, và do đó, mới có
thể có thời kỳ hưng thịnh nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy
Lạp. Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ
thuật và khoa học Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có Đế chế La Mã.
Mà không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đế chế La Mã thì không
có châu Âu hiện đại. Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn
bộ sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái
trong đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọi
người thừa nhận. Theo nghĩa đó, chúng ta có quyền nói rằng: không có chế độ
nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại” [24, tr.254].
Vào khoảng thế kỷ IX đến thế kỷ VII trước CN, ở Hy Lạp, chế độ công
xã thị tộc tan rã dẫn đến sự hình thành và phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ.
Giai đoạn đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ bắt đầu từ thế kỷ VII đến thế kỷ V
trước CN. Đây cũng là giai đoạn hình thành và bắt đầu phát triển của triết học
Hy Lạp cổ đại. Từ thế kỷ thứ V trước CN, Hy Lạp cổ đại bước vào thời kỳ
Do sản xuất phát triển và nhu cầu lao động trong xã hội tăng nhanh,
nên những tù binh trong chiến tranh đã không bị giết, mà được biến thành loại
hàng hóa đặc biệt để mua, bán, trao đổi… Nô lệ được sử dụng trong các
ngành kinh tế, một mặt, tạo ra bước phát triển quan trọng trong lực lượng sản 14
xuất; mặt khác, lại làm cho mâu thuẫn giai cấp giữa chủ nô và nô lệ càng
thêm gay gắt. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã liên tiếp xảy ra. Giai cấp
chủ nô không chỉ dùng bạo lực đàn áp nô lệ, mà còn sử dụng các loại hình văn
hóa như một công cụ để thống trị, áp bức về mặt tinh thần nhằm bảo vệ quyền
lợi của giai cấp mình. Triết học là một trong những loại hình của ý thức xã hội
trong xã hội Hy Lạp đã ra đời rất sớm và được coi là “khoa học của mọi khoa
học”, bao gồm hầu hết các lĩnh vực thiên văn, địa lý, toán học, y học, sử học,
văn học… Trong triết học, nhiều vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề con người,
được đặt ra và đòi hỏi phải được giải quyết, như số phận, nỗi khổ đau, niềm
hạnh phúc… Tiếp thu và phát triển những tư tưởng triết học của các nước
phương Đông, triết học Hy Lạp cổ đại đã đề ra và giải quyết nhiều vấn đề
nhân bản.
Nhìn chung, nền kinh tế chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại là nền kinh tế
phát triển. Sự phát triển của kinh tế không chỉ đặt ra những vấn đề thúc đẩy
triết học ra đời, phát triển, mà còn dẫn tới sự phân công lao động xã hội thành
lao động trí óc và lao động chân tay. Điều này góp phần hình thành tầng lớp
trí thức – những người lao động trí óc, những nhà khoa học, trong đó có các
nhà triết học.
Tất cả những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trên đã tạo nên những
điều kiện thuận lợi cho triết học Hy Lạp cổ đại nảy sinh, tồn tại và phát triển.
Những thay đổi đó luôn đòi hỏi phải được củng cố về mặt tư tưởng. Chính vì
vậy mà triết học Hy Lạp cổ đại đã được hình thành và phát triển trên nhiều địa
phương khác nhau của “Đại Hy Lạp”. Đến lượt mình, sự phát triển này của
thời, nó cũng đã phản ánh những kinh nghiệm của cuộc sống lao động và ước
vọng của người Hy Lạp. Xuất hiện ở giai đoạn đầu của nền văn minh Hy Lạp,
thần thoại được các ngành nghệ thuật sử dụng để xây dựng nên những tác 16
phẩm thể hiện tư tưởng của người Hy Lạp và như C.Mác đã khẳng định “vật
liệu của nghệ thuật Hy Lạp là thần thoại Hy Lạp”.
Nội dung thứ hai trong văn học Hy Lạp là thơ ca, được bắt đầu từ thơ
ca dân gian với hai tập sử thi nổi tiếng của nhà thơ mù Hôme - Iliát và Ôđixê.
Hai tập sử thi này được coi là hai tác phẩm tiêu biểu về tài năng văn học của
người Hy Lạp cổ đại. Trên cơ sở truyện dân gian “Truyền thuyết về thành
Troy”, hai tập sử thi này đã ra đời và được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Iliát
mô tả năm thứ 10, năm quyết liệt nhất của cuộc chiến tranh tương tàn giữa Hy
Lạp và thành Troy ở Tiểu Á. Hai nhân vật chính trong Iliát là dũng tướng
Achilles và dũng sĩ Hector. Trong trận đánh cuối cùng, Achilles đã ra trận để
trả thù cho bạn mình là Patroclus đã tử trận. Hector, con vua thành Troy đã bị
giết chết. Lễ mai táng Hector kết thúc thiên trường ca dài 15863 câu thơ. Bộ
Ôđixê kể lại cuộc hành trình phiêu bạt của Ôđixê – một viên tướng Hy Lạp.
Do Ôđixê làm mù mắt Olifem, thần biển Poseidon đã nổi giận ngăn trở cuộc
hành trình này và khiến cho Ôđixê phải 10 năm phiêu bạt đầy tai ương, và chỉ
nhờ các thần giúp đỡ và nhờ mưu trí, Ôđixê mới trở về quê hương để gặp lại
người vợ thủy chung. Bản trường ca này dài 12110 câu thơ.
Iliát và Ôđixê không chỉ có giá trị văn học, mà còn là nguồn sử liệu
phong phú của lịch sử Hy Lạp. Vào thế kỷ VIII – VII trước CN, nhà thơ
Hêxiốt đã trở thành nhân vật nổi tiếng với hai tác phẩm lớn - Teôgônia (Gia
phả hay là nguồn gốc của các thần) và Công việc và tháng ngày. Đây là hai
tác phẩm văn học nói về cuộc đời cơ cực của người nông dân dưới ách thống
trị của bọn quý tộc và ngợi ca người lao động.
Thơ trữ tình Hy Lạp nảy sinh và phát triển cao vào thế kỷ VI trước CN.
Ngoài cơ thể và chân tay dùng để múa, loài người còn có miệng. Khi
chế tạo ra các dụng cụ, loài người đồng thời cũng phát ra tiếng kêu, sau đó
thành tiếng nói để điều hòa những động tác trong lao động tập thể và điều 18
khiển lao động. Tiếng nói kết hợp với nhịp điệu phát sinh ra bài ca lao động
nhằm làm cho tinh thần người lao động phấn khởi, bàn tay trở lên dẻo dai
hơn. Tới một giai đoạn, các tiếng kêu điều khiển và điều hòa lao động tập thể
không dùng miệng để phát ra nữa, mà được các dụng cụ phát ra, bắt chước
miệng người. Đây là mầm mống của nhạc không lời, nhạc cử hành trang lễ
bằng nhạc cụ. Thi ca xuất hiện khi yếu tố Vũ bị loại trừ ra ngoài ca hát, nhưng
Thi ca cũng như Vũ, Nhạc đều có nhịp điệu là yếu tố chung của Thơ, Vũ,
Nhạc. Ở Hy Lạp cổ đại, trong giai đoạn đầu, thi sĩ đồng thời là nhà tiên tri và
chịu ảnh hưởng của một “thần hứng”. C.Mác nhận xét rằng “nghệ thuật Hy
Lạp, - trong đó tất nhiên có thi ca-, phát triển trên cơ sở thần thoại và thần
thoại là đất nuôi dưỡng văn nghệ Hy Lạp” [62, tr.127].
Ở Hy Lạp cổ đại, trong giai đoạn đầu, chúng ta còn thấy xuất hiện một
chủ đề khác, xuyên suốt nền văn minh phương Tây – chủ đề Nhà nước với tư
cách một hệ thống chính trị với các luật lệ được dân chúng tạo ra và có sự
tham gia bảo đảm của các công dân. Người Hy Lạp đã phát triển một nền văn
hóa công dân, nền văn hóa đã phá vỡ các truyền thống quân chủ của vùng Cận
Đông. Họ đã sống trong những xã hội độc lập, hay thành bang. Các thành
bang này thường do một tầng lớp thượng lưu thống trị, nhưng ngay cả trong
cấu trúc này thì quyền hành cũng đã được mở rộng tới mức vượt xa quyền lực
của một nhà thống trị đầy quyền lực trong những nền văn minh cổ xưa. Theo
thời gian, nền văn hóa Hy Lạp đã hồi sinh sau thời kỳ đen tối để bước vào
thời kỳ tràn trề sinh lực nghệ thuật và trí tuệ phi thường. Thi ca và nghệ thuật
đã phá vỡ những ranh giới cũ và các sử gia đã mượn thuật ngữ ở các giai đoạn
sau này để gọi phong trào văn hóa này là thời kỳ Phục hưng Hy Lạp.
trọng đối với xã hội cổ đại Hy Lạp.
Đến giai đoạn công xã nguyên thủy tan rã, tôn giáo ở Hy Lạp cổ đại lúc
này là tôn giáo đa thần. Các thần thánh xuất hiện hoặc dưới hình thể Vật, hoặc 20
dưới hình thể nửa người nửa vật, hoặc dưới hình thể người nhưng với vóc
dáng và đức tính cao hơn người. Tôn giáo này giản dị và thiết thực. Người và
thần giao ước với nhau, người thì cúng hiến lễ phẩm, thần thì phù hộ. Thoạt
đầu, không có đền điện, tượng, đài, lễ nghi, thầy cúng chuyên trách làm trung
gian giữa người và thần, cũng không có lý luận, giáo điều, giáo lý; nhưng sau
đó quan điểm thần thánh bảo hộ, che chở người lương chính, công bằng, bảo
vệ chính nghĩa đã được hình thành. Vào thế kỷ thứ VII – VI trước CN, khi
kinh tế đã có sự phát triển, tôn giáo đa thần đã phản ánh thực tế của một xã
hội mà ở đó, tầng lớp quý tộc nắm quyền thống trị. Với sự thay đổi của ý
thức, của nhu cầu, những công dân thị thành đã đòi hỏi ở các thần thánh một
nền đạo đức cao siêu và mong ước ở tôn giáo, một sự đáp ứng sát thực hơn
đối với nhu cầu tâm linh của họ. Họ cũng ngày càng tin tưởng hơn ở một lực
lượng siêu nhiên có khả năng bảo vệ chính nghĩa, bênh vực người hiền, kẻ
khó, cho phép công lý thắng thế, trừng phạt bạo lực khi bị tầng lớp quý tộc áp
bức, bóc lột. Khi tôn giáo đa thần không còn khả năng đáp ứng những nhu
cầu này, họ đã buộc phải tìm kiếm những tôn giáo khác. Trong số các tôn giáo
này, có ba tôn giáo được công chúng nhiệt liệt hoan nghênh - đó là tôn giáo
Eleusis, tôn giáo Orpheus và tôn giáo Dionysos.
Tôn giáo trong xã hội Hy Lạp cổ đại bao gồm hai yếu tố cơ bản: chủ
quan và khách quan. Yếu tố chủ quan - đó là sự rung động của con người vừa
kính, vừa sợ trước một lực lượng siêu nhiên mà với trình độ hiểu biết còn thấp
kém khó mà nắm bắt được. Sự rung động ấy được người Hy Lạp gọi là
Thambos – cái có khả năng, đưa người Hy Lạp đến chỗ tin tưởng vào các thế
lực siêu nhiên và tôn giáo đa thần. Yếu tố khách quan – đó là đời sống xã hội.
có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất ở thời điểm đó là chủ nghĩa khoái lạc
(Epicureanism) và chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism) đã đưa ra những triết lý
nhằm khơi gợi những cảm xúc khoái lạc và bình an trong mỗi con người. Và 22
giống như kịch nghệ và lịch sử, triết học Hy Lạp cổ đại đã trở thành một
phương tiện để luận giải và nhận thức sự biến đổi đó trong cuộc sống con
người. Song triết học này đã không bao giờ quay lưng lại với tôn giáo. Hầu
hết các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều cố gắng tìm kiếm trật tự của thế giới
thần thánh trong bức tranh tổng thể của vũ trụ.
1.2.2. Tiền đề khoa học
Hy Lạp thời kỳ cổ đại chưa có tri thức khoa học thực nghiệm. Với Hy
Lạp khi đó, không chỉ thực nghiệm còn ở trình độ hết sức thô sơ, mà cả thực
tiễn sản xuất, công nghệ còn ở trạng thái phôi thai, chưa được tổng kết về mặt
lý luận. Mặc dù vậy, triết học tự nhiên vẫn đạt tới trình độ phát triển cao;
nhiều phỏng đoán thiên tài đã xuất hiện trên cơ sở một số lượng thông tin ít
ỏi, nhưng đã có thể được sử dụng làm tiền đề cho những nghiên cứu kinh
nghiệm phát triển, đặc biệt là các quan niệm về nguyên tử và những luận
thuyết về sự hình thành vũ trụ.
Ở Hy Lạp cổ đại, tầng lớp tăng lữ không có một vị trí quan trọng trong
đời sống xã hội, bởi họ thường không hoàn thành các chức năng của nhà khoa
học. Các nhà khoa học thường xuất hiện từ tầng lớp thị dân khá giả, tầng lớp
thương gia và chính khách. Thực ra, điều này gắn liền với sự xuất hiện của triết
học với tư cách một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội. Song bản thân sự xuất
hiện này đã không thể có được, nếu như không có sự phát triển của khoa học
mà lao động trí óc đã đạt tới ở các Nhà nước – thị thành Hy Lạp cổ đại.
Những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học đã phát triển từ sự giao thoa
giữa các nền văn hóa thuộc Hy Lạp cổ đại. Sự kết nối văn hóa cùng với những
điều kiện khác đã tạo điều kiện cho sự tiến bộ của khoa học.