CHUYÊN ĐỀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH - Pdf 27

CHUYÊN ĐỀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
(Phạm Tiến Duật)
I - GỢI Ý
1. Tác giả:
Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh
Phú Thọ. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, năm 1964, Phạm Tiến Duật gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến
đường Trường Sơn và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu
của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước.
Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên
xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Thơ ông có giọng điệu sôi
nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.
Các tác phẩm đã xuất bản: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Thơ
một chặng đường (thơ, 1971); ở hai đầu núi (thơ, 1981); Vầng trăng và
những quầng lửa (thơ, 1983); Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994);
Nhóm lửa (thơ, 1996).
Nhà thơ đã được nhận Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969-
1970.
2. Tác phẩm:
Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm thuộc chùm thơ của
Phạm Tiến Duật được tặng giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm
1969-1970.
Trong bài thơ, tác giả đã thể hiện khá đặc sắc hình ảnh anh bộ đội cụ
Hồ hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung và những chiếc xe không kính ngộ
nghĩnh giữa tuyến đường Trường Sơn lịch sử thời kì kháng chiến chống
Mĩ.
Với nhan đề "Nói thêm về tiểu đội xe không kính", tác giả Võ Minh
trong Tài hoa trẻ, số 347-348, tháng 12-2004, đã viết:
"Thường mỗi bài thơ đều có xuất phát điểm thư hứng. Hứng mà xuất
thân thì bài thơ lấy "hứng" làm chủ đạo, từ đó cấu trúc thành "tứ", thành

trong bất kì hoàn cảnh nào. Từng đơn vị phải có điển hình cụ thể, phải
tạo được "cái hích" tiến lên của đơn vị mình. Chính vì thế ở tiểu đoàn 60
thành lập một tiểu đội mới bao gồm những chiến sĩ cảm tử lái những
chiếc xe "thương tích" vì trận mạc. Phạm Tiến Duật đã đi trên một chiếc
xe của tiểu đội ấy để chở hàng và bài thơ về tiểu đội xe không kính ra
đời sau lần đi như thế. Bài thơ có tên gọi bình dị nhất. Viết xong, anh
đọc ngay cho chính những chiến sĩ trong cuộc nghe trước khi nó được
đăng lên tờ Tin tức Mặt trận của đoàn 559 và trước khá lâu trên báo Văn
nghệ trong một cuộc dự thi. Sau lần đọc đó, có một thông lệ của đơn vị
61 là, trước mỗi lần cho xe "xuất kích" cả tiểu đoàn ngồi nghe đọc bài
thơ.
Chỉ một tuần sau khi bài thơ ra đời, cả mặt trận có vô số tiểu đội xe
không kính. Sau này, vào những năm cuối cuộc kháng chiến, đã có
những chiến sĩ lái xe tự ý đập vỡ kính để mắt thường nhìn trực tiếp mặt
đường chằng chịt hố bom cho rõ hơn dưới ánh sáng lù mù của chiến đèn
gầm soi. Thậm chí, có người còn tháo cả cảnh của buồng lái để tiện cho
việc xử lí tình huống khi xe bị máy bay AC130 săn đuổi - loại máy bay
bắn rốc-két hay đạn 27 li vào mục tiêu di động bằng thiết bị dò âm thanh
mặt đất và bằng kính nhìn có tia hồng ngoại.
Mạn phép nói thêm cái chất thực của bài thơ để chúng ra hiểu rằng,
một bài thơ có nhiều khi vượt qua khỏi phạm trù cái đẹp văn chương
thuần tuý, dâng cho cuộc sống những giá trị thực tiễn lớn lao biết
nhường nào. Bài thơ " Bài thơ về tiểu đội xe không kính" có cái mãnh
lực thần kì ấy, nó vừa mang tính chiến đấu nóng bỏng, tính thời sự tức
thời vừa mang tầm vóc lịch sử! Tất nhiên một bài thơ như thế phải là
tiếng nói của cuộc sống thực hào hùng. Đó là tiếng nói chân thành, độc
đáo của người trong cuộc. Nó như một tuyên ngôn về lẽ sống của một
thế hệ người Việt Nam!
Giờ đây mỗi lần có dịp đọc lại hay nghe ai đó đọc lên bài thơ này,
không ít người như tôi lại bồi hồi nhớ về một quãng đời chiến tranh ở

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Kính vỡ vì bom giật, bom rung, điều giải thích ấy có thể hiểu được.
Đến câu thơ thứ ba, ý thơ đột ngột chuyển hẳn sang một hướng khác, tả
lại phong thái của người chiến sĩ lái xe ngồi trên chiếc xe không kính đó:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Hai tiếng ung dung vừa gợi hình, vừa tả được thái độ tự tin, được vẻ
phớt đời, coi thường bom đạn của người chiến sĩ lái xe. Tư thế ung dung
ngồi trong buồng lái mặc cho bom giật, bom rung lại càng được khẳng
định khi ta dõi theo cặp mắt người chiến sĩ:
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Câu thơ ngắt làm ba nhịp, hai nhịp đầu hướng cặp mắt người chiến sĩ
tới hai đối tượng: đất và trời. Tới nhịp thứ ba, đối tượng không còn,
người chiến sĩ hướng cặp mắt tới phía trước trong tư thế bình thản, tự
nhiên và dũng cảm: nhìn thẳng. Nhìn thẳng vào bom đạn kẻ thù, nhìn
thẳng vào con đường đang bị bắn phá đầy chết chóc để lái xe vượt qua
tất vả. Cái tứ nhìn thẳng này sẽ dẫn tới câu kết là lời giải thích nguyên
nhân vì sao người chiến sĩ lái xe lại có dũng khí ấy:
Một trái tim yêu nước, yêu đời. Một trái tim đập vì nước Nam thân
thương như Bác Hồ thường nói:
Vì trên xe có một trái tim
Vượt lên trên chết chóc, bom đạn, anh chợt nhận ra:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái
Hai khổ thơ sau của đoạn trích ghi lại hình ảnh anh chiến sĩ lái xe
đang hăng hái làm nhiệm vụ đưa hàng ra tiền tuyến trên chiếc xe không
kính. Cũng vẫn cái giọng ngang tàng đó, người chiến sĩ kể:
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status