ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÁ TRA,
CÁ BASA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GVHD: Mai Văn Nam
Nhóm thực hiện:
Trương Minh Chiến B1309249
Dương Thanh Nhi B1309301
Võ Minh Nhựt B1309305
Mai Thị Thu B1309333
Nguyễn Thị Minh Thùy B1309334
Lai Nguyễn Phương Toàn B1309342
Nguyễn Thị Thanh Trúc B1309349
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hơn 10 năm trở lại đây, ngành thủy sản ở nước ta đã có những bước phát
triển nhanh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc
dân. Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc
dân tăng dần qua các năm. Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, giúp
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn và góp phần rất lớn trong việc xoá đói giảm
nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ đồng bằng, nông thôn ven
biển, mà cả ở các vùng núi, trung du và Tây nguyên.
Ngày nay, Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy việc mở rộng quan hệ hợp tác, đẩy mạnh hoạt động ngoại
thương đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm tận dụng và phát triển tối đa mọi nguồn lực
sẵn có, từ đó nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sự phát triển đất nước. Trong khi
đó, thuỷ sản là mét trong những ngành kinh tế mũi nhọn và là thế mạnh của Việt nam.
Trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu của Việt nam không ngừng tăng nhanh,

- Tìm hiểu thực trạng xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL trong những năm gần
đây.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của việc xuất khẩu cá tra, cá basa đến thị
trường nước ngoài.
- Chỉ rõ những ảnh hưởng của hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa đến sự phát
triển kinh tế.
- Đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực đến sự phát
triển kinh tế.
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian: Đồng bằng sông Cửu Long
1.3.2 Thời gian: Tháng 1 đến tháng 5 năm 2015
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng xuất khẩu cá tra, cá basa
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Phạm Huy, 2010. Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở
ĐBSCL. Đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả như lập
bảng phân phối tần số, trình bày dữ liệu bảng và biểu đồ để cho chúng ta hiểu rõ hơn về
tình hình xuất khẩu, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh ĐBSCL qua
các năm hay kim ngạch xuất khẩu của toàn vùng. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu cùng
loại hay khác nhau có liên hệ nhau để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một
doanh nghiệp ở các thị trường khác nhau. Phân tích SWOT những điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội hay thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL, từ đó đưa
ra các giải pháp thích hợp và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản.
3
Võ Thúy Ngân, 2010. Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa tại vùng
ĐBSCL từ năm 2009 – 2010. Tác giả chủ yếu thu thập số liệu từ báo cáo của niên giám
thống kê, từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành (kinh tế nông nghiệp), Internet và các
phương tiện truyền thông để phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa ở ĐBSCL. Đề
tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng nuôi trồng và xuất khẩu
cá tra, cá basa ở ĐBSCL. Sau đó nêu lên những thuận lợi và khó khăn của hoạt động xuất
khẩu cá tra, cá basa ở đây tới các thị trường khác trên thế giới. Từ đó đề xuất một số giải

- Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà các doanh nghiệp xuất khẩu có thể phân bổ chi
phí cố định cho nhiều sản phẩm hơn, bớt được giá thành sản xuất và tăng thêm lợi nhuận.
Giá thành thấp hơn cũng có nghĩa là giá bán thấp hơn tạo điều kiện cho hàng hóa xuất
khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc khối lượng hàng hóa xuất khẩu tăng
giúp cho sản xuất trong nước tăng trưởng cũng có nghĩa là sử dụng thêm được năng lực
còn bỏ trống chưa dùng.
Tóm lại, xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế.
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán
trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm,
hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đẩy mạnh sản xuất hàng
hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân
dân.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên
của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng
hoá hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một
quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước
này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào
hoạt động kinh doanh này.
2.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu
- Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng trong giao thương quốc tế, thông qua
nguồn thu ngoại tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhập khẩu cho nước khác.
5
- Phát triển hoạt động xuất khẩu giúp tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động xuất
khẩu, thúc đẩy mở rộng quy mô và phát triển sản xuất, sử dụng năng lực thừa, tạo việc
làm cho người lao động.
- Xuất khẩu còn thúc đẩy việc phát minh sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa
học – công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Xuất khẩu góp phần vào sự phân công lao động giữa các nước trên thế giới, đồng
thời giúp tăng cường hợp tác quốc tế.

Calo từ
chất béo
Tổng
lượng chất
béo
Chất béo
bão hòa
Cholesteol Natri Protein
170 cal 60 cal 7 g 2 g 22 mg 70,6 mg 28 g
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
2.1.3 Sản phẩm cá tra, cá basa phile đông lạnh xuất khẩu chủ yếu
6
Hầu hết cá tra và basa sau khi nuôi được chế biến dưới dạng đông lạnh trước khi
đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Các tỉnh nuôi cá tra và basa ở Đồng bằng sông Cửu
Long đều có doanh nghiệp chế biến thủy sản gắn với các làng bè nuôi cá. Đứng trước sự
cạnh tranh trên thị trường, hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy sản đều nhập dây
chuyền thiết bị đông lạnh từ nước ngoài và áp dụng các quy định về vệ sinh an toàn thực
phẩm theo tiêu chuẩn của HACCP.
Một phần lớn sản lượng cá tra và basa philê đông lạnh được xuất khẩu. An Giang,
tỉnh chủ lực xuất khẩu cá tra, cá basa là nơi tập trung những doanh nghiệp xuất khẩu thủy
sản lớn như Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish), Công ty xuất
nhập khẩu thực phẩm An Giang (Afiex) và Công ty TNHH Nam Việt. Các doanh nghiệp
lớn ở các địa phương khác gồm Công ty Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp), Công ty Cataco (Cần
Thơ) và Công ty Cafatex (Cần Thơ). Các doanh nghiệp này chiếm tới 95% kim ngạch
xuất khẩu cá philê đông lạnh của Việt Nam.
Kể từ khi Việt nam bắt đầu hội nhập kinh tế thế giới và chấp nhận những nguyên
tắc của thương mại quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập Khối Hợp Tác Kinh tế Châu Á
Thái Bình Dương (APEC), ngành công nghiệp sản xuất cátra, cá basa của đất nước đã
phát tri ển nhanh chóng (Cohen and Hiebert, 2001), tạo công ăn việc làm cho hơn
500.000 lao động (Narog, 2003). Trong sự hợp tác gần gũi với các nhà nghiên cứu thủy

MÔ TẢ
Tiếp nhận nguyên liệu Cá nguyên con còn sống,
chất lượng tươi tốt. - - Cá
- Cá sống được vận chuyển
từ khu vực khai thác đến
8
không bệnh, không khuyết
tật. Trọng lượng³ 500g/
con.
Công ty bằng ghe đục để
cho cá còn sống. Từ bến cá
được cho vào thùng nhựa
chuyên dùng rồi chuyển
nhanh đến khu tiếp nhận
bằng xe tải nhỏ. Tại khu
tiếp nhận QC kiểm tra chất
lượng cảm quan (cá còn
sống, không có dấu hiệu bị
bệnh).
Cắt tiết- rửa 1
- Cá được giết chết bằng
cách cắt hầu. Cá sau khi
giết chết cho vào bồn nước
rửa sạch.
Fillet
- Miếng fillet phải nhẳn,
phẳng.
- Không sót xương, phạm
thịt.
- Sử dụng dao chuyên dùng

thịt miếng cá.
Chỉnh hình - Không còn thịt đỏ, mỡ,
xương.
- Nhiệt độ BTP £ 15
0
C
- Chỉnh hình nhằm loại bỏ
thịt đỏ, mỡ trên miếng
fillet. Miếng fillet sau khi
chỉnh hình phải sạch phần
thịt đỏ, mỡ, không rách
9
thịt, không sót xương, bề
mặt miếng fillet phải láng.
Soi ký sinh trùng
Không có ký sinh trùng
trong mỗi miếng fillet.
- Kiểm tra theo tần suất 30
phút/ lần.
- Kiểm tra ký sinh trùng
trên từng miếng fillet bằng
mắt trên bàn soi.
- Miếng fillet sau khi kiểm
tra ký sinh trùng phải đảm
bảo không có ký sinh
trùng. Những miếng fillet
có ký sinh trùng phải được
loại bỏ. QC kiểm tra lại với
tần suất 30 phút/ lần.
Rửa 3

vào máy quay, số lượng cá
100 ¸ 400 kg/ mẽ tuỳ theo
máy quay lớn hay nhỏ. Sau
đó cho dung dịch thuốc (đá
vẫy, muối + thuốc, nước
lạnh nhiệt độ 3 ¸ 7
0
C) vào
theo tỷ lệ cá: dịch thuốc là
3 : 1.
Phân cỡ, loại
- Phân cỡ miếng cá theo
gram / miếng, Oz/ miếng
hoặc theo yêu cầu khách
hàng. Cho phép sai số≤ 2%
- Cá được phân thành các
size như : 60 -120; 120
-170; 170 - 220; 220 - Up
(gram/ miếng) hoặc 3 – 5, 5
– 7, 7 – 9, 4 – 6, 6 – 8, 8 –
10, 10 – 12 (Oz/ miếng),
hoặc theo yêu cầu của
khách hàng
Cân 1
- Cân : trọng lượng theo
yêu cầu khách hàng. Đúng
theo từng cỡ, loại
- Cá được cân theo từng cỡ,
loại trọng lượng theo yêu
cầu khách hàng

C ¸ 4
0
C
- Thời gian chờ đông ≤ 4
giờ.
- Nếu miếng fillet sau khi
xếp khuôn chưa được cấp
đông ngay thì phải chờ đông
ở nhiệt độ và thời gian qui
định. Hàng vào kho chờ
đông trước phải được cấp
đông trước, nhiệt độ kho
chờ đông duy trì ở
-1
o
C ¸ 4
o
C, thời gian chờ
đông không quá 4 giờ.
Cấp đông
- Thời gian cấp đông ≤ 3 giờ.
- Nhiệt độ trung tâm sản
phẩm: ≤-18
0
C.
- Nhiệt độ tủ cấp đông:
- 35 ¸ - 40
o
C.
- Đối với tủ đông tiếp xúc

dung bên trong sản phẩm.
11
theo quy định khách hàng.
- Thời gian bao gói không
quá 30 phút/ tủ đông
Bảo quản
- Nhiệt độ kho lạnh :
T
0
= -20
0
C ± 2
0
C
Sau khi bao gói, sản phẩm
cuối cùng sẽ được chuyển
đến kho lạnh và sắp xếp
theo thứ tự, bảo quản ở
nhiệt độ -20
0
C ± 2
0
C.
2.1.5 Quy trình xuất khẩu cá tra, cá basa
Đáp ứng đủ các điều kiện quy định xuất khẩu do Bộ thủy sản ban hành. Trực tiếp
làm thủ tục xuất khẩu với Hải quan.
2.1.5.1 Yêu cầu về nguyên liệu
- Có xuất xứ từ các cơ sở nuôi nằm trong vùng nuôi được phép thu hoạch theo qui
định của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 130/2008/QĐ-BNN ngày 31/12/2008
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kiểm soát dư lượng các chất độc hại

Tên chỉ tiêu Mức
1.Hàm lượng tổng số Nitơ bazơ bay hơi
tính bằng số mg trong 100g sản phẩm
không lớn hơn mức cho phép.
25
2. Hàm lượng Borat tình bằng số mg trong
1 kg sản phẩm
Không cho phép
3. Dư lượng kháng sinh tính bằng số mg
trong 1 kg sản phẩm
Không cho phép
4. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tính
bằng số mg trong 1 kg sản phẩm
Không cho phép
Nguồn: Nguyễn Hoàng Trung, 2009
Chỉ tiêu vi sinh của sản phẩm phải đúng theo mức quy định trong bảng dưới đây:
Bảng 2.6 Chỉ tiêu vi sinh
Tên chỉ tiêu Mức
1. Tổng số vi sinh hiếu khí tính bằng số
khuẩn lạc trong 1g sản phẩm không lớn
hơn mức cho phép
1.000.000
2. Tổng số Coliforms tính bằng số khuẩn
lạc trong 1 g sản phẩm không lớn hơn mức
cho phép
200
3. Staphylococcus aureus tính bằng số
khuẩn lạc trong 1 g sản phẩm không lớn
hơn mức cho phép
100

liên hệ với nhau để đánh giá sự tăng lên hau giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thời
gian, hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một doanh nghiệp hay một nhà
quản trị muốn đánh giá một vấn đề nào đó ở hai thị trường khác nhau.
- Phân tích SWOT: Phân tích điểm mạnh/ thuận lợi (Strengths), điểm yếu/ khó
khăn (Weakness), cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) của một vấn đề, một hiện
tượng, một tác nhân, một tổ chức, một sản phẩm hay một ngành hàng để có những chiến
lược nhằm giúp cho sự phát triển và hạn chế rủi ro.
Nội dung phân tích SWOT gồm:
S (Điểm mạnh): Điều kiện thuận lợi, nguồn lực thúc đẩy, góp phần phát triển tốt
hơn.
W (Điểm yếu): Các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp, hạn chế…
O (Cơ hội): Những phương hướng cần được thực hiện nhằm tối ưu hóa sự phát
triển, các kết quả dự kiến sẽ đạt được, cơ hội hợp tác, chính sách hỗ trợ…
T (Nguy cơ/ Thách thức): Những yếu tố có khả năng tạo ra những kết quả xấu,
những kết quả không mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển.
Kết hợp các S, W, O, T hình thành các chiến lược SO, ST, WO, WT.
14
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA VÀ
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
3.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÁ TRA, CÁ BASA XUẤT KHẨU Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐBSCL là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39 734 km2. Có
vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là
vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. ĐBSCL có 12 tỉnh và 1 thành phố: An
Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc
Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, TP. Cần Thơ.
3.1.1 Tiềm năng phát triển cá tra, cá basa ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tiềm năng tự nhiên: Nằm ở hạ lưu sông Mêkông với điều kiện thủy văn và chất
lượng nguồn nước thuận lợi cho việc nuôi trồng cá tra quanh năm. Theo số liệu của cục

Một thuận lợi nữa là vào cuối mùa gió Tây Nam hàng năm (sau đỉnh lũ) nước
sông từ thượng nguồn đổ xiết về hạ lưu và mang về nguồn lợi cá tự nhiên rất dồi dào cả
về số lượng lẫn chủng loại. Nhiều nhất là cá linh (Labeobarb siamensis) và nhiều loài cá
tự nhiên khác. Ngoài nguồn cá tự nhiên nước ngọt, các loại cá tạp đánh bắt từ biển Rạch
Giá được chuyển đến khu vực nuôi với đoạn đường ngắn, giá cả phù hợp và thường
xuyên.
Ngoài ra, điều kiện giao thông thủy và bộ thuận tiện cũng giúp cho việc vận
chuyển nguyên vật liệu chế biến thức ăn cho cá được dễ dàng và kịp thời.
Cá giống phục vụ cho nghề nuôi: Nhiều năm trước đây và cả đến khi nuôi cá bè
thịnh hành và phát triển, con giống cung cấp cho hộ nuôi chủ yếu được vớt từ thiên
nhiên, trên sông Cửu Long. Hằng năm vào mùa mưa, các bột các loài được vớt trên sông
và ương nuôi trong ao, hầm thành cá giống và cung cấp cho các hộ nuôi. Cá tra cũng
được vớt trên song như các loài cá khác.
Hằng năm có khoảng 200 – 500 triệu bột cá tra được vớt và ương nuôi; sau đó cá
giống được chuyển đi bán cho người nuôi khắp các tỉnh Nam bộ và cho hộ nuôi tại chỗ.
Hiện nay đã chủ động cho sinh sản nhân tạo 2 loài cá trên. Trong năm 1999 các địa
phương đã cho đẻ nhân tạo được 500 triệu bột cá tra, do đó giảm hẳn nghề vớt cá trên
sông và trong tương lai một vài năm tới có thể hoàn toàn bãi bỏ việc vớt cá tự nhiên.
Tiền năng công nghệ: Do đổi mới công nghệ, kỹ thuật, và có sự hướng dẫn kỹ
thuật nuôi nên đại đa số người nuôi được tăng năng suất cũng như chất lượng thịt của đàn
cá trong thời gian qua.
Tiềm năng cơ sở chế biến: Tính đến năm 2008 đã có hơn 100 doanh nghiệp chế
biến cá tra xuất khẩu với công suất 5.000 tấn nguyên liệu/ ngày, Hơn 52% doanh nghiệp
chế biến là mới xây dựng, các cơ sở còn lại đều được nâng cấp nhà xưởng, lắp đặt thiết bị
cấp đông, kho sạch và hầu hết các doanh nghiệp chế biến phần lớn đạt tiêu chuẩn an toàn
vệ sinh thực phẩm.
16
Tiềm năng về con người: Nguồn lao động trong vùng dồi dào, người dân đã nuôi
cá lâu đời nên có nhiều kinh nghiệm trong nuôi cá cũng như sản xuất giống nhất là ươm
cá tra giống.

riêng Hậu Giang diện tích giảm 12% so với cùng kỳ nhưng sản lượng lại tăng đáng kể,
đạt 70.905 tấn, tăng 102% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân là do năm ngoái cá
17
tra, cá basa không được giá nên các hộ dân không thu hoạch, năm nay giá cả cá tra tăng
nên các hộ thu hoạch nhiều.
Bảng 3.1 Diện tích và sản lượng sản xuất cá tra, cá basa của một số tỉnh tháng 12
năm 2014
Đơn vị
Tháng 12 năm 2013 Tháng 12 năm 2014
So sánh năm 2014
với năm 2013 (%)
DT nuôi
cá tra, cá
basa (ha)
Sản lượng
cá tra, cá
basa (tấn)
DT nuôi
cá tra, cá
basa (ha)
Sản lượng
cá tra, cá
basa (tấn)
DT nuôi
cá tra, cá
basa (ha)
Sản lượng
cá tra, cá
basa (tấn)
An Giang 1.374 258.406 1.217 237.668 88,6 92,0

xuất khẩu.
19
EU là thị trường truyền thống xuất khẩu cá tra của Việt Nam. Trong năm 2012, do
khó khăn về kinh tế, nhập khẩu cá tra của EU đã giảm mạnh 19,1%. Nhập khẩu thủy sản
của EU chủ yếu từ các nước như Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Ba Lan… Giá xuất khẩu cá
tra sang EU thấp hơn Mỹ (bình quân từ 2,1 -2,7 USD/kg so với mức trên 3 USD/kg của
thị trường Mỹ). Hiện tại, người tiêu dùng EU đang có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các
sản phẩm có chứng nhận ASC (với giá cao hơn khoảng 10-15% so với sản phẩm thông
thường). Do đó, đây sẽ là yếu tố sàng lọc mạnh các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU, cơ
hội sẽ chủ yếu tập trung vào những doanh nghiệp lớn đầu tư bài bản các vùng nuôi theo
chuẩn ASC (như Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Nam Việt, Việt An…).
Thị trường Mỹ là thị trường lớn thứ hai của “cá tra” Việt Nam sau EU với kim
ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 359 triệu USD. Đây là thị trường có ưu thế thanh toán tốt,
giá bán cao (bình quân từ 3,1 – 3,8 USD/kg). Tuy nhiên, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang
Mỹ luôn phải đối mặt với rủi ro từ vụ kiện chống bán phá giá. Ngày 14/03/2013, Mỹ đã
ra phán quyết chính thức về mức thuế chống bán phá cá tra Việt Nam cho kỳ POR 8
(01/08/2010 – 31/07/2011) với nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể,
mức thuế sau khi đã được DOC điều chỉnh tăng ngày 17/05/2013 sau quyết định ban đầu
ngày 14/03/2013 như sau: Vĩnh Hoàn (VHC): 0,19 USD/kg, Việt An (AVF): 2,39
USD/kg, các doanh nghiệp khác có sản phẩm tương tự (Hùng Vương - HVG, Navico -
ANV, Nha Trang Seafood, Bình An…): 1,29 USD/kg, An Phú: 1,37 USD/kg, Gò Đàng
(AGD): 1,81 USD/kg, Docifish (công ty con của FDG): 3,87 USD/kg.
Theo số liệu chi tiết của TCHQ, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tháng 11/2014 đạt
65,29 nghìn tấn, trị giá 146,39 triệu USD; giảm so với mức 85 nghìn tấn và 182,49 triệu
USD trong tháng 10/2014.
Bảng 3.4 Top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất trong tháng 11/2014 theo lượng và
tỷ trọng
Thị trường Lượng (nghìn tấn) Tỷ trọng (%)
USA 8.983 13,76
Mexico 7.320 11,21

diện tích thu hoạch là 3.779 ha, sản lượng đạt 1.047.035 tấn (giảm 7,34% so với cùng kỳ
năm 2013).
Theo Tổng cục thủy sản và chi cục thủy sản các tỉnh ĐBSCL, năm 2014, lũy kế
diện tích nuôi thả mới cá tra là 3.516 ha và diện tích thu hoạch là 3.779 ha, sản lượng
đạt 1.047.035 tấn (giảm 7,34% so với cùng kỳ năm 2013), với năng suất đạt trung bình
khoảng 277 tấn/ha (so với năm 2013 là 279 tấn/ha). Các tỉnh có diện tích nuôi và sản
lượng cao như: Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ (chiếm khoảng 85% tổng diện
tích và sản lượng của ĐBSCL).
Diện tích nuôi và diện tích thu hoạch: diện tích nuôi tăng lên theo lũy kế là dấu
hiệu tốt, diện tích nuôi mới và thu hoạch cao vào tháng 5, vào tháng 6, 7 và tháng 8 tăng
đều nhưng đến tháng 9, 10, 11 và 12 thì diện tích nuôi và diện tích thu hoạch tăng chậm,
xu hướng cũng tương tự trong năm 2013. Trung bình diện tích nuôi mới trong tháng 9,
10, 11 có cao hơn khoảng từ 29 – 45,7% so với cùng kỳ năm 2013, riêng tháng 7 và 8 có
giảm hơn khoảng 14 - 41%. Về diện tích thu hoạch, trung bình các tháng đều giảm từ 14-
38% so với cùng kỳ năm 2013; riêng trung bình tháng 9 và 11 có cao hơn từ 4-5% so với
năm 2013.
21
Số lượng giống thả nuôi các tỉnh năm 2014 là 1.779 triệu con và có xu hướng
tăng lên từ đầu năm (22 triệu con/tuần) đến tháng 5 (53 triệu con/tuần), có xu hướng
giảm dần từ tháng 6 (50 triệu con/tuần) đến tháng 12 (23 triệu con/tuần). Các tỉnh có số
lượng giống thả cao như Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre và trung bình thả các tháng có
xu hướng cao hơn so với cùng kỳ năm 2013; riêng trung bình tháng 8 giảm khoảng 43%
so với cùng kỳ 2013.
Nhìn chung, diện tích nuôi cá tra thương phẩm tập trung ở các doanh nghiệp
(chiếm khoảng 70%), nhưng trong năm 2014, tình hình thả nuôi mới chủ yếu ở các doanh
nghiệp có hoạt động chế biến - xuất khẩu tốt, để chủ động được nguồn nguyên liệu trong
chế biến xuất khẩu nên hầu hết các cơ sở nuôi khi thu hoạch xong, tiếp tục cải tạo ao và
thả giống mới; đối với các doanh nghiệp hoạt động chế biến – xuất khẩu không tốt thì
giảm diện tích thả nuôi mới, nuôi cầm chừng (gia công). Đối với các hộ nuôi nhỏ lẻ, đa
phần đều treo ao, một số chuyển sang nuôi gia công cho nhà máy chế biến.

Ngoài thị trường ở châu Mỹ, EU, châu Á và châu Úc, ngành xuất khẩu cá tra, cá
basa Việt Nam hiện đang mở rộng ra nhiều thị trường khác.
Tại hầu hết các quốc gia khu vực châu Phi, Tây Á, Nam Á, ngành nuôi trồng thủy
sản, nhất là cá nước ngọt không phát triển do đó phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu
trong nước. Mặt khác, cá da trơn ngày càng được ưa chuộng do được đánh giá có chứa ít
cholesteron. Hiện nay, xu hướng dùng hàng thủy sản thay thế cho thịt trong bữa ăn của
người dân châu Phi, Trung Đông đang mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy
mạnh xuất khẩu mặt hàng này, thậm chí có thể nghiên cứu phương án nuôi trồng thủy sản
tại nước ở tại phục vụ nhu cầu địa phương và xuất khẩu sang các nước lân cận. Trong khi
đó nguồn cung cá tra trong nước dồi dào với mức giá ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi để
các doanh nghiệp nước ta đẩy mạnh xuất khẩu sang khu vực này. Thực tế cho thấy kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng như cá basa, tra, tôm sang thị trường khu vực đã không
ngừng tăng trong những năm qua.
- Được hưởng nhiều chính sách ưu đãi. Các doanh nghiệp thủy sản trong năm
2010 tiếp tục nhận được nhiều ưu đãi về vốn vay, thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra,
VND đang có xu hướng giảm giá so với USD là lợi thế lớn cho các doanh nghiệp xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam.
- Chính phủ Việt Nam đầu tư 1,340 tỷ đồng đưa cá tra thành mũi nhọn xuất khẩu
thủy sản. Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển sản xuất cá tra vùng Đồng bằng sông
Cửu Long đến năm 2020. Trong đó có nhiều nội dung như quy hoạch lại vùng sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, cách thức xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng sản xuất, xây dựng
hệ thống thống kê phục vụ cho công việc dự báo tình hình sản xuất, tiêu thụ, Mức vốn
đầu tư cho đề án này vào khoảng 1,340 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2009 – 2015 cần đầu
tư 800 tỷ đồng, giai đoạn 2016 – 2020 sẽ cần 540 tỷ đồng.
- Còn nói về những lợi thế xuất khẩu mới về chính sách, thị trường cho hàng thủy
sản Việt Nam, dễ thấy nhất là hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA)
đã chính thức có hiệu lực. Theo đó, từ 01/10/2009, trên 86% hàng nông sản, thủy sản của
Việt Nam được hưởng ưu đãi rất lớn về thuế, trong đó các mặt hàng tôm đã được giảm
thuế xuất nhập khẩu xuống 1 – 2%. Cho nên, từ vị trí là thị trường nhập khẩu thủy sản
lớn thứ hai của Việt Nam (sau EU), Nhật có khả năng trở thành thị trường số một của

phát triển tự phát, thiếu quy hoạch nên mặt hàng này luôn ở tình trạng mất cân đối cung –
cầu, với những biến động khó lường. Vòng luẩn quẩn khủng hoảng thừa – thiếu như đã
và đang diễn ra là do chưa có một quy hoạch rõ ràng về nuôi cá để cân đối cho phù hợp
cung – cầu.
- Tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng còn thấp, chủ yếu mới chỉ xuất khẩu ở dạng
fillet cấp đông đơn thuần nên giá xuất khẩu không cao (bình quân 3 USD/ kg).
24
- Thiếu kho chứa hàng, thiếu các chợ đầu mối thủy sản tập trung để làm cầu nối ổn
định giá cho cả người sản xuất và các nhà máy chế biến.
- Hệ thống xử lý nước thải và các công trình bảo vệ môi trường tuy đã được đầu tư
nhưng chưa thường xuyên được nâng cấp nên vẫn còn tình trạng nước thải từ nhà máy đổ
trực tiếp ra sông mà chưa qua xử lý; chưa phổ biến rộng khắp quy trình sản xuất sạch
theo tiêu chuẩn HACCP; vẫn còn việc mua bán và sử dụng hóa chất, kháng sinh.
3.3.2.2 Môi trường vĩ mô
Khoảng cách địa lý xa xôi với các châu lục khác, nhất là với châu Phi, lại thiếu các
đường bay trực tiếp nên việc xuất khẩu hàng thủy sản tươi sống gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, hàng đông lạnh và đồ hộp vận chuyển bằng máy bay đòi hỏi chi phí khá
cao, dẫn đến giảm lợi nhuận.
Nhiều quốc gia châu Phi, Trung Đông có bờ biển dài, nguồn lợi hải sản rất lớn nên
nhu cầu tiêu thụ thủy sản đóng hộp không cao. Hơn nữa, người dân nhiều nước, nhất là
đạo Hồi như Maroc, Angieri, Iran… có truyền thống ăn thịt và ít có thói quen tiêu thụ
thủy sản, nhất là cá da trơn. Vì vậy, mặc dù có tiềm năng phát triển nhưng dung lượng thị
trường thủy sản tại khu vực này nhìn chung không lớn và việc đẩy mạnh xuất khẩu đòi
hỏi phải có thời gian.
Khả năng thanh toán của phần lớn các doanh nghiệp nhập khẩu châu phi thấp và
đôi khi vẫn xảy ra tình trạng lừa đảo thường mại qua mạng Internet ở một số quốc gia
Tây Phi dẫn đến tâm lý lo ngại khi doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường này….
3.4 PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT
Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu thủy
sản ĐBSCL:

Trích đoạn THREATS: THÁCH THỨC TÁC ĐỘNG TỪ NGÀNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA ĐÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ NƯỚC TA Biện pháp ứng phó GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status