LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Các trích dẫn nguồn tài liệu khác phục vụ cho việc nghiên cứu đã được
nêu rõ trong luận văn.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Đăng Khoa
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu, nhiệt tình của cô
giáo hướng dẫn TS.KTS. Lê Thị Bích Thuận.
Tôi rất biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và thường xuyên của Ban giám
hiệu trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội, ban chủ nhiệm khoa đào tạo trên Đại
học, sự giúp đỡ và tạo điều kiện của khoa sau Đại học cũng như các đơn vị
khác trong trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, bạn bè giúp đỡ, động viên
tôi thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo và các cơ quan thuộc Bộ
xây dựng, Bộ giáo dục và đào tạo đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi hoàn
thành luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Đăng Khoa
-i-
MỤC LỤC
-ii-
DANH MỤC CÁC BẢNG
-iii-
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ẢNH
-1-
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
nhấn mạnh rằng không gian kiến trúc bên trong trường học có tác động trực
tiếp lên chất lượng của các chức năng của của trường học.
Vậy việc nghiên cứu tổ chức không gian kiến trúc sao cho hợp lý, sáng
tạo đồng thời đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền giáo dục đang có
những thay đổi mạnh mẽ là một yêu cầu cấp thiết để nâng chất lượng giáo dục
nên một tầm cao mới. Đặc biết với những thành phố đi đầu trong cả nước về
cải cách giáo dục trong đó có thủ đô Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và đưa ra các giải pháp thiết kế cảnh quan trong trường
tiểu học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh tiểu học.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá các nhân tố trong cảnh quan của các trường tiểu học trong
các khu đô thị mới ở Hà Nội và các nước có nền giáo dục tiên tiến, nhằm so
sánh và đánh giá từ đó nhận định những ưu điểm và hạn chế của vấn đề thiết
kế cảnh quan trường tiểu học trong các khu đô thị mới Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp thiết kế cảnh quan góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục. Khuyến nghị bổ xung vào tiêu chuẩn thiết kế trường tiểu học
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: cảnh quan trường tiểu học
-3-
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian cảnh quan các trường tiểu học trong khu đô thị mới nội
thành Hà Nội. Bao gồm các yếu tố không quan ngoài sân trường như
tường rào, cây xanh, sân trường, sân chơi giới hạn từ tường rào đến
mép ngoài của công trình.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng thiết kế cảnh quan trong các
trường tiểu học nội thành Hà Nội hiện nay để rút ra những tồn tại chung.
- Thu thập thông tin, số liệu thống kê để tổng hợp và so sánh, tìm ra xu
hướng thiết kế cảnh quan trường tiểu học trong tương lai gần.
dụng các tiến bộ khoa học trong giáo dục đào tạo. Trong đó việc nâng cao
chất lượng không gian học tập bao gồm cả về kiến trúc, cảnh quan trong
trường học là một trong những yếu tố quan trọng giúp giáo viên và học sinh
có thể tiếp cận tốt đến nội dung của chương trình giáo dục.
Các nước phát triển trên thế giới đã có những cải cách lớn về không gian kiến
trúc trong trường học. Những thay đổi này là ví dụ điển hình cho mối liên kết qua lại
giữa phương pháp giảng dạy và việc tổ chức không gian học tập. Perkins một kiến trúc
sư Mỹ từng nói trong cuốn Building Type Basics for Elementary and Secondary
Schools " kiến trúc sư khi thiết kế trường học không chỉ là việc tổ chức, xây dựng từng
viên gạch, hòn đá, thanh thép mà là người nên suy nghĩ về những cá thể sử dụng nó,
nên suy nghĩ về những giải pháp để làm cho cá thể làm việc trong nó được hoạt động
tốt hơn, tạo nên khả năng hỗ trợ tốt nhất để phát triển toàn diện cho học sinh. Khi và
chỉ khi kiến trúc sư tâm niệm những điều đó thì công trình mới đạt được những mục
tiêu trong giáo dục, công trình mới là công cụ tốt nhất cho giáo viên và tạo nên nguồn
cảm hứng sáng tạo, học tập cho học sinh để tạo lên một nơi mà mọi người mong muốn
đến đó làm việc, học tập và là nơi họ cảm thấy nuối tiếc khi bước đi".
-6-
1.1.1. Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong trường
tiểu học ở Châu Âu và Châu Mỹ
1.1.1.1. Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong
trường tiểu học ở Hoa Kỳ
Hiện nay, nền giáo dục Hoa Kỳ là một trong những nền giáo dục tiên tiến nhất
trên thế giới. Sự tiên tiến thể hiện ở cơ hội tiếp cận giáo dục, phương pháp giảng
dạy, quy mô trường lớp, và nghiên cứu trong giáo dục, v.v… Hệ thống trường học
cũng như chương trình giảng dạy không thống nhất trên toàn quốc.
Hình 1.1a: Hình ảnh tổng thể trường tiểu học Lowrie
Hình 1.1b: Sân chơi nhiều màu sắc
-7-
Những đặc điểm nổi bật của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ là sự phân quyền
phân cấp trong quản lý, sự dân chủ trong việc thực thi các chính sách giáo
Kể từ sau Luật Giáo dục 2002, giai đoạn nền tảng trong giáo dục đã được
chính thức ban hành. Giáo dục tiểu học bắt buộc bắt đầu từ 5 tuổi. Học sinh tiểu học
từ lớp 1 đến lớp 6 học các môn học bắt buộc gồm tiếng Anh, toán, và khoa học và
những môn nền tảng như lịch sử, địa lý, nhạc, nghệ thuật, và giáo dục thể
chất. Đặc biệt dưới thời kỳ của ông Tony Blair, giáo dục tiểu học của Anh đã
có những biến chuyển mạnh mẽ. Trong đó nổi bật là xu hướng xóa nhoà sự
tách biệt giáo dục phi chính thức (informal education), từ học trong đời, trong
cuộc sống và giáo dục chính thức (formal education), học trong trường lớp.
Chính cải cách này tạo ra một xu hướng và phương pháp dạy gần gũi với
những biến đổi của xã hội hiện nay và điều đó tương đồng với các không gian
kiến trúc trong trường tiểu học ở Anh đang dần hình thành những thay đổi.
Hình 1.2a: Tổng thể trường tiểu học
Westborough
Hình 1.2b: Không gian vui chơi gắn
với nghệ thuật
Ngoài ra những khóa học về tự nhiên, môi trường và các vấn đề toàn câu
trong trường trình tiểu học ở Anh là tiền đề để những thiết kế mới trong kiến
trúc của trường học ở Anh ra đời, điển hình như Eco-school chuyên thiết kế
-9-
trường học với phong cách tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tự
nhiên. Các thay đổi trong không gian trong và ngoài lớp học cũng yêu cầu
các bản thiết kế kiến trúc cảnh quan thêm vào nhiều hạng mục khác nhau để
hỗ trợ tốt nhất cho công tác giảng dạy và học tập.
Quỹ đất ở các trường tiểu học trong cách thành phố lớn ở Anh tương đối
hạn hẹp nên việc tổ chức không gian vui chơi của trẻ được thiết kế khá tỉ mỉ
và tận dụng tốt các góc cạnh, họ không ngần ngại sử dụng mầu sắc, vật liệu
mới, mảng khối mạnh mẽ trong kiến trúc điều đó tạo lên không gian kiến trúc
mang xu hướng hiện đại (Hình 1.2a,b).
1.1.2. Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong trường
tiểu học ở Châu Á
cùng với sân vườn cảnh quan, các khu phục vụ vui chơi cho học sinh đều
được tổ chức đưa vào trường tiểu học.
Hình 1.3a: Tổng mặt bằng trường tiểu học Jiangyin
-11-
Hình 1.3b: Một góc sân trường tiêu học Taihu
Nhưng nhìn chung việc thay đổi không gian kiến trúc trường tiểu học
Trung Quốc có xu hướng phát triển giống với các quốc gia như Mỹ và Châu
Âu (Hình 1.3a,b).
1.1.2.2. Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong
trường tiểu học ở Singapore
Năm 1979 chứng kiến một biến động lớn tiếp theo trong lịch sử giáo dục
Singapore. Một ủy ban do TS. Goh Keng Swee, lúc này là Phó Thủ tướng
kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đứng đầu, tiến hành rà soát kỹ nền giáo dục
Singapore. Việc rà soát của TS. Goh khởi đầu cho một phong trào làm cho hệ
thống giáo dục có hiệu quả bằng nhiều cách, trong đó có giảm lãng phí trong
giáo dục. Những thay đổi về phân luồng và chương trình học tập được đưa
vào để phục vụ các nhóm học sinh có năng lực khác nhau đồng thời đề cao
các giá trị giáo dục để khuyến khích sự gắn kết xã hội qua học tập. Việc này
đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực.
Phương châm này đã thúc đẩy sự phân quyền phân cấp trong giáo dục, thay
đổi về việc cấp bằng và chứng chỉ, mở rộng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề,
cải tiến giáo dục tiểu học để đáp ứng và phù hợp hơn với yêu cầu của nền
kinh tế đang biến đổi nhanh chóng.
-12-
Ở bậc tiểu học học sinh học qua giai đoạn cơ bản trong 4 năm, từ lớp 1
đến lớp 4, và học qua giai đoạn định hướng trong 2 năm từ lớp 5 đến lớp 6.
Để phát huy tối đa tiềm năng của mỗi cá nhân, trước khi bước vào giai đoạn
định hướng, học sinh chính thức được sắp xếp lớp theo năng lực học tập.
Trong thập niện 80, việc di chuyển dân từ những trung tâm thành phố
chật chội đến những thị trấn mới như Yishun, Pasir Ris và sau đó là
1.2.1. Thực trạng chung về trường tiểu học ở Việt Nam
-14-
Là một trong những nước có dân số đông nhất thế giới, cùng với địa hình
đồi núi và nhiều dân tộc cùng sinh sống , Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn
trong phổ cập giáo dục tiểu học trên toàn quốc. Tuy nhiên vào những năm đầu
thế kỷ 21 Việt Nam từng bước thực hiện nâng cao chất lượng toàn diện theo
cách làm và mức độ phù hợp với từng loại đối tượng, từng loại trường và địa
phương khác nhau với mục tiêu giáo dục của cấp tiểu học Việt Nam là giúp
học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu
dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở.
Trong chương trình tiểu học hiện hành, ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3 có 6 môn
học là : Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và xã hội, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật (
Mỹ thuật, Âm Nhạc); trong đó, chỉ có Tiếng Việt và Toán có sách giáo khoa
(để học sinh sử dụng), bốn môn còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy (để
giáo viên sử dụng); ở lớp 4 và lớp 5 có 7 môn học là: Tiếng Việt, Toán, Lịch
sử và Địa lý, Khoa học, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật; trong đó, bốn môn có
sách giáo khoa là Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, các môn học
còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy. Ngoài ra, chương trình tin học cũng
đang dần đưa vào tiểu học để bổ sung các kỹ năng cơ bản cho học sinh lên
cấp học cao hơn.
Năm học 2007-2008, cả nước có 14.939 trường tiểu học với 6.832.567
học sinh. Số trường công lập là 14.844 với 6.832.218 học sinh. Số trường
ngoài công lập là 95 với 18.349 học sinh. Thực hiện quy định của Luật phổ
cập giáo dục tiểu học 1991, mọi trẻ em chậm nhất là đến 14 tuổi đều phải tốt
nghiệp tiểu học, hơn chục năm trở lại đây, ngày 5-9 được lấy làm ngày toàn
dân đưa trẻ em đến trường với mục tiêu vận động tất cả các gia đình có con
lên 6 đều đưa vào học lớp một. Năm 2000, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi 6-11 đi
học là 95%; năm học 2004-2005 tỷ lệ đó là hơn 98%. (Bảng 1.1)
-15-
có hai đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, đô thị loại I tăng
thêm năm đô thị, trong khi đó loại V tăng thêm 99 đô thị. Tuy nhiên để tương
ứng với sự phát triển của đô thị và dân số thì tốc độ xây dựng trường tiểu học
để đáp ứng cho nhu cầu đó lại rất ít.
1.2.2.1. Tình hình tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trường tiểu
học tại thành phố Hồ Chí Minh
Trong ba năm gần đây số lượng học sinh ở các thành phố lớn gia tăng
liên tục trong đó kể đến Thành phố Hồ Chí Minh với số lượng học sinh tiểu
học tăng hàng năm trên một vạn học sinh nhưng số lượng trường tiểu học tăng
chưa đầy 10 trường, đặc biệt trong năm học 2011 còn thụt giảm( con số này là
do quá trình sửa chữa và xây lại một số trường nên tạm thời không hoạt
động ) hiện tượng này xảy ra không chỉ cho TP. HCM mà đa số các thành phố
có số lương dân số dịch cư lớn đều xảy ra hiện tượng thiếu trường tiểu học
hay số lượng trường tiểu học được xây mới không bắt kịp với quá trình tăng
số lượng học sinh. Trước một số mục tiêu của nhà nước là khuyến khích học
hai buổi trong một ngày thì việc đáp ứng cho khối lượng học sinh lớn như vậy
càng khó khăn, Hiện nay trên địa bàn TPHCM chưa đến 20% số lượng học
sinh được học hai ca một ngày. (Bảng 1.3)
Vấn đề về tổ chức cảnh quan, sân chơi ngoài trời trong trường tiểu học
hiện nay ở các thành phố Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến tích cực nhưng
đã số vẫn chỉ mang tính chất tượng trưng chưa có một nghiên cứu cụ thể để
nâng cao chất lượng thẩm mỹ hay sử dụng cảnh quan, sân chơi ngoài trời như
một công cụ nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ. (Hình 1.5)
-17-
Hình 1.5: Sân chơi vừa nhỏ hẹp vừa kém chất lượng
Hình 1.6: Trường tiểu học và trung học quốc tế AGG, hình thức và không
gian kiến trúc đơn giản, chưa tận dụng được hình khối và mầu sắc trong công
tác thiết kế.
Do lợi ích kinh tế một số chủ đầu tư đưa mật độ xây dựng lên rất cao để
có nhiều lớp học hơn hoặc trường hợp xấu hơn là chủ đầu tư thuê mặt bằng
dụng được ưu điểm này cũng như cảnh quan tự nhiên vốn có của khu đất.
Cũng như chưa có sự quan tâm đến thẩm mỹ các công trình kiến trúc nhỏ và
các trang trí nghệ thuật tạo hình (Hình 1.7).
-19-
Kiến trúc các trường tiểu học ở Đà Nẵng chưa xứng tầm với một thành
phố đẹp và hiện đại. Vẫn sử dụng những ngôn ngữ kiến trúc cũ. Chưa mạnh
dạn đưa những phong cách mới và sử dụng màu sắc linh hoạt trong thiết kế.
Đối với các trường học có lối kiến trúc cổ chưa được bảo trì đúng cách làm
mất hình ảnh vốn có của kiến trúc cổ điển.
Hình 1.7: Không gian nhỏ hẹp và kém thẩm mỹ
2008-2009 2009-2010 2010-2011
Số lượng học sinh 63186 66067 69388
Số lượng trường tiểu
học
99 99 100
Bảng 1.3: Số lượng học sinh và trường tiểu học của TP Đà Nẵng
(số liệu tổng cục thống kê)
1.3. Tình hình tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trường tiểu học
tại các khu đô thị mới ở Hà Nội
1.3.1. Tình hình chung về trường tiểu học ở Hà Nội
Từ năm 1998 các quy định của Chính phủ số 108/1998 QĐ-TTg ngày
20/6/2001, Quy định 123/QĐUB ngày 6/12/2001. Các khu đô thị mới được
xây dựng Đó là những khu đô thị Trung Hoà-Nhân Chính, Pháp Vân, Tứ
Hiệp, khu di dân quận Hai Bà Trưng, Bắc Định Công, Cầu Giấy, Dịch Vọng,
làng quốc tế Thăng Long, Cầu Diễn, Hạ Đình, Mỹ Đình Cho đến nay Hà
Nội có 19 Khu đô thị lớn đi theo sự phát triển của các khu đô thị đang được
hình thành cùng theo nó là nhu cầu của các cơ sở giáo dục đặc biệt là giáo dục
mầm non và tiểu học.
-20-
Do đặc điểm là trung tâm kinh tế xã hội của cả nước. Hà Nội cũng không