LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực ngày càng sâu rộng với việc đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO). Gia nhập WTO đã tạo cơ hội cho Việt Nam phát triển mạnh mẽ nền kinh tế
đất nước đồng thời khẳng định vị thế và vai trò ngày càng cao trên trường quốc tế.
Tuy nhiên cũng không ít những thách thức đang chờ đón. Việt Nam phải chấp nhận
cuộc chơi theo luật của WTO và điều này sẽ dẫn đến những thay đổi rõ rệt, sâu sắc
trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân cũng như của từng loại hình
doanh nghiệp, từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Trong đó có lĩnh vực kế toán
với vai trò là công cụ quản lý kinh tế quan trọng của Nhà nước và của doanh nghiệp
cũng phải hoà nhập từng bước với các thông lệ quốc tế về kế toán. Gần đây với sự
ra đời của Luật kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán mới đã đánh
dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hiện đại hoá lĩnh vực kế toán và là cơ sở
pháp lý quan trọng để tổ chức công tác kế toán cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, việc tổ chức đưa chính sách, chế độ kế toán vào thực tế công tác kế toán
tại các doanh nghiệp vẫn còn một số bất cập nên cần thiết phải tổng kết, đánh giá
nhằm đưa ra phương hướng hoàn thiện tổ chức công tác kế toán cho các doanh
nghiệp.
Thép là vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp xây dựng
và quốc phòng, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều loại khoáng sản với trữ lượng
lớn, trong đó có quặng sắt, chính vì vậy năm 1959 khu Công nghiệp luyện thép đầu
tiên trong cả nước đã được ra đời. Từ đó đến nay các công ty thộp trờn địa bàn tỉnh
Thỏi Nguyờn ngày càng mở rộng và phát triển góp phần quan trọng vào sự tăng
trưởng kinh tế chung của đất nước cũng như của tỉnh Thỏi Nguyờn. Trong những
năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, các công ty thộp trờn địa bàn
tỉnh Thỏi Nguyờn nói riêng đã chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
1
nghiệp bằng nhiều biện pháp khác nhau để có thể tồn tại và phát triển, trong đó vấn
đề nâng cao hiệu quả quản lý thông qua công cụ kế toán giữ một vai trò quan trọng.
biện chứng để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như các vấn đề thực tiễn tổ chức
công tác kế toán tại các doanh nghiệp. Bằng việc nghiên cứu tài liệu kết hợp với
nguồn văn bản sẵn có để nghiên cứu lý luận, khảo sát, thống kê, so sánh, suy luận lụ
gớch để phân tích, đánh giá nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu. Trên cơ sở đó tìm
ra những phương hướng cần hoàn thiện phù hợp cho đối tượng nghiên cứu.
5. Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản về tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn đã góp phần đánh giá thực trạng tổ chức công tác
kế toán tại các công ty thộp trờn địa bàn tỉnh Thỏi Nguyờn. Trờn cơ sở đó nêu ra
các mặt mạnh, mặt yếu về tổ chức công tác kế toán và đề ra một số phương hướng
hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp
sản xuất nói chung và các công ty thép trên địa bàn tỉnh Thỏi Nguyờn nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán trong doanh
nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các công ty thộp trờn địa
bàn tỉnh Thỏi Nguyờn.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các công ty
thộp trờn địa bàn tỉnh Thỏi Nguyờn.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ
TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Vai trò của kế toán trong doanh nghiệp
sản và sự vận động của tài sản, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế của đơn vị
phục vụ cho những người ra quyết định.
Trong số đó, khái niệm theo Luật kế toán số 03/2003/QH 11 ngày 17 tháng 06
năm 2003 đã thể hiện rõ nhất đối tượng, chức năng và đặc điểm của kế toán: “Kế
toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài
chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” [29 - Điều 4]
Theo khái niệm này thì: Kế toán là quá trình thu thập, xử lý, kiểm tra, phân
tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính của các hoạt động kinh tế trong từng
thời kỳ, từng địa điểm phát sinh theo một trình tự nhất định. Để thực hiện việc thu
thập, tính toán, kế toán sử dụng cả 3 loại thước đo: giá trị, hiện vật và thời gian lao
động, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu. Đây là khái niệm đã nói rõ và đầy đủ
nhất về kế toán.
Kế toán là một khoa học về quản lý kinh tế và là một bộ phận cấu thành của
hệ thống công cụ quản lý kinh tế - tài chính, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, thì vai trò của kế toán ngày càng được thể hiện
rõ. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, kế toán với chức năng của mình sẽ cung cấp đầy đủ toàn bộ thông
tin về hoạt động kinh tế - tài chính đơn vị, nhằm giúp chủ doanh nghiệp điều hành
và quản lý các hoạt động kinh tế - tài chính ở đơn vị đạt hiệu quả cao;
5
Thứ hai, kế toán phản ánh đầy đủ toàn bộ tài sản hiện có cũng như sự vận
động của tài sản ở đơn vị, qua đó giúp cho các chủ doanh nghiệp quản lý chặt chẽ
tài sản và bảo vệ được tài sản của mình, nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng
các tài sản đó;
Thứ ba, kế toán phản ánh được đầy đủ các khoản chi phí bỏ ra trong quá trình
sản xuất kinh doanh cũng như kết quả của quá trình đó đem lại, nhằm kiểm tra được
việc thực hiện nguyên tắc tự bù đắp chi phí và có lãi trong kinh doanh;
Thứ tư, kế toán phản ánh được cụ thể từng loại nguồn vốn, từng loại tài sản,
giúp cho việc kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tính chủ
động trong kinh doanh;
ngày càng được phát huy tác dụng và là công cụ không thể thiếu trong quản lý từng
đơn vị kinh tế nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung.
1.1.1.2. Nhiệm vụ của kế toán trong doanh nghiệp
Để phát huy được vai trò của mình, công tác kế toán trong doanh nghiệp phải
thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công
việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh
toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát
hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán.
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ
yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.
- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
Việc thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ nêu trên phải đồng thời với việc đáp ứng
các yêu cầu:
- Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ, sổ kế
toán và báo cáo tài chính;
- Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán;
7
- Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán;
- Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của
nghiệp vụ kinh tế, tài chính;
- Thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến
khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt
động của đơn vị kế toán; số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế
toán của kỳ trước.
- Phân loại, sắp xếp các thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và
có thể so sánh được.
1.1.2. Tổ chức công tác kế toán và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán
1.1.2.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
kế toán thông qua việc phân công phân nhiệm cho các nhân viên kế toán thực hiện
theo từng phần hành kế toán cụ thể. Điều này vừa tạo ra nhận thức về trách nhiệm
của đội ngũ nhân viên kế toán, vừa tạo điều kiện cho việc vận dụng các phương
pháp kế toán được thực hiện tốt hơn ở đơn vị.
Từ những quan điểm trên, cho thấy tổ chức công tác kế toán ngoài việc tuân
thủ các nguyên tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn với đặc thù của hạch
toán kế toán. Bởi vậy, tổ chức công tác kế toán không chỉ là việc thực hiện các văn
bản pháp lý riêng cho kế toán đến từng đơn vị kế toán cơ sở mà còn bao hàm cả
nghệ thuật tổ chức các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán của đơn vị đó. Tổ
chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là tổ chức việc sử dụng các phương pháp
kế toán để thực hiện việc ghi chép, phân loại, tổng hợp các nhiệm vụ kinh tế tài
chính phát sinh phù hợp với các chính sách chế độ hiện hành, phù hợp với đặc điểm
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ của kế toán.
Do vậy, theo tác giả quan điểm thứ ba thể hiện đầy đủ nhất nội dung của tổ
chức công tác kế toán trong doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế toán là công tác tổ
chức nhân sự theo từng phần hành kế toán cụ thể của một đơn vị, trên cơ sở thực
hiện đầy đủ các nguyên tắc, phương pháp của kế toán nói riêng và các nguyên tắc tổ
9
chức kế toán nói chung trong đơn vị nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin
về hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vị một cách nhanh nhất, đầy đủ và trung thực.
1.1.2.2. í nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ
chức công tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm
tra các hoạt động kinh tế - tài chính trong doanh nghiệp nên công tác kế toán ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý ở một doanh
nghiệp. Bên cạnh đú, nú cũn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu quản lý khác
nhau của những người sử dụng thông tin kế toán ngoài doanh nghiệp. Cụ thể như
sau:
- Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ bảo đảm cho kế toán cung cấp
doanh nghiệp.
- Phù hợp với trình độ nghiệp vụ chuyên môn và khả năng của đội ngũ cán
bộ quản lý và cán bộ kế toán của doanh nghiệp và khả năng trang bị các phương
tiện kỹ thuật hiện đại trong kế toán.
Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển của tin học, người ta đã sử
dụng máy vi tính vào công tác kế toán. Tuy nhiên, còn phụ thuộc vào điều kiện và
khả năng thực hiện của doanh nghiệp. Khi đó, tổ chức công tác kế toán trong điều
kiện thủ công và kế toán mỏy cú sự khác biệt nhau nhất định. Việc tổ chức công tác
kế toán trong điều kiện sử dụng máy vi tính vẫn phải tuân theo các nội dung và yêu
cầu của tổ chức công tác kế toán trong điều kiện kế toán thủ công, đồng thời từng
nội dung cụ thể có đặc điểm riêng phù hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin
hiện đại.
- Đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ và đáng tin cậy về toàn bộ
hoạt động kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp.
Thông tin kế toán cung cấp là yêu cầu cần thiết đối với người quản lý cũng
như các đối tượng khác. Thông tin được cung cấp kịp thời, đầy đủ và đáng tin cậy
11
sẽ giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra những quyết định đúng đắn
trong mọi tình huống kinh doanh của đơn vị.
- Đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả.
Tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải khoa học, hợp lý, bộ máy kế toán phải
gọn nhẹ, nâng cao năng suất lao động kế toán. Tổ chức công tác kế toán đảm bảo
chất lượng, hiệu quả cao, đồng thời phải tiết kiệm chi phí hạch toán cho đơn vị.
1.2. Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là một trong những bộ phận
quan trọng trong hệ thống quản lý. Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
luôn gắn liền với quy mô, trình độ quản lý và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đó. Vì vậy, mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì nội
dung tổ chức công tác kế toán cũng khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận
văn, tác giả giới hạn việc nghiên cứu vào mô hình tổ chức công tác kế toán trong
từng doanh nghiệp sản xuất.
Về cơ bản việc tổ chức bộ máy kế toán trong các công ty thộp trờn địa bàn
tỉnh Thỏi Nguyờn có thể áp dụng một trong ba hình thức sau:
1.2.1.1. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung
Theo hình thức này, toàn doanh nghiệp chỉ tổ chức một phòng kế toán trung
tâm, còn ở các đơn vị phụ thuộc (Nhà máy, xí nghiệp thành viên) đều không có tổ
chức kế toán riêng. Mọi công việc kế toán đều được thực hiện tại phòng kế toán
trung tâm. Ở các đơn vị thành viên không có bộ phận kế toán riêng mà chỉ thực hiện
việc thu nhận và kiểm tra chứng từ ban đầu để định kỳ chuyển chứng từ về phòng
kế toán trung tâm.
Hình thức này có ưu điểm là công việc tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ, tiết
kiệm, việc xử lý và cung cấp thông tin nhanh nhạy, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung,
thống nhất, thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát và báo cáo kế toán, đồng thời
thuận tiện cho cơ giới hoá công tác kế toán. Tuy nhiên, nếu địa bàn hoạt động phân
tán, trình độ trang bị phương tiện kỹ thuật ghi chép, xử lý thông tin chưa cao thì
13
việc kiểm tra, giám sát ở các đơn vị trực thuộc về công tác kế toán sẽ bị hạn chế,
không kịp thời.
Hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung thường phù hợp với những doanh
nghiệp sản xuất có quy mô vừa và nhỏ, địa bàn hoạt động hẹp. Hình thức này không
phù hợp với doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, địa bàn hoạt động sản xuất kinh
doanh ở nhiều địa phương. (Phụ lục 1.1)
1.2.1.2. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán
Theo hình thức này, công tác kế toán không những được thực hiện ở phòng
kế toán trung tâm (Văn phòng công ty) mà còn được thực hiện ở các đơn vị thành
viên (Nhà máy, xí nghiệp thành viên).
Phòng kế toán trung tâm thực hiện các phần hành kế toán phát sinh ở Văn
phòng công ty và công tác tài chính của doanh nghiệp, hướng dẫn và kiểm tra công
tác kế toán ở các đơn vị đơn vị thành viên, đồng thời thu nhận, kiểm tra báo cáo kế
toán của các đơn vị thành viên gửi lên để tổng hợp và lập ra các báo cáo chung cho
tăng cường công tác kế toán ở các đơn vị thành viên cũng như toàn bộ doanh
nghiệp. Hình thức tổ chức công tác kế toán này thích hợp với các doanh nghiệp sản
xuất có quy mô lớn, có nhiều đơn vị đơn vị thành viên mà mức độ phân cấp quản lý
kinh tế khác nhau, quy mô và trình độ cán bộ quản lý khác nhau, địa bàn hoạt động
rộng, vừa tập trung vừa phân tán. Hình thức này khắc phục được những hạn chế của
hai hình thức trên. (Phụ lục 1.3)
Tuy nhiên, việc tổ chức bộ máy kế toán ngoài việc phụ thuộc vào quy mô
của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp nên có thể
có những doanh nghiệp chỉ có một hoặc hai, ba nhân viên kế toán và không đặt ra
chức vụ kế toán trưởng và cũng có những doanh nghiệp chỉ thuê dịch vụ kế toán
theo quy định của pháp luật.
Mỗi hình thức tổ chức công tác kế toán đều có ưu, nhược điểm riêng, vì vậy
cần phải lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán phù hợp với tình hình và thực
trạng tổ chức hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp để xây dựng mô hình bộ
máy kế toán thích hợp. Lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán thích hợp nhằm
15
thu nhận, xử lý hệ thống hoá và cung cấp được đầy đủ, kịp thời toàn bộ thông tin về
hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh, tình hình biến động tài sản, nguồn vốn, chi
phí, doanh thu và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lựa
chọn hình thức tổ chức công tác khoa học, hợp lý sẽ làm giảm bớt khối lượng công
tác kế toán, tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh…Điều
đó có ý nghĩa quan trọng và tác động quyết định đến hiệu quả và chất lượng của
công tác kế toán, giúp cho việc tổ chức công tác kế toán thực hiện được đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ của kế toán, qua đó phát huy được vai trò của kế toán trong quản lý
kinh tế, tài chính ở doanh nghiệp.
1.2.2. Tổ chức hệ thống thông tin kế toán
Thông tin kế toán là thông tin số lượng, chủ yếu là số liệu bằng tiền phản ánh
toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh. Mục đích của kế toán là cung cấp thông tin, vì vậy tổ chức công
tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất là tổ chức thu nhận, hệ thống hoá - xử lý và
bảo các yêu cầu sau:
- Căn cứ vào Luật kế toán, Nghị định 129/2004/NĐ-CP ngày 31/05/2004 của
Chính phủ, các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chứng từ kế toán và các
quy định trong Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 để tăng cường
tính pháp lý của chứng từ, bảo đảm cho chứng từ là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán
và thông tin kinh tế.
- Căn cứ vào quy mô sản xuất kinh doanh, trình độ tổ chức quản lý để xác
định số lượng, chủng loại chứng từ thích hợp. Thông thường có quan hệ tỷ lệ về
quy mô sản xuất, trình độ quản lý và chủng loại chứng từ, nếu quy mô sản xuất lớn,
trình độ quản lý cao sẽ cần nhiều loại chứng từ hơn để ghi chép nhiều loại nghiệp
vụ kinh tế và bảo đảm thông tin nhanh cho quản lý.
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý tài sản và các thông tin về tình hình biến động
tài sản để tổ chức sử dụng chứng từ thích hợp và luân chuyển giữa các bộ phận liên
quan.
17
- Căn cứ vào nội dung và đặc điểm của từng loại chứng từ cũng như yêu cầu
quản lý tài sản khác nhau mà có quy trình luân chuyển chứng từ khác nhau. Ví dụ:
trình tự luân chuyển chứng từ tiền mặt sẽ khác với luân chuyển chứng từ về bán
hàng qua kho ở doanh nghiệp sản xuất.
Tổ chức chứng từ kế toán trong doanh nghiệp sản xuất gồm tổ chức lập chứng
từ, kiểm tra và xử lý chứng từ, sử dụng chứng từ để ghi sổ kế toán, bảo quản và lưu
trữ chứng từ. Cụ thể như sau:
- Tổ chức lập chứng từ kế toán
Lập chứng từ là khâu đầu tiên của quy trình kế toán, nó có ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng của công tác kế toán. Do đó, chứng từ kế toán chỉ được lập một lần
cho mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính. Chứng từ kế toán phải được lập rõ ràng, đầy
đủ, kịp thời, chính xác theo nội dung quy định trên mẫu thống nhất trong chế độ
chứng từ kế toán. Trong trường hợp chứng từ kế toán chưa có quy định mẫu thì
doanh nghiệp được tự lập chứng từ kế toán nhưng phải có đầy đủ các nội dung quy
định tại Luật kế toán.
vụ, theo tính chất các khoản chi phí, theo từng địa điểm phát sinh hoặc theo đối
tượng chịu chi phí…tổng hợp số liệu rồi định khoản ghi vào sổ kế toán liên quan.
Trong doanh nghiệp sản xuất thường sử dụng các loại chứng từ chủ yếu như: Chứng
từ kế toán về tiền mặt; tiền gửi ngân hàng; vật tư; bán hàng; tài sản cố định; lao
động tiền lương…
Trong điều kiện hiện nay, nhờ có những tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực tin
học mà việc ghi chép chứng từ kế toán vào sổ kế toán có thể thực hiện bằng máy vi
tính. Như vậy, bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán đã
nâng cao tính chính xác, kịp thời của thông tin kế toán, giảm bớt thời gian ghi sổ và
tổng hợp kế toán, từ đó nâng cao hiệu suất của công tác kế toán.
- Tổ chức bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán
Bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán là một bộ phận của bảo quản và lưu trữ
tài liệu kế toán. Chứng từ là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán, căn cứ pháp lý cho
mọi thông tin kinh tế, đồng thời là tài liệu lịch sử của doanh nghiệp. Vì vậy, sau khi
19
ghi s k toỏn v kt thỳc k k toỏn, chng t c chuyn sang lu tr, bo qun
mt cỏch khoa hc, hp lý nhm m bo an ton, trỏnh mt mỏt v tin cho vic
tra cu khi cn thit. Khi ht thi hn lu tr theo quy nh, chng t c em ra
hu.
phc v cho vic thu thp thụng tin cho mc tiờu qun lý, doanh nghip
sn xut cũn cn phi thit k mt s chng t hng dn phn ỏnh cỏc nghip v
kinh t ni sinh trong ni b doanh nghip.
Vớ d: phc v cho k toỏn qun tr chi phớ, giỏ thnh sn phm cỏc doanh
nghip sn xut cú th thit k thm cc chng t nh: Phiu chi phớ nh mc giỏ
thnh n v, Phiu xut nguyờn vt liu vt nh mc, Phiu theo dừi lao ng
i vi cụng nhõn trc tip, Chi phớ nguyờn vt liu trc tip, chi phớ nhõn cụng
trc tip
Cỏc giai on trờn ca chng t k toỏn cú mi quan h mt thit vi nhau: t
lp chng t theo cỏc mu biu quy nh n kim tra chng t, ghi s k toỏn v
bo qun, lu tr chng t k toỏn. Quỏ trỡnh vn ng ny c gi l chng
Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán là xây dựng một mô hình thông tin nhằm
cung cấp những thông tin tổng quát về quá trình tái sản xuất diễn ra ở mỗi đơn vị
kinh tế. Mô hình thông tin này được xác lập trên một hệ thống tài khoản cụ thể do
người tổ chức kế toán xây dựng để hệ thống hoá thông tin kế toán một cách chi tiết
trong nội bộ doanh nghiệp.
Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán ở doanh nghiệp sản xuất phải
đáp ứng các yêu cầu sau:
- Đảm bảo phản ánh, hệ thống hoá đầy đủ, cụ thể mọi nội dung đối tượng kế
toán, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong đơn vị;
- Phù hợp với những quy định thống nhất của Nhà nước và các văn bản hướng
dẫn thực hiện của cơ quan quản lý cấp trên;
- Phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động, trình độ phân cấp quản lý kinh tế,
tài chính của đơn vị;
- Đảm bảo mối quan hệ với các chỉ tiêu báo cáo tài chính;
- Đáp ứng yêu cầu xử lý thông tin trên máy vi tính và thoả mãn nhu cầu thông
tin cho các đối tượng sử dụng;
Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế, tài chính trong nền kinh tế thị trường
mở cửa, từng bước hoà nhập với các chuẩn mực, thông lệ phổ biến của kế toán các
nước, hiện nay hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp đang áp dụng cho tất cả các
21
doanh nghip theo Quyt nh s 15/2006/Q-BTC ngy 20/03/2006 c phõn
thnh 9 loi (T loi 1 n loi 9) trong Bng cõn i k toỏn, gm 86 ti khon cp
1, 120 ti khon cp 2 v 1 loi ti khon ngoi Bng cõn i k toỏn (loi 0 gm 6
ti khon) (Ph lc 1.4)
H thng ti khon k toỏn doanh nghip do Nh nc ban hnh c quy
nh chung cho nhiu loi hỡnh doanh nghip khỏc nhau, vỡ vy cỏc doanh nghip
sn xut cn c vo tỡnh hỡnh c th ca doanh nghip mỡnh nghiờn cu, la
chn cỏc ti khon k toỏn phự hp hỡnh thnh mt h thng ti khon cho n
v mỡnh.
Vớ d: Trong doanh nghip sn xut cn thit phi s dng cc nhỳm ti khon
tài khoản cấp
3 trở lên
đốc một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống từng đối tượng kế toán riêng
biệt trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đó.
1.2.2.3. Tổ chức thực hiện chế độ sổ kế toán ở doanh nghiệp.
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên
quan đến doanh nghiệp. Như vậy, sổ kế toán là vật mang thông tin, là công cụ để
tập hợp và hệ thống hoá những thông tin ban đầu từ các chứng từ kế toán làm cơ sở
cho việc soạn thảo các báo cáo kế toán .
Tổ chức thực hiện hệ thống sổ kế toán ở doanh nghiệp là việc xác định số
lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp, kết cấu từng loại sổ với nội
dung, trình tự ghi sổ để ghi chép, phân loại, xử lý thông tin về các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính từ các chứng từ gốc vào các sổ kế toán với báo cáo kế toán, nhằm phục
vụ cho việc xác lập báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị cũng như phục vụ
cho việc kiểm tra, kiểm soát từng quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán là một nghệ thuật vận dụng hệ thống tài khoản kế
toán. Tổ chức hợp lý hệ thống sổ kế toán có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo điều
kiện nâng cao năng suất lao động của cán bộ kế toán, hạn chế các trường hợp trùng
lắp trong ghi sổ, đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác các thông tin cho
lãnh đạo cũng như lập các báo cáo kế toán.
Các doanh nghiệp sản xuất phải căn cứ vào các yếu tố sau để tổ chức chế độ
sổ kế toán của đơn vị mình như:
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tính chất của hoạt động
kinh tế, tài chính; quy mô đơn vị và khối lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp, yêu cầu tổng hợp, cung cấp
thông tin lập báo cáo tài chính và quản trị doanh nghiệp.
- Trình độ nghiệp vụ và năng lực của cán bộ kế toán.
- Điều kiện trang bị, sử dụng các trang bị kỹ thuật ghi chép, xử lý, tổng hợp
thông tin hiện có của doanh nghiệp.
24
hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái là không phù hợp mà nên lựa chọn một trong bốn
hình thức kế toán sau đây:
a. Hình thức kế toán Nhật ký chung
Hình thức kế toán Nhật ký chung có những đặc điểm cơ bản là tất cả các
nghiệp vụ kinh tế tài chớnh phát sinh đều phải ghi vào Sổ Nhật ký, trọng tõm là
Nhật ký chung theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán của nghiệp vụ
đó, sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát
sinh.
Các sổ kế toán sử dụng trong hình thức kế toán Nhật ký chung gồm sổ Nhật
ký chung, Nhật ký đặc biệt, Sổ Cái và các sổ, thẻ kế toán chi tiết. Trình tự ghi sổ thể
hiện thông qua phụ lục 1.5.
Ưu điểm của hình thức kế toán này là rõ ràng, dễ hiểu, mẫu sổ đơn giản,thuận
tiện cho việc cơ giới hoá công tác kế toán. Tuy nhiên, hình thức kế toán này có
nhược điểm là việc ghi chép trùng lắp.
Hình thức kế toán Nhật ký chung thường được áp dụng cho các đơn vị có quy
mô vừa, khối lượng các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh không nhiều và sử
dụng máy vi tính trong công tác kế toán.
b. Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ có những đặc điểm cơ bản là các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh được phản ảnh trên chứng từ kế toán đều được phân loại, tổng hợp
và lập chứng từ ghi sổ, sau đó sử dụng Chứng từ ghi sổ để ghi vào các sổ kế toán
tổng hợp liên quan. Việc ghi sổ theo trình tự thời gian tách rời việc ghi sổ theo hệ
thống trên hai sổ tổng hợp riêng biệt là Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và Sổ Cái.
Các sổ kế toán sử dụng trong hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ gồm Sổ đăng
ký chứng từ ghi sổ; Sổ Cái; các sổ, thẻ kế toán chi tiết. Trình tự ghi sổ thể hiện
thông qua phụ lục 1.6
Ưu điểm của hình thức kế toán này là kết cấu mẫu sổ, cách ghi sổ đơn giản, dễ
làm, dễ hiểu, dễ phân công lao động kế toán trong việc ghi sổ kế toán. Quan hệ
kiểm tra đối chiếu số liệu chặt chẽ, đảm bảo tính chính xác của việc ghi sổ kế toán,