CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam hiện đang là điểm đến của bạn bè năm châu trên
thế giới khi trở thành thành viên WTO, không chỉ là thị trường
tiềm năng về kinh tế mà Việt Nam còn là nơi lý tưởng để thu hút
mọi người đến du lịch, khám phá và tìm hiểu cảnh vật, thiên nhiên,
con người và nền văn hoá hơn 4000 năm lịch sử. Theo ông
Jonathan Galaviz – chuyên gia của Globalysis Ltd – nhận xét:
“Việt Nam là một trong những điểm đến có tốc độ tăng trưởng
mạnh nhất ở Châu Á. Với vị thế và chính sách hiện nay, du lịch
Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trong những năm tới”. Globalysis
dự báo, số lượng du khách nước ngoài tới Việt Nam sẽ tăng 10%
mỗi năm. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, lượng du khách
quốc tế đến Việt Nam năm 2007 tăng 17% so với năm 2006, có 47
1 | P a g e
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực du lịch với
tổng số vốn hơn 1,8 tỉ USD, tăng xấp xỉ 200% so với năm 2006.
Hình ảnh Việt Nam xuất hiện trên truyền thông quốc tế cũng
nhiều hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, điều mà ngành du lịch cũng như
mọi ngành khác đều hướng đến là sự phát triển mang tính bền
vững thì vẫn còn nhiều điều đáng bàn. Nằm trên vĩ tuyến gần xích
đạo Việt Nam là nước nhiệt đới đa dạng và phong phú các nguồn
tài nguyên và thiên nhiên, lại nằm hướng mặt ra biển Đông chạy
dọc theo suốt chiều dài đất nước. Chính vì lợi thế của điều kiện tự
nhiên nên việc phát triển du lịch ở Việt Nam là một động lực kinh
tế cần quan tâm đúng mức. Do đó phát triển du lịch cũng như các
ngành khác cần phải có sự quản lý tốt của chính quyền trung ương
và địa phương, sự am hiểu của các chuyên gia liên ngành cũng như
kinh nghiệm của người dân địa phương.
Khánh Hòa là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, có quần đảo
đang trở thành điểm tham quan du lịch nổi tiếng trong cả nước và
trên thế giới, dự báo sẽ là điểm đến trong những năm tới.
Tuy nhiên, việc phát triển và bảo tồn luôn là những vấn đề
nhiều mâu thuẫn và xung đột. Xin mượn lời của bà Ellen và Jaime,
hai chuyên gia của Ủy ban quản lý Vịnh San Francisco tại ‘Hội
thảo quốc tế 29 Vịnh biển đẹp’ tổ chức ở Nha Trang vào tháng
3/2005, để đưa ra vấn đề chính mà đề tài này muốn đề cập đến
‘Tôi không thấy ai trong số chúng ta ở cuộc hội thảo bàn luận về
vẻ đẹp tự nhiên của Vịnh Nha Trang. Chỉ thấy nói tới du lịch, làm
thế nào phát triển du lịch hơn nữa mà không đề cập đến những tác
động về tầm nhìn’. Một ví dụ mà Ellen dẫn ra là “con đường dẫn
lên hòn đảo ngoài kia (Ellen chỉ tay ra đảo Hòn Tre, nơi ‘trú chân’
4 | P a g e
của khu nghỉ mát Hòn Ngọc Việt). Một con đường lớn xé ngang
sườn núi. Thật xấu xí”.
Hình 1.1: Vết chém trên đảo Hòn Tre
5 | P a g e
Nguồn:
www.vnn.vn
Đây cũng chính là vấn đề đặt ra cho toàn xã hội cũng như với
cá nhân người nghiên cứu đối với sự quan tâm về tầm nhìn của các
cấp chính quyền trong việc phát triển du lịch đồng thời quản lý,
quy hoạch, khai thác tối ưu (chứ không phải tối đa) hiệu quả môi
trường – tài nguyên thiên nhiên bền vững nhằm phát triển du lịch
trong lâu dài được thực hiện ở Vịnh Nha Trang – Khánh Hòa.
Những lợi ích trước mắt và lâu dài luôn dẫn đến sự mâu thuẫn giữa
các mối quan hệ trong xã hội từ các cấp chính quyền, đến các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, người dân địa phương,
các tổ chức khoa học, phi chính phủ và đến những du khách thập
phương đối với Vịnh Nha Trang.
Khoá luận bao gồm năm nội dung chính và được chia thành
năm chương, với nội dung của từng chương như sau:
Chương một là chương mở đầu, gồm có năm phần chính là
đặt vấn đề; mục tiêu nghiên cứu; các giả thiết của vấn đề nghiên
cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của khoá luận.
Chương hai trình bày về phần tổng quan, gồm có hai nội
dung là tổng quan về vấn đề nghiên cứu và tổng quan về địa bàn
nghiên cứu. Mục này sẽ nêu lên những đặc điểm về điều kiện tự
8 | P a g e
nhiên, vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thỗ nhưỡng, dân số,… của địa
bàn nghiên cứu.
Chương ba là chương nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Về nội dung nghiên cứu có các định nghĩa, khái niệm và cả khái
quát lẫn cụ thể có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Chương bốn là chương kết quả và thảo luận. Đây là phần
chính của cả đề tài. Chương này sẽ tìm hiểu về những hoạt động
chính đang diễn ra trên vịnh, các mối quan hệ giữa những người có
mục đích sử dụng chung trên Vịnh Nha Trang, công tác quản lý và
một số giải pháp phát triển du lịch và quản lý tài nguyên – môi
trường.
Chương 5 gồm kết luận và kiến nghị, hướng nghiên cứu
trong tương lai để giải quyết tốt hơn các vấn đề môi trường tại vịnh
Nha Trang
9 | P a g e
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
Chương này sẽ mô tả về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên
cứu. Phần này chủ yếu trình bày về các tài liệu nghiên cứu có liên
quan và đặc điểm cụ thể ở địa bàn nghiên cứu.
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Thành phố Nha Trang. Quốc hội quyết định sát nhập quần đảo
Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh vào năm 1982. Vào ngày 30 tháng
6 năm 1989, Quốc hội lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú
Yên và Khánh Hòa.
Cho đến nay, Khánh Hòa có sáu huyện là Vạn Ninh, Ninh
Hòa, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Trường Sa; thị xã
Cam Ranh và thành phố Nha Trang. Thủ phủ của tỉnh là thành phố
Nha Trang, Khánh Hòa có hai huyện miền núi là Khánh Vĩnh,
Khánh Sơn và một huyện đảo là Trường Sa. Khánh Hòa có 137
đơn vị hành chính cấp xã - phường - thị trấn.
2.2.2. Dân cư
Tỉnh Khánh Hòa có khoảng 1.300.000 người (2006). Các dân
tộc chính trong tỉnh gồm có: Kinh, Ra Giai, Hoa và Cơ Ho.
2.2.3. Vị trí địa lý và khí
hậu
8 | P a g e
Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km
2
, cả trên đất liền
và hơn 200 đảo và quần đảo. Bờ biển dài 385km, kéo dài từ xã Đại
Lãnh tới cuối Vịnh Cam Ranh với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều
đảo và vùng biển rộng lớn. Đặc biệt, huyện đảo Trường Sa là nơi
có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng quan trọng của cả nước. Dọc
theo bờ biển từ Đại Lãnh trở vào đến Ghềnh Đá Bạc, Khánh Hòa
có 4 Vịnh lớn: Vịnh Vân Phong, Vịnh Nha Phu, Vịnh Nha Trang
(Cù Huân) và Vịnh Cam Ranh. Mỗi Vịnh mỗi vẻ khác nhau nhưng
Vịnh nào cũng đẹp, cũng ẩn chứa tiềm năng về nhiều mặt. Trong
đó có Vịnh Cam Ranh với diện tích gần 200km
2
, có núi cách ngăn,
bảo tính bền vững và có hiệu quả.
2.2.5. Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 5.197,45km
2
, gồm các
nhóm chính: đất cát và cồn cát chiếm 2%, chủ yếu sử dụng cho
khu dân cư, trồng cây ăn quả và đồng bằng ven biển; đất phù sa
chiếm 7,5%, giàu dinh dưỡng; đất mặn và phèn mặn chiếm 1,5%,
thích hợp cho trồng muối, nuôi trồng thủy sản; đất xám bạc màu
chiếm 4,6%; đất đỏ vàng và các loại đất khác chiếm 84,4%, hiện
đang được sử dụng để trồng hoa màu và cây công nghiệp, có khả
năng khai hoang mở rộng diện tích nông – lâm nghiệp.
12 | P a g e
Đất thích hợp cho phát triển nông nghiệp của Khánh Hòa rất
hạn chế, chỉ có 74,9%, chiếm 14,2% diện tích đất tự nhiên, trong
đó đã khai thác và đưa vào sử dụng 67,7 nghìn ha, còn lại 7,2
nghìn ha có khả năng khai hoang để đưa vào sử dụng. Các vùng
đất cao chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh, lại thiếu nước
tưới, rất khó khăn cho việc mở rộng diện tích phát triển nông
nghiệp. Đất nông nghiệp bình quân đầu người 670m
2
/người.
Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp chiếm phần lớn diện
tích đất tự nhiên của tỉnh với 322,4 nghìn ha, chiếm 61,3%. Song
hiện nay, diện tích có rừng chỉ có 155,8 nghìn ha, còn lại 166,6
nghìn ha, chiếm 31,7% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, đang còn là
vùng đất trống, đồi núi trọc. Đây là một tiềm năng lớn, song muốn
khai thác và sử dụng được phải có sự đầu tư lớn.
2.2.6. Tài nguyên rừng
Diện tích có rừng hiện có 155,8 nghìn ha, trữ lượng gỗ 18,5
ngoài tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến Vịnh Thái Lan. Mặt
khác, khai thác ngư trường quanh quần đảo Trường Sa góp phần
phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an ninh - quốc phòng.
Nước biển có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc
sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối
công nghiệp. Biển Khánh Hòa còn là nơi cư trú của loài chim yến,
hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000kg yến sào. Đây là một
đặc sản quý hiếm ít tỉnh trong cả nước có, không chỉ đóng góp trực
tiếp cho xuất khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công
nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp.
Dọc bờ biển Khánh Hòa có rất nhiều bãi tắm đẹp như bãi
biển Nha Trang nằm ngay trung tâm thành phố, có chiều dài 5km;
bãi Tiên nằm về phía Bắc thành phố; Dốc Lết thuộc huyện Ninh
15 | P a g e
Hòa có chiều dài 4km; Đại Lãnh (Vạn Ninh) có chiều dài 2km.
Ngoài ra, dọc bờ biển còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có khả năng
tổ chức du lịch, săn bắn dưới nước, vui chơi giải trí trên các đảo.
Đặc biệt, đảo Hòn Tre là đảo lớn, quanh đảo có nhiều bãi tắm san
hô rất đẹp như Bãi Trũ, Bãi Tre, Bích Đầm… Với cảnh quan thiên
nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu lý tưởng cho
mùa du lịch kéo dài gắn với nhiều di tích lịch sử và công trình văn
hoá như: Tháp Bà, thành Diên Khánh, biệt thự Bảo Đại, mộ
Yersin… Khánh Hòa đã trở thành một trong mười trung tâm du
lịch lớn của cả nước, rất hấp dẫn lôi cuốn khách du lịch trong và
ngoài nước, đặc biệt là với hình thức du lịch biển.
2.2.9. Kinh tế
Có thể nói ngành mũi nhọn của tỉnh là du lịch và dịch vụ.
Với hàng loạt danh lam thắng cảnh mà thiên nhiên ban tặng,
Khánh Hòa phát triển khá mạnh về du lịch và kéo theo hàng loạt
dịch vụ.
Khánh Hòa còn có những tiềm năng lớn khác như: nhiều bãi cát
trắng ở Đầm Môn (ven Vịnh Vân Phong) dùng để chế tạo thủy
tinh, pha lê, cáp quang… Dưới các bãi cát này có khoáng sản Titan
– kim loại ít bị oxi hoá có thể dùng chế tạo vỏ của tàu vũ trụ.
Ngoài ra Khánh Hòa còn là xứ của Trầm hương, có Vàng non
tuổi… Khánh Hòa có tiềm năng rất lớn về chu chuyển hàng hóa ra
quốc tế, với 4 cảng biển lớn: Cảng Cam Ranh - trước đây là cảng
quân sự; Cảng Nha Trang – du lịch – chu chuyển hàng hoá – quân
sự; Cảng Dốc Lếch – đóng sửa chữa tàu; Cảng Vân Phong – du
lịch và tiếp dầu khí…, đặc biệt cảng này cùng với cảng kế bên là
18 | P a g e
cảng Vũng Rô của tỉnh Phú Yên … rất có tiềm năng về năng
lượng…
2.2.10. Giáo dục
Tỉnh Khánh Hòa có 1 trường đại học chính quy là Đại học
Nha Trang (trước đây là Đại học Thủy sản Nha Trang, đổi tên vào
ngày 25/7/2006, theo Quyết định số 172/2006/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính Phủ), là một trường đại học đa ngành, đa cấp học với
chuyên ngành thủy sản truyền thống là mũi nhọn và thế mạnh.
Ngoài ra còn có thể kể các đại học quân sự lớn như Học viện
Hải quân, trường Sỹ quan không quân…
Các trường Cao Đẳng: Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, Cao
đẳng Văn hoá Nghệ thuật Du lịch, Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Mẫu
giáo Trung ương 2.
2.2.11. Đặc sản
Yến sào, một món ăn chế biến từ tổ chim yến.
19 | P a g e
Trầm hương, một loại hương liệu dược liệu quý hiếm từ cây
Bó Dầu.
Ngoài ra, cùng với tỉnh bạn Phú Yên, Khánh Hòa là tỉnh có
0
22’ độ Kinh Đông và từ 12
0
12’ đến 12
0
18’ độ
vĩ Bắc với diện tích 249,65km
2
, trong đó diện tích mặt nước là
211,845km
2
, bao gồm trung tâm thành phố Nha Trang và 19 hòn
đảo lớn nhỏ bao quanh, trong đó có 7 đảo lớn gồm: Hòn Tre, Hòn
Miếu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau (Hòn Hố) và Hòn
Vung (Hòn Đụn). Đảo lớn nhất là Hòn Tre rộng 3250 ha nằm che
21 | P a g e