1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Khái quát chung về nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Khái niệm
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động do doanh nghiệp mua, dự trữ để phục vụ
quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm. Nguyên vật liệu là một trong những
yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì
giá trị nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.
1.1.2. Đặc điểm của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và
bị tiêu hao toàn bộ vào trong quá trình sản xuất, không giữ lại nguyên hình thác vật
chất ban đầu. Toàn bộ giá trị nguyên vật liệu được chuyển hết một lần vào chi phí sản
xuất kinh doanh trong kỳ cũng có nghĩa là giá trị nguyên vật liệu góp phần tạo nên giá
thành của sản phẩm.
Nguyên vật liệu có 3 đặc điểm chính:
- Các nguyên vật liệu sẽ thay đổi về hình thái, không giữ nguyên được trạng thái
ban đầu khi đư vào sản xuất.
- Các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh (một
chu kỳ sản xuất kinh doanh).
- Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển trực tiếp vào sản phẩm, là căn
cứ cơ sở để tính giá thành.
1.1.3. Vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Nguyên liệu dùng vào sản xuất bao gồm nhiều loại nguyên liệu như: nguyên
liệu chính, nguyên liệu phụ Chúng là yếu tố trực tiếp tham gia một lần vào chu kỳ
sản xuất và cấu thành thực thể sản phẩm. Chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp muốn nâng cao chất lượng sản phẩm thì cần phải chú
trọng đảm bảo chất lượng của nguyên vật liệu.
hao, đúng chủng loại vật liệu, góp phần giảm chi phí nguyên vật liệu, hạ giá thành sản
phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.2.2. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Xuất phát từ yêu cầu quản lý vật liệu của doanh nghiệp thì kế toán vật liệu trong
doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:
- Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của
nguyên vật liệu về giá cả và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá vốn thực tế của
nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời chính xác phục
vụ cho yêu cầu lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.
3
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp kỹ thuật về
hạch toán nguyên vật liệu. Đồng thời hướng dẫn các bộ phận, các đơn vị trong Doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ các chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu, phải hạch
toán đúng chế độ, đúng phương pháp quy định để đảm bảo sự thống nhất trong công
tác kế toán nguyên vật liệu.
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu
từ đó phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa, ứ
đọng, kém hoặc mất phẩm chất, giúp cho việc hạch toán xác định chính xác số lượng
và giá trị nguyên vật liệu thực tế đưa vào sản xuất sản phẩm. Phân bố chính xác
nguyên vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng sử dụng để từ đó giúp cho việc tính giá
thành được chính xác.
- Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung cấp
thông tin cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh.
- Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển,
bảo quản, đánh giá phân loại tình hình nhập xuất và quản lý nguyên vật liệu. Từ đó
đáp ứng được nhu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước cũng như yêu cầu quản lý của
Doanh nghiệp trong việc tính giá thành thực tế của NVL đã thu mua và nhập kho đồng
thời kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật tư về số lượng, chủng loại, giá
móc, thiết bị (ốc, đinh vít, bánh răng,…).
+ Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất mà doanh nghiệp
có thể thu hồi được như vải vụn trong doanh nghiệp dệt may, gỗ bào trong doanh
nghiệp sản xuất đồ gỗ,…
Căn cứ vào mục đích sử dụng của vật liệu đối với quá trình sản xuất nguyên vật
liệu được chia thành ba loại sau:
- Vật liệu dùng cho sản xuất là các loại vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất
sản phẩm, như nguyên vật liệu chính, vật liệu dùng cho hoạt động quản lý phân
xưởng.
- Vật liệu dùng cho hoạt động bán hàng là những vật liệu phục vụ cho hoạt động
bán hàng.
- Vật liệu dùng cho hoạt động quản lý doanh nghiệp là những nguyên vật liệu bị
tiêu hao trong hoạt động quản lý.
Căn cứ vào nguồn hình thànhcủa nguyên vật liệu doanh nghiệp chia ra làm hai
loại vật liệu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và vật liệu không thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp.
Vật liệu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bao gồm:
- Vật liệu mua ngoài là những vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh được
doanh nghiệp mua ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Đây là
nguồn cung ứng chính của doanh nghiệp .
5
- Vật liệu tự sản xuất là những vật liệu mà do doanh nghiệp tự sản xuất ra hay
thuê ngoài chế biến để sử dụng cho sản xuất ở giai đoạn sau.
- Vật liệu nhận góp vốn liên doanh,biếu tặng, cấp phát là những vật liệu do doanh
nghiệp khác liên doanh, biếu tặng hay cấp trên cấp phát theo chế độ.
- Phế liệu thu hồi là những vật liệu bị thải ra trong quá trình sản xuất, có thể sử
dụng hoặc đem bán.
Vật liệu không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp như vật liệu do doanh
ngoài GCCB
Chi phí thuê ngoài
GCCB
Chi phí vận chuyển
(nếu có)
- Đối với vật liệu tự gia công chế biến:
Giá trị thực tế của NVL
Giá thành sản xuất NVL
Chi phí vận chuyển
(nếu có)
= -
+
-
=
+
+
=
+
Thang Long University Library
6
- Đối với nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh thì giá thực tế là giá trị
nguyên vật liệu do hội đồng liên doanh đánh giá.
- Đối với nguyên vật liệu do nhà nước cấp hoặc được tặng thì giá trị thực tế được
=
=
7
• Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO)
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản
xuất trước thì được xuất trước, và hàng còn lại cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản
xuất ở thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính
theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn
kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn
tồn kho.
Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất
kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép
các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát
với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán
có ý nghĩa thực tế hơn.
Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại
không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu
hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ cách đó rất
lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục
dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên
rất nhiều.
• Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO)
Theo phương pháp này, nguyên vật liệu được tính giá thực tế xuất kho giả định
là lô nguyên vật liệu nào nhập vào kho sau sẽ được dùng trước.Vì vậy, việc tính giá
xuất của nguyên vật liệu được làm ngược lại với phương pháp nhập trước - xuất trước.
Như vậy với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với
trị giá vốn của hàng thay thế. Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu
cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán. Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn kho
và hoàn chỉnh chứng từ rồi ghi vào sổ (thẻ) chi tiết.
Định kỳ phải kiểm tra số liệu trên thẻ kho và sổ chi tiết.Cuối tháng tính ra số tồn kho
và đối chiếu số liệu với sổ kế toán tổng hợp.
Đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết vật liệu ở phòng kế toán và thẻ kho của thủ kho bằng
cách thông qua báo cáo tình hình biến động của nguyên vật liệu do thủ kho gửi lên.
+ Ưu điểm: Việc ghi sổ thẻ đơn giản, rõ ràng, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu và phát
hiện sai sót trong việc ghi chép, quản lý chặt chẽ tình hình biến động và số hiện có của
từng thứ nguyên vật liệu theo số lượng và giá trị.
+ Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng,
khối lượng công việc ghi chép quá lớn. Công việc còn dồn vào cuối tháng nên hạn chế
tính kịp thời của kế toán và gây lãng phí về lao động.
9
Phương pháp ghi thẻ song song áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp có chủng
loại nguyên vật liệu ít, tình hình nhập - xuất nguyên vật liệu phát sinh hàng ngày
không nhiều, trình độ kế toán và quản lý không cao.Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên
vật liệu theo phương pháp sổ song song.
Sơ đồ 1.1.Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu 04-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 05-VT)
- Bảng kê mua hàng (mẫu 06-VT)
- Hoá đơn Giá trị gia tăng (mẫu 01GTKT-3LL)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03 PXK-3LL)
1.5.1.2. Tài khoản sử dụng
Tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kế toán áp dụng luật thuế GTGT,
kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu ”
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động của các
loại nguyên liệu, vật liệu theo giá thực tế, có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm,
thứ… tuỳ theo yêu cầu quản lý và phương tiện tính toán.
TK 152 có kết cấu như sau:
TK 152
- Phản ánh giá thực tế nguyên vật liệu tồn
kho cuối kỳ. (Phương pháp kiểm kê định
kì)
- Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm
tăng giá thực tế nguyên vật liệu trong kỳ
(mua ngoài, tự sản xuất, nhận góp vốn,
phát hiện thừa, đánh giá tăng…).
- Kết chuyển giá thực tế nguyên vật liệu tồn
đầu kỳ. (Phương pháp kiểm kê định kì)
- Phản ánh các nghiệp vụ phát sinh làm
giảm nguyên vật liệu trong kỳ theo giá thực
tế (xuất dùng, xuất bán, xuất góp vốn, thiếu
hụt…)
Giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho
khoản này dùng để theo dõi tình hình thu mua, tăng, giảm nguyên vật liệu theo
giá thực tế (giá mua và chi phí thu mua).
TK 611 có kết cấu như sau:
TK 611
Phản ánh giá thực tế của nguyên vật liệu
tồn kho đầu kỳ và tăng thêm trong kỳ
Phản ánh giá thực tế nguyên vật liệu xuất
dùng, xuất bán, thiếu hụt… trong kỳ và tồn
kho cuối kỳ Ngoài ra, trong quá trình kế toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác có liên
quan như 152, 151, 133, 331, 111, 112
1.5.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo
phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép phản ánh
thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu trên
các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất. Thang Long University Library
12
Sơ đồ 1.2.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn
kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
TK 111, 112, 331, 141 TK 621
Nhập kho NVL mua ngoài Xuất dùng NVL phục vụ sản xuất
TK 151 TK 133 TK 627, 641, 642, 241
giá trị tồn kho đầu kỳ và giá trị tồn kho cuối kỳ căn cứ vào số liệu kiểm kê định kỳ
trong kho. Việc xác định giá trị nguyên vật liệu xuất chung trên các tài khoản kế toán
tổng hợp không căn cứ vào các chứng từ nhập xuất kho mà căn cứ vào giá trị tồn kho
cuối kỳ mua nhập trong kỳ, kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính.Chính vì vậy phương pháp
kiểm kê định kỳ được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ ít
chủng loại vật tư với quy cách mẫu mã rất khác nhau giá trị thấp và được xuất thường
xuyên.
Sơ đồ 1.3.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn
kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
TK 151,152 TK 151, 152
Kết chuyển NVL đầu kỳ Kết chuyển NVL cuối kỳ TK 111,112, 331,311 TK 621, 627, 642
Mua NVL Kết chuyển NVL dùng cho SXKD
TK 133
TK 111, 112, 331
CKTM, giảm giá, trả lại hàng mua
TK 133
TK 611
Thang Long University Library
NVL
Bảng tổng hợp
N-X-T NVL
Nhật kí
chứng từ số
5, 6
Nhật ký chứng từ số 7
Sổ cái TK 152 (TK 611)
Báo cáo tài chính
Bảng kê số 3
Sổ chi tiết
TK 331
Nhật kí
liên quan
Chứng từ gốc
Phiếu nhập kho, xuất kho
Bảng kê số 4,5,6
Chứng từ gốc
Phiếu nhập kho, xuất kho
Bảng kê số 4, 5, 6
Sổ cái TK 152 (TK 611)
15
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
Hình thức Nhật ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế,
Báo cáo tài chính
Thang Long University Library
16
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN CỒN RƯỢU HÀ NỘI
2.1. Khái quátchungvề Công ty Cổ phần cồn rượu Hà Nội
2.1.1. Thông tin chung về công ty
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội.
- Tên tiếng anh: Ha Noi Liqour Joint Stock Company.
- Tên giao dịch: HALICO
- Hình thức sở hữu: Công ty Cổ phần.
- Trụ sở: 94 Lò Đúc, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
- Điện thoại: (04)3976 3763
- Email: [email protected]
- Website: www.halico.com.vn
- Mã số thuế: 0100102245
- Vốn điều lệ: 200.000.000.000 VND (năm 2011)
Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải
khát Hà Nội tiền thân là Nhà máy Rượu Hà Nội do Hãng Rượu Fontaine của Pháp xây
dựng từ năm 1898. Nhà máy Rượu Hà Nội được thành lập tại số 94 Lò Đúc. Đây là
nhà máy lớn nhất trong 5 nhà máy được công ty Fontaine của Pháp xây dựng ở Đông
Dương. Năm 2006, theo quyết định số 1626/QĐBCN ngày 16/11/2006 của Bộ trưởng
Bộ công nghiệp, Công ty TNHH NN MTV Rượu Hà Nội chuyển thành công ty Cổ
phần Cồn Rượu Hà Nội. Công ty chính thức hoạt động dưới hình thức cổ phần từ ngày
06/12/2006. Công ty có con dấu riêng, tài khoản riêng tại Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Hà Nội, giấy phép đăng ký kinh doanh số 0104000163 cấp ngày
07/01/2004.Qua thời gian trên 100 năm xây dựng và phát triển, với công nghệ sản xuất
rượu, cồn được kết hợp giữa phương pháp lên men cổ truyền và những tiến bộ của Giám Đốc
Phó Giám Đốckinh doanh Phó Giám Đốcsản xuất
Phòng
Tổ
chức,
LĐTL
Phòng
Kế
hoạch
tiêu
thụ
Phòng
Hành
chính
Phòng
Kế
toán
tài
chính
Phòng
KCS
Phòng
Kỹ
thuật
cơ điện
Phòng
cơ điện
Phòng
Vật tư
Phòng
Kỹ
thuật
công
nghệ
Xí nghiệp
cồn
Xí nghiệp
rượu mùi
Xí nghiệp
phục vụ
Thang Long University Library
18
Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội là một đơn vị hạch toán độc lập, có đầy đủ tư cách
pháp nhân, là một đơn vị sản xuất kinh doanh bao gồm cả sản xuất kinh doanh thương
mại và xuất nhập khẩu trực tiếp. Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô
hình trực tuyến dưới sự quản lý của giám đốc, các phòng ban, các xí nghiệp có quan hệ
ngang nhau thông qua sự chỉ đạo trực tiếp của ban Giám đốc.
- Giám đốc là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động và sắp xếp bổ nhiệm các thành
viên vào các vị trí phù hợp theo nhu cầu sản xuất từng giai đoạn, công việc của công
ty, là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình và là người đại diện của Công ty theo pháp luật về mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Phó Giám đốc kinh doanh: Là người được giám đốc ủy quyền hoặc phần công chịu
trách nhiệm trong lĩnh vực kinh doanh trong toàn công ty. Tham mưu giúp giám đốc
- Phòng kỹ thuật công nghệ: có nhiệm vụ phát minh, nghiên cứu mới những công
nghệ sản xuất đem lại hiệu quả cao, chỉ đạo kỹ thuật sản xuất rượu, cồn, bao bì,…
quản lý, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy trình công nghệ, định mức kinh
tế, kỹ thuật, đào tạo công nhân kỹ thuật công nghệ,…
- Phòng vật tư có nhiệm vụ lập kế hoạch mua vật tư về số lượng và giá trị cho
sản xuất trên cơ sở kế hoạch tiêu thụ, cung ứng các vật tư, nguyên, nhiên vật liệu, phụ
tùng, máy móc, thiết bị,… đồng thời quản lý các kho thành phẩm, kho vật tư, quản lý
xe vận tải của công ty.
- Phòng kỹ thuật cơ điện có nhiệm vụ quản lý toàn bộ tài sản, máy móc, thiết bị
điện, nước, môi trường trong công ty, xây dựng, tổ chức và thực hiện kế hoạch sửa
chữa thiết bị, nhà xưởng hàng quý, hàng năm.
- Phòng KCS có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát về chất lượng vật tư, hàng
hóa, nguyên, nhiên vật liệu,… theo tiêu chuẩn cơ sở và tiêu chuẩn Việt Nam. Đồng
thời tham gia công tác nghiên cứu sản phẩm mới, đề tài ứng dụng khoa học kỹ thuật,
đào tạo công nhân kỹ thuật…
- Xí nghiệp cồn là xí nghiệp sản xuất chính, có nhiệm vụ sản xuất cồn tinh chế từ
nguyên liệu tinh bột. Bao gồm các bộ phận: Tổ vận hành lò hơi, tổ vận chuyển, tổ nấu
tinh bột, tổ đường hóa lên men, tổ chưng cất, tổ vận hành máy nén, máy bơm, tổ phân
tích quản lý,…
- Xí nghiệp sản xuất rượu mùi là xí nghiệp sản xuất chính, sản xuất rượu pha chế
từ nguyên liệu cồn và các hương liệu chiết xuất từ hoa quả. Bao gồm các bộ phận: tổ
vận chuyển, tổ chế biến và pha chế, tổ máy rửa chai và chiết rượu, đóng nút chai, tổ
dán nhãn, tổ đai két. Hoạt động của xí nghiệp mang tính thời vụ.
- Xí nghiệp phục vụ là xí nghiệp sản xuất phụ để phục vụ cho 2 xí nghiệp sản
xuất chính. Nhiệm vụ chính là sản xuất bao bì, bảo dưỡng sửa chữa máy móc, thiết
bị,… nhằm đảm bảo cho quy trình sản xuất được diễn ra thường xuyên và liên tục.
Thang Long University Library
20
Kế toán
nguyên
vật liệu
Kế toán
TSCĐ
và tiền
lương
Kế toán
thanh
toán
Kế toán
chi phí
và tính
giá thành
Thủ
quỹ
Các nhân viên thống kê tại
các xí nghiệp
Kế toán trưởng
(kiêm Kế toán tổng hợp)
Phó phòng Kế toán
(kiêm Kế toán tiêu thụ)
Kế toán
nguyên
vật liệu
Kế toán
TSCĐ
và tiền
lương
Kế toán
(hàng tháng).
- Kế toán nguyên vật liệu chịu trách nhiệm theo dõi tình hình nhập, xuất,
tồn vật tư, phân loại vật liệu, sau đó ghi sổ chi tiết xuất, nhập, vật tư.
- Kế toán tài sản cố định và tiền lương hàng tháng căn cứ vào nguyên giá
TSCĐ hiện có và thời gian dự kiến sử dụng của TSCĐ và tỷ lệ trích khấu hao do nhà
nước quy định tiến hành tính toán số khấu hao cho các đối tượng, theo dõi và phân bổ
tiền lương và bảo hiểm xã hội cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
- Kế toán thanh toán hàng ngày căn cứ vào phiếu thu, chi tiền mặt, căn cứ
vào các chứng từ mua, bán chịu hàng hóa vật tư, các khoản phải trả, phải nộp khác, kế
toán ghi sổ chi tiết các tài khoản theo hóa đơn tương ứng với từng đối tượng khách
hàng hay nhà cung cấp. Cuối tháng căn cứ sổ chi tiết vào các nhật ký – chứng từ số
1,2,5,10, bảng kê số 1,2,11.
- Kế toán giá thành có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất ở các phân xưởng
và tính giá thành các sản phẩm.
- Thủ quỹ là người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu, chi tiền mặt khi có
chứng từ hợp lệ, cuối ngày đối chiếu với sổ quỹ của kế toán thanh toán, số dư trên tài
Thang Long University Library
22
khoản 111 (tài khoản tiền mặt) phải trùng khớp với tiền mặt tại quỹ để đảm bảo rằng
việc ghi sổ và kiểm kê là trùng khớp.
- Các nhân viên thống kê ở các xí nghiệp thành viên có nhiệm vụ theo dõi
các khoản thu, chi về tài chính, sản xuất cũng như bán hàng sau đó chuyển lên phòng
kế toán.
2.1.3.2. Các chính sách kế toán áp dụng
- Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội kế toán nguyên vật liệutheo Quyết định
15/2006_QĐ/BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính.
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
- Phương pháp tính giá hàng tồn kho: Bình quân cả kỳ dự trữ
được phản ánh trên tài khoản 152.2: “Nguyên vật liệu phụ”.
Bên cạnh đó, các loại nhiên liệu như dầu mỡ, sơn các loại… được tập hợp trên
tài khoản 152.3: “Nhiên liệu”.
Các loại phụ tùng thay thế như dây điện, bóng điện, đinh vít… được phản ánh
trên tài khoản 152.4: “Phụ tùng thay thế”
Cuối cùng là các nguyên vật liệu khác có tính chất bổ sung cho sản phẩm hoàn
thành như: các loại chai, các loại can, các cỡ hộp, nút chai, giấy gói, tem, nhãn, thùng
carton… được phản ánh trên tài khoản 152.7: “Nguyên vật liệu khác”.
Nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội do phòng vật tư phụ
trách, đảm nhiệm việc cung ứng. Phòng có nhiệm vụ theo dõi tình hình sản xuất, căn
cứ vào đó để lập kế hoạch thu mua nguyên vật liệu đảm bảo cho việc sản xuất được
vận hành đúng tiến độ.
2.2.1.2. Tính giá nguyên vật liệu
* Tính giá nguyên vật liệu nhập kho
+ Thông thường nguyên vật liệu do công ty mua về được giao tận kho công ty,
chi phí vận chuyển, bốc dỡ do phía đối tác chịu trách nhiệm. Trong một số trường hợp
thỏa thuận chi phí này do phía công ty Cổ phần Rượu Hà Nội chịu. Tùy theo yêu cầu
của nhà cung cấp và thỏa thuận giữa hai bên để lựa chọn hình thức thanh toán. Để đáp
ứng yêu cầu hạch toán hàng ngày của công ty thì giá nguyên vật liệu mua ngoài được
tính theo công thức sau:
Thang Long University Library
24
Giá thực tế
NVL mua
ngoài
Giá mua ghi
trên hóa đơn
Thuế NK, thuế
Ngày 29/12/2013, xuất kho 5.220kg phục vụ sản xuất
=
+
+
-
25
Giá đơn vị bình quân =
5.810*35.250 + 9.270*36.320 + 13.845*35.250 +
14.995*35.000 + 11.495*33.200
5.810 + 9.270 + 13.845 + 14.995 + 11.495
= 34.972
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 3/12 = 14.795*34.972 = 517.416.658
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 12/12 = 12.945*34.972 = 452.717.718
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 21/12 = 16.095*34.972 = 562.880.778
Giá thực tế vật liệu xuất kho ngày 29/12 = 5.220*34.972 = 182.555.928
2.2.2. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu tại công ty
2.2.2.1. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu nhập kho
Hàng tháng, phòng kế hoạch tiêu thụ kết hợp với phòng vật tư sẽ tiến hành lập
kế hoạch sản xuất sản phẩm trong tháng rồi trình duyệt giám đốc. Khi được phê duyệt,
căn cứ vào kế hoạch sản xuất và mức dự trữ nguyên vật liệu, phòng vật tư sẽ lập kế
hoạch thu mua số lượng nguyên vật liệu thích hợp.Phòng vật tư có nhiệm vụ tìm kiếm
các nhà cung cấp đáp ứng đủ số lượng cũng như chất lượng nguyên vật liệu hoặc cũng
có nhiều nhà cung cấp đến chào giá trực tiếp cho công ty. Từ đó, một hay một vài nhà
cung cấp sẽ được lựa chọn để mua nguyên vật liệu.
Khi nguyên vật liệu được mua về, thủ kho cùng đội kiểm tra của phòng KCS sẽ
kiểm tra nguyên vật liệu về số lượng, quy cách sản phẩm. Nếu đạt yêu cầu, thủ kho sẽ
xác nhận số lượng thực nhập và tiến hành nhập kho. Sau đó, phiếu nhập kho được lập