luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ CỦA CÔNG TY CTTC NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - Pdf 27

i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ VÀ PHÁT
TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
CHÍNH 4
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ 4
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê 4
1.1.2. Phân loại hoạt động cho thuê 6
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 11
1.2.1. Giới thiệu chung về Công ty cho thuê tài chính 11
1.2.2. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty CTTC 12
1.3. PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ CỦA CÔNG TY CTTC. 21
1.3.1 Quan niệm về sự phát triển trong hoạt động cho thuê của công ty CTTC 21
1.3.2 Một số chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển hoạt động cho thuê của công ty
CTTC 22
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động cho thuê của công ty CTTC
25
1.4. KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRÊN
THẾ GIỚI 29
1.4.1. Kinh nghiệm về hoạt động cho thuê tài chính trên thế giới 29
1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33
CHƯƠNG 2 35
ii
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ CỦA CÔNG
TY CTTC NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 35

3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 96
3.3. KIẾN NGHỊ 99
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 99
3.3.2 Kiến nghị đối với NNHH Việt Nam 103
3.3.3. Kiến nghị đối với Hiệp hội CTTC Việt Nam 104
3.3.4. Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCPNTVN 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CTTC Cho thuê tài chính
2. Công ty Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCPNTVN
3. NHNN Ngân hàng Nhà nước
4. NHTMCPNTVN Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
5. TCTD Tổ chức tín dụng
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình nhân sự của Công ty tính đến 30/06/2011
39
Bảng 2.2: Tình hình vốn điều lệ của các công ty CTTC 44
Bảng 2.3 : Tổng hợp nguồn vốn của các công ty CTTC 45
thuộc Hiệp hội CTTC Việt Nam tính đến 31/12/2010 45
Bảng 2.4: Bảng số liệu nguồn vốn của Công ty CTTC
NHTMCPNTVN trong giai đoạn 2007 - 2010 47
Bảng 2.5: Tình hình dư nợ cho thuê của các công ty CTTC 49
thuộc Hiệp hội CTTC Việt Nam giai đoạn 2008-2010 49
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp tỷ lệ nợ quá hạn của các công ty
CTTC 51
thuộc Hiệp hội CTTC Việt Nam giai đoạn 2008 đến 2010 51
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp trích lập dự phòng rủi ro của các

Sơ đồ 1.1: Quy trình phổ biến của hình thức cho thuê tài
chính 8
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ cho thuê vận hành 10
Sơ đồ 1.3: Tài trợ cho thuê ba bên 13
Sơ đồ 1.4: Tái cho thuê 15
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của Công ty CTTC NHTMCPNTVN
40
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty CTTC
NHTMCPNTVN trong giai đoạn 2007-2010 47
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ dư nợ cho thuê của Công ty CTTC
NHTMCPNTVN trong giai đoạn 2007-2010 57
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng dư nợ cho cho thuê tài chính xét theo
đối tượng 61
khách hàng của Công ty CTTC giai đoạn 2007 – 2010 61
Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận sau thuế của Công ty CTTC
NHTMCPNTVN 68
giai đoạn 2007 - 2010 68
Biểu đồ 2.5: Số lượng khách hàng và tốc độ tăng trưởng 71
của Công ty CTTC NHTMCPNTVN giai đoạn 2007 - 2010 71
1
LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho Việt Nam những cơ hội lớn đi kèm cả
những thách thức lớn. Trước bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp do khủng
hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu bắt đầu từ giữa năm 2007, Việt Nam không tránh
khỏi tác động của môi trường thế giới. Tăng trưởng kinh tế chậm lại, lạm phát giảm
dần, bội chi ngân sách tăng ở mức cao trong vòng nhiều năm, thị trường lao động khó
khăn, thị trường tài chính tiền tệ có nhiều xáo trộn gây khó khăn cho điều hành chính
sách kinh tế vĩ mô. Ở tầm vi mô, các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt
là khó khăn về vốn để tái cơ cấu sau khủng hoảng, đầu tư sản xuất kinh doanh.

thương Việt Nam ngày càng phát triển, đáp ứng cho nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt
Nam hiện nay, tôi đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Phát triển hoạt động cho
thuê tại Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động cho thuê và phát triển hoạt động cho thuê của
Công ty Cho thuê tài chính
- Phân tích thực trạng hoạt động cho thuê tại Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng
TMCP ngoại thương Việt Nam, những kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho thuê của Công ty
Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động cho thuê của Công ty Cho thuê tài chính Ngân
hàng TMCP ngoại thương Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động cho thuê của Công ty Cho thuê tài chính Ngân
hàng TMCP ngoại thương Việt Nam từ năm 2008 đến nay và định hướng cho thời gian
tới.
Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng kết hợp với phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh trên cơ sở phân
3
tích tình hình thực tế của hệ thống Công ty CTTC trong Hiệp hội CTTC Việt Nam,
Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam, từ đó xác định
các tồn tại và đưa ra các định hướng, giải pháp cụ thể.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, kết cấu của luận văn được chia làm 3
chương.
- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động cho thuê và phát triển hoạt động
cho thuê của Công ty cho thuê tài chính
- Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho thuê của Công ty Cho thuê tài
chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

các khu mỏ và cho thuê nhà băng. Tuy nhiên, các giao dịch thuê tài sản diễn ra ở
5
những thời kỳ trước chỉ là những hoạt động cho thuê kiểu truyền thống, phương thức
giao dịch của nó tương tự như phương thức thuê vận hành ngày nay và trong suốt hàng
ngàn năm lịch sử tính chất giao dịch của hình thức này gần như không thay đổi.
Đầu thế kỷ XIX, do có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và nền kinh
tế hàng hóa, hoạt động cho thuê đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chủng loại
thiết bị, tài sản cho thuê. Cho thuê tài sản cũng bắt đầu được phân ra thành cho thuê
ngắn hạn (chính là cho thuê vận hành ngày nay) và cho thuê dài hạn (tiền thân của cho
thuê tài chính).
Đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX, hoạt động cho thuê tài sản đã tiến một
bước dài với việc công ty United State Leasing Corp (Hoa Kỳ) do Henry Shoeld sáng
lập vào năm 1952 đã sáng tạo ra một hình thức cho thuê tài sản mới gọi là cho thuê tài
chính. Công ty này ra đời đã kéo theo việc một loạt các công ty cho thuê tài chính
khác được thành lập như Boothe Leasing Corp (hiện nay là Finova Capital) vào năm
1962, General Electric Credit Corp,…Đây chính là những nguyên mẫu đầu tiên của
hàng trăm công ty cho thuê tài chính ngày nay.
Thị trường cho thuê tài chính ngày càng phát triển và lan rộng tầm ảnh hưởng ra
toàn thế giới. Ở Châu Âu, hoạt động cho thuê bắt đầu phát triển vào cuối những năm
50, đầu những năm 60 của thế kỷ XX và bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở Nam Mỹ, Châu
Á và Châu Phi từ đầu thập niên 70. Đến thập niên 80, hoạt động cho thuê tài chính đã
được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới.
Ngày nay, hoạt động cho thuê đã phổ biến trong các hoạt động kinh tế quốc tế và
góp phần rất to lớn vào việc thúc đẩy sự phát triển sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên,
mỗi khu vực và mỗi quốc gia khác nhau có sự tiếp cận khác nhau về lĩnh vực tài trợ
bằng tín dụng cho thuê.
Ở Việt Nam, phải đến năm 1995 khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết
định số 149/QĐ-NHNN ngày 27/05/1995, nghiệp vụ cho thuê tài chính mới bắt đầu
được thực hiện dưới hình thức tín dụng thuê mua. Theo Quyết định này, các tổ chức
tín dụng được thành lập công ty cho thuê tài chính trực thuộc hoặc phòng tín dụng

hình thức cho thuê tài sản có kèm theo “lời hứa” là bán lại tài sản cho bên thuê khi hợp
7
đồng thuê kết thúc với giá cả được thỏa thuận từ trước theo hợp đồng. Như vậy, CTTC
khác hẳn với hình thức cho thuê tài sản đơn thuần hay bán hàng trả góp về hình thức
sở hữu, tính chất cũng như mối quan hệ giữa các bên tham gia. Trong CTTC, bên thuê
tài sản chỉ có quyền sử dụng tài sản thuê, không có quyền sở hữu và định đoạt. Khi sử
dụng tài sản thuê, bên thuê phải trả một khoản tiền nhất định theo định kỳ (tháng, quý)
đã được quy định trong hợp đồng. Kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được quyền ưu
tiên mua lại tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại
thời điểm mua lại.
Tại Việt Nam, đối tượng cho thuê là máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và
các động sản khác, không áp dụng cho thuê đối với bất động sản như nhiều nước trên thế
giới.
Theo quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12, hoạt động cho thuê
tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và
phải có một trong các điều kiện sau đây:
1. Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền
sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên;
2. Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài
sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm
mua lại;
3. Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu
hao tài sản cho thuê đó;
4. Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải
bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
Căn cứ vào đối tượng tham gia trong một giao dịch, cho thuê tài chính có thể chia
ra làm 2 loại chính: cho thuê tài chính ba bên và cho thuê tài chính hai bên. Ngoài ra
còn có trường hợp đặc biệt của cho thuê tài chính ba bên là cho thuê đồng tài trợ, mua
và cho thuê lại.
8

+ Thanh toán tiền thuê theo đúng kỳ hạn đã quy định trong Hợp đồng.
- Nhà cung cấp
+ Đàm phán với Bên thuê về loại thiết bị, các thông số kỹ thuật, giá cả…
+ Cung cấp dịch vụ bảo hành và các dịch vụ khác cho Bên thuê.
+ Giao tài sản trực tiếp cho Bên thuê trong tình trạng tài sản hoạt động tốt.
+ Thực hiện hợp đồng mua tài sản với Bên cho thuê.
Đối với trường hợp cho thuê tài chính hai bên, phương thức này chỉ có sự tham
gia của bên thuê và bên cho thuê. Lúc này, bên thuê cũng đồng thời là nhà cung cấp
hoặc bên cho thuê sẽ sử dụng thiết bị có sẵn để tài trợ trực tiếp cho bên thuê.
1.1.2.2. Cho thuê vận hành
Thuê vận hành là thuê tài sản không có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích
gắn liền với quyền sở hữu tài sản.
Cho thuê vận hành không phải là phương thức tài trợ mua sắm máy móc thiết bị.
Bên đi thuê ký hợp đồng sử dụng các thiết bị sẵn có của Công ty CTTC như phương
tiện vận tải, máy móc trong thi công cơ giới và cũng có thể là máy móc thiết bị dùng
trong công nghiệp,… chi phí mua thiết bị được thu hồi qua các lần cho thuê và thanh
lý thiết bị.
Thuê vận hành có hai đặc trưng sau:
Thời hạn thuê rất ngắn so với toàn bộ đời sống hữu ích của tài sản, điều kiện để
chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn.
Người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo
hiểm, thuế tài sản…cùng mọi rủi ro và sự sụt giảm giá trị của tài sản.
Thuê vận hành thường với thời gian ngắn hơn nhiều so với tuổi thọ của thiết bị.
Vì vậy, một tài sản trong thời gian hữu dụng của có có thể trải qua nhiều hợp đồng
10
cho thuê vận hành. Hiện giá của tổng các khoản tiền thuê phải trả của một hợp
đồng cho thuê vận hành nhỏ hơn nhiều so với giá trị của tài sản. Khi hợp đồng hết
hạn, bên cho thuê có thể bán lại tài sản đó hoặc gia hạn hợp đồng cho thuê hay tìm
một khách hàng thuê mới.
Bên đi thuê có quyền sử dụng tài sản trong thời gian đã thỏa thuận và có nghĩa vụ

Thuê vận hành là kiểu cho thuê tài sản có từ lâu đời, ngày nay nó còn được gọi là
cho thuê hoạt động. Cho thuê vận hành và cho thuê tài chính đều là hoạt động cho
thuê, nhưng khác nhau về chất, điều đó được thể hiện như sau:
Đối với hoạt động cho thuê tài chính thì không được hủy ngang hợp đồng, trong
khi đó hợp đồng cho thuê vận hành có thể được hủy ngang.
Trong hoạt động cho thuê tài chính, rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản do bên
đi thuê chịu còn trong hoạt động cho thuê vận hành thì bên đi thuê không chịu rủi ro
và thiệt hại nếu không phải do lỗi mình gây ra.
Đối với chi phí bảo trì, dịch vụ và mua bảo hiểm, trong hoạt động cho thuê tài
chính, bên thuê phải chịu mọi chi phí trên còn nếu là cho thuê vận hành thì bên cho
thuê lại phải chịu mọi chi phí.
Đối với hoạt động cho thuê tài chính, tài sản thuê trước khi ký hợp đồng có thể
không thuộc sở hữu của người cho thuê mà là người đi thuê tìm, lựa chọn từ nhà cung
cấp và yêu cầu công ty cho thuê tài chính mua để cho người đi thuê thuê. Còn đối với
hoạt động cho thuê vận hành thì tài sản trước khi ký hợp đồng đã thuộc quyền sở hữu
của bên cho thuê.
Bên cho thuê tài chính có dự định chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi
hết hạn hợp đồng, bên cho thuê vận hành thì không có dự định đó.
Thời hạn cho thuê trong hoạt động cho thuê tài chính chiếm phần lớn thời gian
hữu ích của tài sản. Trong khi đó, thời hạn cho thuê của hợp đồng cho thuê vận hành
chiếm một phần rất nhỏ so với thời gian hữu ích của tài sản.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1. Giới thiệu chung về Công ty cho thuê tài chính
Mỗi nước có những định nghĩa khác nhau về Công ty Cho thuê tài chính. Ở
Việt Nam, theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ về
12
Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân
Việt Nam. Công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam

+ Cho thuê vận hành theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
+ Các hoạt động khác khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép…
Hiện nay, các Công ty CTTC trên thế giới do có lịch sử phát triển lâu đời nên các
mảng nghiệp vụ trên tương đối đầy đủ. Tại Việt Nam, các Công ty CTTC còn tương
đối mới mẻ nên hoạt động kinh doanh chính mới chỉ dừng lại ở nghiệp vụ CTTC.
Có thể xem xét một cách chi tiết hơn về hoạt động kinh doanh của các Công ty
CTTC như sau:
1.2.2.1. Nghiệp vụ Cho thuê tài chính (Finance Leasing)
Thông thường, các công ty CTTC áp dụng một số loại hợp đồng cơ bản sau:
a/ Hợp đồng cho thuê theo thoả thuận 3 bên:

(2c) 2a (1b) (1a) 2d (3)
(2b)
Sơ đồ 1.3: Tài trợ cho thuê ba bên
1a. Bên cho thuê ký hợp đồng cho thuê tài chính với bên thuê.
1b. Bên cho thuê ký hợp đồng mua tài sản với nhà cung cấp.
2a. Nhà cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho Bên cho thuê.
2b. Nhà cung cấp chuyển giao tài sản cho Bên thuê.
2c. Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản cho nhà cung cấp.
2d. Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho Bên thuê.
3. Theo định kỳ Bên thuê thanh toán tiền thuê cho Bên cho thuê.
BÊN CHO THUÊ
NHÀ CUNG CẤP
BÊN THUÊ
14
Giao dịch này có sự tham gia của ba bên là bên cho thuê, bên thuê và nhà cung
cấp. Theo phương thức này, bên thuê được quyền lựa chọn và thỏa thuận với bên cung
cấp về tài sản. Bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê đã được thỏa thuận
trong hợp đồng cho thuê tài chính.
Ưu điểm của phương thức cho thuê tài chính ba bên:

2b 2a

2a 1a
1b
2c
3
Sơ đồ 1.4: Tái cho thuê
1a. Bên cho thuê ký hợp đồng mua tài sản của Bên thuê (doanh nghiệp).
1b. Bên cho thuê ký hợp đồng CTTC với Bên thuê.
2a. Bên thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho Bên cho thuê.
2b. Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho Bên thuê.
2c. Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản cho Bên thuê (doanh nghiệp).
3. Theo định kỳ Bên thuê thanh toán tiền thuê cho Bên cho thuê.
Hợp đồng CTTC này có đặc trưng: Bên thuê giữ lại quyền sử dụng thiết bị trong
khi chuyển giao quyền sở hữu. Theo thoả thuận bán và cho thuê lại, người sử dụng
thiết bị sẽ bán thiết bị cho công ty CTTC. Công ty CTTC thoả thuận mua thiết bị và
cho người sử dụng thuê lại. Lúc này, người sử dụng trở thành Bên thuê thiết bị như
trong trường hợp thoả thuận 3 bên. Bên thuê chịu trách nhiệm sửa chữa, bảo dưỡng tài
sản thuê trong suốt quá trình thuê
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn hoạt động. Họ không
muốn vay Ngân hàng hoặc không vay được nữa nhưng vẫn muốn duy trì năng lực sản
xuất hiện có. Trong trường hợp này, sử dụng hình thức trên đáp ứng được yêu cầu của
doanh nghiệp và như vậy, doanh nghiệp vừa có thêm vốn lưu động để kinh doanh, vừa
Bên cho thuê
(Công ty
CTTC)

Bên thuê
(Doanhnghiệp)
16

gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty CTTC có những hạn chế nhất định về
nguồn vốn khi không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng.
Theo hình thức này, Bên cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ một hay nhiều
Bên cho vay nào đó. Theo luật pháp của một số quốc gia, khoản tiền vay này không
được vượt quá 80% tổng giá trị của tài sản tài trợ. Quyền sở hữu tài sản cho thuê và
các khoản tiền thuê mà Bên thuê sẽ trả trong tương lai được coi là vật thế chấp cho
khoản vay này. Bên cho vay được hoàn trả tiền đã cho vay từ các khoản tiền thuê,
thường do bên thuê trực tiếp chuyển trả theo yêu cầu của bên cho thuê. Sau khi trả hết
món nợ vay, những khoản tiền thuê còn lại sẽ được trả cho bên cho thuê. Hình thức
này đem lại lợi nhuận và mở rộng khả năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của
công ty CTTC.
Về phía Bên thuê, không có sự khác biệt trong mối quan hệ giao dịch với Bên cho
thuê so với các phương thức khác.
Hình thức này thường được sử dụng trong những giao dịch giao dịch thuê mua đòi
hỏi một lượng vốn đầu tư lớn như thuê mua máy bay thương mại, tàu chở hàng lớn…
g/ Hợp đồng cho thuê giáp lưng
Đây là phương thức tài trợ mà trong đó khi được sự thoả thuận của Bên cho thuê,
Bên thuê thứ nhất cho Bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà Bên thuê thứ nhất đã thuê
từ Bên cho thuê.
Kể từ thời điểm hợp đồng thuê lại được ký kết, tất cả quyền lợi, nghĩa vụ cùng tài
sản sẽ được chuyển giao từ Bên thuê thứ nhất sang Bên thuê thứ hai. Toàn bộ chi phí
phát sinh sẽ do Bên thuê thứ nhất và Bên thuê thứ hai thoả thuận với nhau. Tuy nhiên,
Bên thuê thứ nhất vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những rủi ro và thiệt hại
liên quan đến tài sản vì họ là người trực tiếp ký kết hợp đồng với Bên cho thuê ban đầu.
Hình thức này thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng hoàn trả toàn bộ và
được ký kết giữa Bên cho thuê với Bên thuê thứ nhất. Nhưng sau khi thực hiện được
một phần hợp đồng, Bên thuê thứ nhất không còn nhu cầu với tài sản đã thuê hoặc vì
một lý do nào đó (mà hợp đồng này là loại thoả thuận không thể huỷ ngang) nên họ
18
phải tìm người thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status