Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nước nhà từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền
kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế
tri thức và xu hướng gắn với nền kinh tế toàn cầu. Chính sự chuyển dịch này
đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Song
cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đặt ra cho các doanh nghiệp những
yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự vận động, vươn
lên để vượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật canh
tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên
thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lý tài
chính là một trong các vần đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực
tiếp đến sự sống còn của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Bởi lẽ, để hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần phải nhanh
chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhu cầu về vốn,
tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử dụng vốn
hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy các doanh nghiệp cần phải nắm được
các nhân tố ảnh hưởng, mức độ xu hướng tác động của từng nhân tố đến tình
hình tài chính doanh nghiệp. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân tích
tài chính.
Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản lý
doanh nghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, từ đó có thể nhận ra
những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp nhằm làm căn cứ để hoạch định
phương án hành động phù hợp cho tương lai và đồng thời đề xuất những giải
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính giúp nâng cao
chất lượng doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong thời gian thực
động khác của doanh nghiệp. Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được
những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác. Một quyết định tài chính không
được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho
doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp
tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc
gia.
1.1.2. Nội dung cơ bản về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong cả quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, nhà
doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông qua phương thức giải
quyết ba vấn đề quan trọng sau đây;
Thứ nhất: nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với
loại hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn. Đây chính là chiến lược đầu tư dài
hạn của doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư.
Câu hỏi này liên quan đến bên trái Bảng Cân đối kế toán. Giải đáp cho
vấn đề này là dự toán vốn đầu tư – đó là quá trình kế hoạch hoá và quản lý
đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Trong quá trình này, nhà quản lý tài chính
phải tìm kiếm cơ hội đầu tư sao cho thu nhập do đầu tư mang lại lớn hơn chi
phí đầu tư. Điều đó có nghĩa là, giá trị hiện tại các dòng tiền do tài sản tạo ra
phải lớn hơn giá trị hiện tại các khoản chi phí hình thành các tài sản đó. Tất
nhiên, việc lựa chọn loại tài sản và cơ cấu tài sản hoàn toàn tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng loại hình kinh doanh. Nhà quản lý không phải chỉ quan tâm tới
việc sẽ nhận được bao nhiêu tiền mà còn phải quan tâm tới việc khi nào nhận
được và nhận được như thế nào. Đánh giá quy mô, thời hạn và rủi ro của các
dòng tiền trong tương lai là vấn đề cốt lõi của quá trình dự toán vốn đầu tư.
Thứ hai: nguồn vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn
khoa học, hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn phải cập nhật tình
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hình hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là tình hình tài chính của doanh
nghiệp, từ đó tăng cường công tác quản lý và hoạt động tài chính cho doanh
nghiệp, luôn sẵn sàng phương án kinh doanh thích hợp, phương án xử lý rủi
ro kịp thời là điều kiện sống còn cho bất cứ doanh nghiệp nào. Do đó, để làm
được như vậy cần phải tiến hành hoạt động phân tích tài chính.
Phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất là đánh giá, xem xét, nghiên cứu
các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ hưu cơ, biện chứng giữa các bộ phận
cấu thành của sự vật, hiện tượng đó. Trên cơ sở đó nhận thức được bản chất,
tính chất và hình thức phát triển của các sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh chưa phát triển, thông tin cho quản
lý chưa nhiều, chưa phức tạp, do đó công việc phân tích được tiến hành đơn
giản, chỉ là những phép tính cộng trừ, kiểm điếm, đánh giá, nhìn lại mình
trong quá khứ để phục vụ cho việc ra quyết định trong tương lai. Như vậy
công việc phân tích kinh tế chỉ là một trong những phần việc của người quản
lý, phục vụ riêng cho người quản lý.
Khi xã hội phát triển, nền kinh tế được mở rộng và các mối quan hệ
kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú đòi hỏi con người (các nhà quản lý
cũng như các đối tượng sử dụng thông tin kinh tế khác) cần nhận thức được
tính chất, hình thức phát triển của các sự kiện, hiện tượng kinh tế. Đáp ứng
yêu cầu này phân tích kinh tế được ra đời và trở thành một hệ thống lý luận
độc lập và ngày càng phát triển.
Sự ra đời của phân tích kinh tế cùng với vai trò ngày càng quan trọng
của tài chính trong doanh nghiệp đã thúc đẩy hình thành lý luận về phân tích
tài chính.
Tài chính doanh nghiệp bản chất là các mối quan hệ phân phối dưới
hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng sinh lời của doanh nghiệp. Thông qua phân tích các chỉ tiêu, các nhà đầu
tư có thể thấy được hiệu quả đồng vốn mình bỏ ra có sinh lời hay không,
doanh nghiệp đã và sẽ sử dụng số vốn đó như thế nào, mức độ rủi ro đồng vốn
của các nhà đầu tư bỏ ra cao hay thấp, từ đó giúp các nhà đầu tư có quyết định
đúng đắn về vấn đề cho vay vốn, thu hồi nợ hay đầu tư vào doanh nghiệp.
- Đối với các nhà quản lý Nhà nước: Phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp giúp cho các nhà quản lý đánh giá được điểm mạnh yếu của
doanh nghiệp từ đó có thể đưa ra cơ chế chính sách tài chính thích hợp, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp quản lý và hoạt động kinh doanh, hướng dẫn
trợ giúp các doanh nghiệp phát huy lợi thế, khắc phục yếu điểm, tăng tích luỹ
cho doanh nghiệp cũng như cho nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ vai trò tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính đối
với các đối tượng sử dụng thông tin mà việc phân tích tài chính doanh nghiệp
là hết sức cần thiết và không thể thiếu được trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay.
1.2.3. Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp tiếp cận, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính,
các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp.
Về lý thuyết thì có rất nhiều phương pháp phân tích nhưng trên thực tế
người ta thường sử dụng hai phương pháp là phương pháp so sánh và phương
pháp tỷ lệ.
1.2.3.1. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế,
được áp dụng từ khâu đầu tới khâu cuối của quá trình phân tích từ khi sưu tầm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu) trên báo cáo tài chính, qua
đó thấy được sự biến động của từng chỉ tiêu.
+ Phân tích theo chiều dọc là việc xem xét, xác định tỷ trọng của từng
chỉ tiêu trong tổng thể quy mô chung, qua đó thấy được mức độ quan trọng
của chỉ tiêu trong tổng thể.
1.2.3.2. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này được dựa trên ý nghĩa, chuẩn mực của các tỷ lệ đại
lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ
yêu cầu phải xác định được các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài
chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thì tỷ lệ tài chính đợc
phân chia thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản
theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh tiền tệ có những nhóm chỉ tiêu tài chính như sau: nhóm
chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính, nhóm chỉ
tiêu về khả năng huy động vốn, sử dụng vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh
lời …
Khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ta nên kết hợp cả hai
phương pháp trên để có thể thu được kết quả chính xác nhất, thấy rõ thực chất
hoạt động tài chính cũng như xu hướng biến động của từng chỉ tiêu tài chính
qua các giai đoạn.
1.2.4. Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.2.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp qua bảng
cân đối kế toán.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định về
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Công việc này sẽ cung cấp cho người sử
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dụng thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình thường,
tốt hay xấu. Việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trước hết dựa
tài sản ta cần chú ý đến tác động của nó tói quá trình kinh doanh. Cụ thể là:
- Sự biến động của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng đến
khả năng ứng phó với các khoản nợ đến hạn.
- Sự biến động của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng lớn của quá trình
sản xuất kinh doanh từ khâu dự trữ sản xuất đến khâu bán hàng.
- Sự biến động của khoản phải thu chịu ảnh hưởng của công việc
thanh toán và chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng tới
việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Sự biến động của tài sản cố định cho thấy quy mô và năng lực sản
xuất hiện có của doanh nghiệp.
• Thứ hai: Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không? Cơ cấu vốn đó
tác động thế nào đến quá trình kinh doanh?
Để làm được điều này, trước hết phải xác định tỷ trọng của từng loại tài
sản trên tổng tài sản, so sánh tỷ trọng từng loại giữa số cuối kỳ với số đầu
năm để biết được sự biến động của cơ cấu vốn.
Giá trị từng loại vốn (nguồn vốn)
Tỷ trọng từng loại vốn = x 100
Tổng vốn (nguồn vốn)
Trước khi đưa ra bất kỳ nhận xét nào về sự biến động tỷ trọng các loại
tài sản ta phải xét tới tính chất ngành nghề kinh doanh cảu doanh nghiệp, tác
động của từng loại tài sản tới quá trình kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong kỳ. Để xác định như thế nào là một cơ cấu vốn hợp lý cho các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp là điều rất khó khăn. Mỗi doanh nghiệp phải dựa vào tình hình,
khả năng huy động vốn thực tế cảu doanh nghiệp mà mình xác định ra một cơ
cấu hợp lý nhất, chi phí sử dụng vốn là thấp nhất trong khi vẫn đạt được hiệu
quả mong muốn.
Cơ cấu vốn có tác động rất lớn tới quá trình sản xuất kinh doanh. Một
H2 =
Tổng giá trị tài sản có
Trong quá trình đổi mới tổ chức và quản lý của các trung gian tài chính,
Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ban hành “Quy chế đảm bảo an toàn kinh
doanh tiền tệ tín dụng đối với các tổ chức tín dụng”, trong đó quy định “tổ
chức tín dụng phải duy trì thường xuyên tỉ lệ tối thiểu giữa vốn tự có với tổng
giá trị tài sản có ở mức 5% nghĩa là H2> hoặc =5%.” Chỉ số 2 xác định độ an
toàn của vốn tự có đối với quy mô hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
(Quyết định số 107/QĐ-NHS ngày 09-06-1992).
1.2.4.2. Đánh giá khái quát tình hình tà chính của doanh nghiệp qua báo
cáo kết quả kinh doanh
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty thì ngoài việc
đánh giá thông qua bảng cân đối kế toán ta cần xem xét báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình
hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước
trong một thời kỳ nhất định. Số liệu trên báo cáo này cung cấp thông tin tổng
hợp về phương thức kinh doanh, về việc sử dụng tiềm năng vốn, lao động, kỹ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thuật, kinh nghiệm quản lý và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem
lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn. Nội dung của báo cáo kết quả kinh
doanh có thể thay đổi theo từng thời kỳ tuỳ theo yêu cầu quản lý của Nhà
nước nhưng luôn phản ánh được những nội dung cơ bản như doanh thu, giá
vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi, lỗ …
Khi phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần xem
xét các vấn đề cơ bản sau đây:
• Thứ nhất: Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần lãi, lỗ
giữa kỳ này với kỳ trước qua việc so sánh cả số tương đối và số tuyệt đối. Đăc
Chỉ tiêu này phản ánh để thu được 100 đồng doanh thu thuần
doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng. Tỷ suất chi phí bán
hàng trên doanh thu thuần càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đã tiết kiệm được
chi phí bán hàng.
Chỉ tiêu 3:
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Tỷ suất chi phí quản lý trên
Doanh thu thuần = x 100
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để thu được 100 đồng doanh thu thuần doanh
nghiệp phải chi ra bao nhiêu đồng chi phí quản lý. Cũng giống như 2 chỉ tiêu
trên, tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần càng nho
thường cho thấy hiệu quả quản lý các khoản chi phí quản trị doanh nghiệp
càng cao và ngược lại.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nghiên cứu các tỷ suất trên sẽ giúp ta thấy được tìuh hình quản lý, sử
dụng, phân bổ chi phí mới có thể tìm ra khâu phát sinh chi phí bất hợp lý làm
ảnh hưởng không tốt tới tình hình tài chính chung của doanh nghiệp và có
phương pháp xử lý kịp thời.
1.2.4.3. Đánh giá khái quát tình tài chính thông qua thực trạng huy động và
sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của các tổ chức tài chính với
các tổ chức phi tài chính là tổ chức tài chính chủ yếu kinh doanh băng nguồn
vốn huy động từ các thành phần kinh tế còn các doanh nghiệp phi tài chính thì
kinh doanh bằng nguồn vốn tự có là chính. Vì vậy, khi phân tích tình hình tài
chính của một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ ta phải nghiên cứu tình trạng
huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, để thấy được tính ổn định của
doanh nghiệp, sự phát triển về quy mô hoạt động hay chính là sự ổn định tài
chính của doanh nghiệp.
dụng tăng nhanh.
Nếu tốc độ tăng tiền gửi nhanh hơn tốc độ cho vay trong một thời gian
dài, có thể đẩy doanh nghiệp vào tình huống dư thừa vốn, không cho vay
được trong khi vẫn phải trả chi phí cho các khoản tiền gửi. Hệ quả là doanh
nghiệp buộc phải giảm tốc độ tăng tiền gửi bằng cách giảm lãi suất huy động
hay tăng tín dụng thông qua nới lỏng các điều kiện cho vay. Cả hai biện pháp
bày đều có khả năng làm mất uy tín, niềm tin hay tăng rủi ro cho doanh
nghiệp. Ngược lại, giả sử tốc độ tăng tiền gửi thấp hơn nhiều so với tốc độ
tăng cho vay thì đơn vị dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn cho vay, buộc phải
tăng lãi suất để thu hút tiền gửi, song để làm được điều này là rất khó khăn.
Chính vì vậy, tốc độ tăng tiền gửi và cho vay đều đặn không có đột biến và
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoảng cách giữa hai tốc độ này không quá lớn là đảm bảo cho ổn định tài
chính doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ.
Ngoài tốc độ tăng các khoản tiền gửi và cho vay doanh nghiệp còn phải
quan tâm tới tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, do
nó ảnh hưởng rất lớn tới khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn Tổng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
được sử dụng để cho vay = x100
trung và dài hạn Tổng vốn ngắn hạn
1.2.4.4. Phân tích tài chính thông qua nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh
toán.
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp có thể chi trả các khoản
nợ khi chúng đến hạn. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thường được
các nhà đầu tư, chủ nợ xem xét đầu tiên vì nó thể hiện doanh nghiệp có thể
tiếp tục sản xuất kinh doanh hay đã lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính.
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp người ta thường sử dụng
các hệ số sau:
Hệ số 1:
tốt, tuy nhiên nếu quá cao doanh nghiệp có thể lâm vào tìn trạng ứ đọng vốn,
quay vòng vốn chậm, giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ cũng như các ngân hàng
khi muốn đánh giá khả năng thanh toán người ta lại sử dụng một chỉ số khác
tuy nhiên về bản chất thì cũng như vậy.
Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ có thể
xét theo nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, khả năng thanh toán bao
gồm khoản dự trữ tiền mặt để sẵn sàng đáp ứng cho những nhu cầu rút tiền
bất ngờ của nhân dân. Khả năng thanh toán còn chỉ ra những khái niệm rộng
hơn. Thanh khoản còn là tình trạng tiền mặt sẵn sàng để chi trả hay cho vay.
Đánh giá khả năng thanh toán của một tổ chức tín dụng là một lĩnh vực
khó. Về cơ bản đây chính là xem xét khả năng giải quyết được vấn đề nguồn
vốn vào lúc cần thiết.
Tài sản có động
Khả năng thanh toán tức thì = x 100
Tài sản nợ dễ biến động
Trong đó:
• Tài sản có động là tài sản có thể chuyển đổi thành tiền. Theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tài sản có động bao gồm: Tiền mặt tồn
quỹ; vàng bạc tồn kho; tiền gửi không kì hạn ở Ngân hàng Nhà nước; tiền gửi
không kì hạn ở các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; các hợp đồng cam
kết được vay; tín phiếu kho bạc.
• Tài sản nợ dễ biến động là loại tài sản dễ bị rút ra bất cứ lúc nào, đặc
biệt khi gặp khó khăn về tài chính. Tài sản nợ dễ biến động bao gồm: Tiền gửi
không kì hạn của nhân dân; tiền gửi không kì hạn của các tổ chức tín dụng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khác; vay ngắn hạn các tổ chức tín dụng; các cam kết cho vay nằm ở sổ ngoại
tích sản (số lợi nhuận ròng thu được trên một đơn vị tài sản có). Chỉ tiêu ROA
thể hiện khả năng sử dụng linh hoạt các khoản mục tích sản, tỷ lệ này càng
cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tích sản càng cao. Hệ số ROA càng cao chứng
tỏ: kết quả của các hoạt động hữu hiệu; kết quả của các lợi tức kiếm được từ
tích sản. Tuy nhiên, tỷ lệ này càng cao cũng thể hiện mức độ rủi ro càng cao
mang lại từ tích sản mặc dù nó nói lên sự quản lý các tích sản tốt.
Thu nhập ròng
• ROE (%) = x 100
Vốn tự có
Chỉ tiêu này đo lường tính lành mạnh trong hoạt động của một doanh
nghiệp. Hệ số ROE phản ánh lợi nhuận kiếm được từ đơn vị vốn đầu tư.
ROE > ROA chứng tỏ vốn huy động quá lớn so với vốn tự có của một
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ.
Lợi nhuận ròng
• Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng thu nhập (%) =
Tổng thu nhập
Chỉ tiêu này giúp xác định khả năng mang lại lợi nhuận của một đồng
thu nhập. Tỷ lệ này nên duy trì ở mức > 10%.
Để đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng người ta thường
sử dụng các đẳng thức thể hiện mối quan hệ giữa các hệ số sinh lời.
Tổng tài sản
ROE = ROA x
Vốn chủ sở hữu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nói cách khác:
Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Tổng tài sản
= x
Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Tổng doanh thu - Tổng chi phí - Thuế Tổng tài sản
tăng thu nhập của doanh nghiệp bằng cách tăng cường kiểm soát chi phí, tối
đa hoá các nguồn thu. Tương tự như vậy, phân bổ vốn của ngân hàng cho các
khoản mục tín dụng có tỷ lệ thu nhập cao nhất tại mức rủi ro hợp lý doanh
nghiệp có thể tăng tỷ lệ thu nhập trung bình trên tài sản.
1.2.4.6. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Những phân tích ở trên có thể là chưa hoàn thiện nếu những người sử
dụng thông tin còn muốn biết vốn được xuất phát từ đâu và được sử dụng vào
việc gì, theo thứ tự thời gian nào. Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử
dụng vốn sẽ cho ta biết những điều này.
Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những
cơ sở, công cụ của nhà quản trị tài chính để hoạch định chính sách tài chính
cho kỳ tới. Thông tin do bảng phân tích cung cấp sẽ cho ta biết doanh nghiệp
đang phát triển hay gặp khó khăn. Những thông tin như thế rất hữu ích cho
các nhà đầu tư, chủ nợ vì họ biết được doanh nghiệp đã và đang làm gì với
vốn của họ.
Để lập được bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta
thường tổng hợp sự thay đổi các khoản mục trong bảng cân đối kế toán giữa
Website: Email : Tel : 0918.775.368