Phân tích năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng công thương Việt Nam năm 2008 - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với quá trình 20 năm đổi mới kinh tế của đất nước, hoạt động ngân hàng tại
Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong việc cung cấp nguồn vốn kinh doanh cho
các cá nhân, doanh nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo… Ngành đã trải qua giai đoạn
phát triển theo chiều rộng với việc mở rộng mạng lưới, tăng dư nợ, mở rộng khách hàng,
phát triển các định chế tài chính. Hiện nay, trước các thử thách mới của quá trình hội
nhập, ngành bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu với việc cơ cấu lại các ngân
hàng thương mại (NHTM), thực hiện cổ phần hóa NHTM nhà nước, tăng quy mô của các
ngân hàng, cải thiện năng lực quản trị điều hành. Quá trình phát triển đó đã làm cho sự
chi phối của các NHTM đối với các doanh nghiệp và đại bộ phận dân cư cũng từng bước
mạnh hơn, sâu hơn và thiết yếu hơn. NHTM chính vì thế đã trở thành trung gian tài chính
quan trọng của đất nước.
Bên cạnh đó, thế kỉ XXI đánh dấu bước ngoặt vĩõ đại trong lịch sử kinh tế nước
nhà, đó là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Sự kiện này đã buộc các NHTM Việt Nam phải ra sức “căng buồm
để đón gió to”, khẳng định vị thế cạnh tranh của mình đối với khu vực và thế giới. Trong
khi các ngân hàng nước ngoài đang tiến những bước dài vào sân chơi lớn ở Việt Nam, thì
chúng ta, những ngân hàng bản địa phải không ngừng cải thiện chất lượng phục vụ, mở
rộng quy mô, tận dụng tối đa ưu thế của những “chủ nhà”, gia tăng khối lượng vốn huy
động làm cơ sở để hoạt động cấp tín dụng ngày một tăng trưởng trong điều kiện an toàn,
lợi nhuận cao và giảm thiểu rủi ro.
Hoà vào vòng quay tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và
hệ thống ngân hàng nói riêng, Ngân hàng Cơng Thương Việt Nam (NHCTVN) không
ngừng đổi mới trong chiến lược hoạt động, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng,
nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập. Việc nhìn nhận lại năng lực cạnh
tranh của NHCTVN hiện tại, đánh giá các điểm mạnh, yếu để từ đó, xác định và nâng cao
hiệu quả hoạt động là công việc hết sức cần thiết và hữu hiệu. Đó là lý do em quyết định
chọn đề tài “Phân tích năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng cá nhân tại
Ngân hàng cơng thương Việt Nam năm 2008”.
1

nói chung và thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân nói riêng của NHCTVN trong năm
2008. Từ đó, dựa vào cơ sở lý thuyết đã được trình bày ở chương 1 để đi sâu vào phân
tích các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng cá nhân của
NHCTVN và xác định vị thế hiện tại của NHCTVN trong hệ thống NHTM Việt Nam.
Tiếp theo, chương 2 nêu ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hoạt
động tín dụng cá nhân tại NHCTVN năm 2008.
Cuối cùng, từ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đã được phân tích
ở chương 2, chương 3 của đề tài sẽ đưa ra những giải pháp cụ thể, thiết thực nhất nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng cá nhân tại NHCTVN trong thời
gian tới. Bên cạnh đó, đưa ra những kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước và các bộ,
ngành có liên quan.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Năng lực cạnh tranh
Tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác
nhau về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng của
các tổ chức tín dụng (TCTD) là việc các TCTD sử dụng tối đa các nguồn lực của mình để
giành và vượt lên các đối thủ cạnh tranh, khẳng định vị trí của mình trong thị trường tiền
tệ.
Có ý kiến cho rằng năng lực cạnh tranh của một ngân hàng gắn liền với ưu thế của
sản phẩm mà ngân hàng đó đưa ra thị trường. Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của
3
ngân hàng với thị phần mà nó nắm giữ. Cũng có những quan điểm đồng nhất năng lực
cạnh tranh của ngân hàng với hiệu quả hoạt động của nó Một số ý kiến tán thành năng
lực cạnh tranh của ngân hàng là việc ngân hàng khai thác thực lực và lợi thế của mình để
thỏa mãn nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vaò thực lực
và lợi thế của mình có lẽ chưa đủ; bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên
ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Như vậy, dưới góc độ ngân hàng, có thể định nghĩa
năng lực cạnh tranh của ngân hàng là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên
trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hóa dịch vụ hấp dẫn với người tiêu

doanh nghiệp tư nhân có nguồn thu chủ yếu từ lương và doanh thu từ hoạt động sản xuất
kinh doanh
Vai trò của tín dụng
Vai trò trước hết của tín dụng là thúc đẩy sản xuất phát triển. Tín dụng là nguồn
cung ứng vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân. Hơn nữa, nó là công cụ
để tập trung vốn một cách hữu hiệu, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn, thúc đẩy tích tụ
vốn trong doanh nghiệp, trong dân chúng và làm tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn trong
toàn xã hội.
Vai trò thứ hai là góp phần ổn định lưu thông tiền tệ và bình ổn giá cả trong nền
kinh tế. Tín dụng ngân hàng là công cụ của nhà nước nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ
lưu thông trong nền kinh tế theo tín hiệu thị trường qua hàng loạt các công cụ: dự trữ bắt
buộc, chính sách chiết khấu, chính sách lãi suất, chính sách ngoại hối… để đạt được sự
tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh lạm phát, giá cả, lãi suất… Mặt khác, trong điều kiện nền
kinh tế có lạm phát cao, tín dụng được xem như là một biện pháp hữu hiệu góp phần làm
giảm lạm phát.
Vai trò kế tiếp là giải quyết việc làm. Tín dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản
phẩm hàng hóa dịch vụ ngày càng tăng có thể thỏa mãn nhu cầu của người lao động. Bên
cạnh đó, vốn tín dụng góp phần khai thác các tiềm lực sẵn có trong xã hội. Do đó, thu hút
được nhiều lực lượng lao động để tạo ra lực lượng sản xuất mới. Một xã hội phát triển
lành mạnh, đời sống ổn định, nhân dân lao động ai cũng có công ăn việc làm… Đó là tiền
đề quan trọng trong ổn định trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, tín dụng ngân hàng là một
biện pháp hữu hiệu trong việc hạn chế cho vay nặng lãi ở thị trường chợ đen.
5
Cuối cùng, tín dụng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đối ngoại. Ngân
hàng đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các tổ chức kinh tế trong nước và tổ chức
nước ngoài trong việc kinh doanh xuất nhập khẩu.
1.2 Cơ sở phân tích năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng
1.2.1. Tính đặc thù trong cạnh tranh ngân hàng
Cạnh tranh luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Các ngân hàng trong kinh
doanh luôn phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt; không chỉ từ các ngân hàng khác, mà từ

Cuối cùng, hoạt động của các ngân hàng liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không
chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động
kinh tế đối ngoại. Đồng thời, nó còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng;
trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Một ngân hàng muốn cung
cấp dịch vụ nào đó, trước hết phải đáp ứng được các điều kiện tối thiểu về kỹ thuật công
nghệ thì mới có thể hoạt động được. Điều đó cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh trong hệ
thống các ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán kinh doanh
tiền tệ của các nước; sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ.
Tóm lại, sự cạnh tranh của các ngân hàng là loại hình cạnh tranh đòi hỏi những
chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác.
1.2.2. Mô hình Diamond của Michael Porter phân tích năng lực cạnh tranh
Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ:
quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính
thuyết phục về vấn đề này; do đó, không có lý thuyết về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên,
có hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và tổ chức
kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất đó là: Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế
giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu; phương pháp thứ hai do
Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn “Niên giám cạnh tranh
thế giới”. Cả hai phương pháp trên đều do một số giáo sư đại học Harvard như Michael
Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison
tham gia xây dựng. Trong phạm vi của bài viết này, tác giả sẽ dựa trên mô hình “Viên
kim cương” (Diamond) – một mô hình được sử dụng khá phổ biến hiện nay của Micheal
Porter để phân tích năng lực cạnh trong trong hoạt động tín dụng cá nhân của NHCTVN.
7
Theo Micheal Porter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và của
ngân hàng nói riêng gồm bốn yếu tố:
Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Nguồn: Michael Porter – Chiến lược cạnh tranh (1996)
Nhân tố trước tiên được nói đến là nhân tố điều kiện. Các điều kiện này có thể
được chia thành hai loại: các điều kiện cơ bản như mơi trường tự nhiên, địa lý, lao động

động rất lớn đến sự phát triển của ngân hàng. Khi nhu cầu của khách hàng thay đổi và đòi
hỏi của họ ngày càng cao trong việc được cung cấp các dịch vụ ngân hàng nói chung và
dịch vụ tín dụng nói riêng thì chiến lược của ngân hàng cũng phải được điều chỉnh để đáp
ứng tốt nhất các nhu cầu mới của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai. Nếu không, rất
dễ dẫn đến tình trạng khách hàng sẽ lựa chọn một ngân hàng khác.
Do đó, trong hoạt động tín dụng cá nhân, với thị trường khách hàng là các cá nhân,
ngân hàng phải đặc biệt quan tâm đến nhu cầu tín dụng của từng khách hàng. Đồng thời,
những nhu cầu trong tương lai của khách hàng cũng cần phải được dự báo và hướng tới
để giúp ngân hàng có thể chủ động đưa ra những sản phẩm dịch vụ mới phù hợp với nhu
cầu của khách hàng.
Lĩnh vực hỗ trợ và liên quan đến hoạt động ngân hàng
Sự phát triển của ngành ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của khoa
học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực khác như tin học viễn
thông, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… Bên cạnh đó, đặc điểm hoạt
động của các loại hình định chế tài chính có mối liên hệ chặt chẽ và có sự bổ trợ với
nhau, như ngành bảo hiểm và thị trường vốn. Một thị trường vốn và bảo hiểm phát triển
và có quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng chắc chắn sẽ hỗ trợ cho sự tăng trưởng của
ngành ngân hàng.
Đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Sự gia tăng các đối thủ cạnh tranh và đối thủ tiềm ẩn trên thị trường ảnh hưởng tới
hoạt động của ngân hàng ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nó có thể làm thay đổi vị thế của
ngân hàng trên thị trường và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Thứ hai,
nó tạo áp lực cạnh tranh, buộc các ngân hàng phải liên tục đề ra những giải pháp để nâng
9
cao chất lượng hoạt động của mình. Do đó, việc theo dõi thường xuyên hoạt động của đối
thủ cạnh tranh sẽ giúp ngân hàng nhận biết được vị thế hiện tại trên thị trường, từ đó có
những chiến lược nhằm năng cao năng lực cạnh tranh.
Chính sách, môi trường pháp luật
Hoạt động của ngân hàng – mảng tín dụng cá nhân luôn có những tác động lớn
đến hoạt động kinh tế xã hội của một quốc gia và do đó được kiểm soát chặt chẽ bởi hệ

nhiều hơn. Đầu tư nước
ngoài vào ngành tăng
- NHTM có cơ hội cung
cấp cho các khách hàng
nhiều hơn nhưng cũng
phải cạnh tranh khốc liệt
hơn
O
-Luật pháp dần
hoàn thiện
- Tạo khung pháp lý
cho ngành phát triển.
- NHTM trong nước được
bảo vệ khi có tranh chấp.
O
- Chính sách bình
ổn thị trường tiền
- Thúc đẩy các NHTM
trong ngành tăng trưởng
- Bớt đối thủ cạnh tranh:
- Có vốn đầu tư thấp.
O
10
tệ, kinh doanh
ngân hàng của
ngân hàng Nhà
nước
bền vững theo chuẩn
mực quốc tế.
- Kinh doanh không an toàn

thực hiện một số giao dịch tại bất cứ nơi đâu có kết nối mạng internet mà không cần phải
trực tiếp đến ngân hàng.
Mạng lưới hoạt động
Mạng lưới hoạt động luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động
ngân hàng, nhất là đối với các khách hàng cá nhân. Tuy vậy ngày nay sự gần về địa lý
còn được phát triển theo một tiếp cận mới hơn. Đó là sự gần về điện tử đối với những
giao dịch tự động nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin.
Năng lực tài chính
Trong tiềm thức của khách hàng, năng lực tài chính của đồng nghĩa với khả năng
thanh toán, uy tín của ngân hàng trên thương trường. Khách hàng sẽ cảm thấy an toàn
hơn khi giao dịch với một ngân hàng có năng lực tài chính mạnh, có khả năng thanh
khoản cao. Từ đó, cho phép ngân hàng huy động được những nguồn vốn với chi phí đầu
vào cạnh tranh.
Nhân sự
Bộ máy quản lý, điều hành tài giỏi và có tầm nhìn xa kết hợp với đội ngũ nhân
viên nhiệt tình, năng động, nhã nhặn, biết giao tiếp là một lợi thế lớn về cạnh tranh của
các ngân hàng. Để thực hiện được những mục tiêu đề ra đòi hỏi ngân hàng cần phải có
một đội ngũ nhân viên như vậy.
Sản phẩm tín dụng
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng là hàng hóa đặc biệt, người mua không thể nhìn thấy,
không thể sờ vào được mà họ sẽ cảm nhận thông qua việc mua và sử dụng dịch vụ. Do
đó, các đặc điểm về tính độc đáo, chuyên biệt, sự tiện lợi, độ an toàn, giá trị gia tăng của
sản phẩm, dịch vụ là yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Chiến lược của ngân hàng
Chiến lược là một chương trình hành động dài hạn nhằm đạt được những mục tiêu
kinh doanh ngắn hạn hoặc dài hạn của ngân hàng.
12
Chiến lược kinh doanh của một ngân hàng là một chương trình hành động tổng thể
và dài hạn nhằm tạo ra một bước phát triển nhất định của ngân hàng; là sự cam kết trước
về các mục tiêu cơ bản, toàn diện mà một ngân hàng phải đạt được và sự phân bổ các

Các ngân hàng có lợi thế trong công tác nghiên cứu, thiết kế sản phẩm dịch vụ và
lợi thế về công nghệ có thể áp dụng chiến lược khác biệt hóa để thu hút khách hàng đến
với sản phẩm tín dụng cá nhân của mình.
Chiến lược trọng tâm hóa (Focus)
Khi sử dụng chiến lược này, các ngân hàng hoặc là sử dụng sự nhấn mạnh chi phí,
hoặc là nhấn mạnh sự khác biệt; song lại tập trung cụ thể hơn vào một phân đoạn thị
trường xác định chẳng hạn như một nhóm khách hàng chuyên biệt, một sản phẩm chuyên
biệt hoặc một thị trường nhất định nào đó… Nếu như hai chiến lược nêu trên là nhằm
hướng tới mục tiêu và hoạt động toàn ngành thì chiến lược trọng tâm hóa được xây dựng
nhằm việc thực hiện tốt một thị trường mục tiêu đã lựa chọn với phạm vi.
1.2.3. Nghiên cứu thực nghiệm về năng lực cạnh tranh của NHTM
Trong nghiên cứu và khảo sát của Công ty tư vấn quản lý MCG về năng lực cạnh
tranh của ngành ngân hàng Việt Nam; đây là một trong những nghiên cứu được thực hiện
trong khuôn khổ “Dự án tăng cường năng lực Quản lý và Xúc tiến hoạt động Thương mại
Dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập – VIET/02/009”, do Chương trình phát triển
của Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ, Vụ Thương mại và Dịch vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(MPI) là cơ quan thực hiện, những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân
hàng Việt Nam đã được khái quát hóa như sau:
Trước hết, về thể chế pháp luật. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một vấn đề gây hạn chế
và tạo ra những bất cập trong môi trường kinh doanh dịch vụ ngân hàng là các thể chế và
chính sách còn chưa đồng bộ, còn chồng chéo và mâu thuẫn với nhau. Bên cạnh đó, cũng
còn có nhiều quy định chưa kịp sửa đổi kịp thời để tạo ra sự đồng bộ trong khuôn khổ
chính sách và thể chế.
Thứ hai, về các ngành liên quan và hỗ trợ chẳng hạn như ngành bảo hiểm, thị
trường chứng khoán, công nghệ thông tin… Quan hệ giữa ngành ngân hàng và các ngành
này chưa thực sự hỗ trợ lẫn nhau và chưa dẫn đến giảm chi phí sản xuất. Điều này có thể
nhận thấy trong sự tách biệt trong hoạt động của các tổ chức này và sự kém tương tác của
thị trường liên ngân hàng.
14
Kế tiếp là việc thiếu một cơ cấu quản trị hiện đại và quy trình phục vụ khách hàng

Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt và trong bối cảnh quốc tế hiện nay, các
ngân hàng phải hoạt động có hiệu quả hơn nữa để có được những vị trí cao nhất trong xếp
hạng ngân hàng. Kết quả xếp hạng ngân hàng phản ánh năng lực cạnh tranh của từng
ngân hàng cũng như của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia. Việc xếp hạng ngân hàng
trên thế giới được thực hiện dựa trên các nhóm chỉ số sau:
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh năng lực của các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh
của một tổ chức tài chính, bao gồm:
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực;
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực công nghệ, năng lực tài chính, mức độ rủi ro họat
động;
Các chỉ tiêu phản ánh phạm vi, chất lượng sản phẩm dịch vụ, uy tín, giá trị thương
hiệu;
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực hệ thống và mạng lưới phân phối.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ chế, chính sách sử dụng và phát triển các lợi thế so
sánh của một NHTM, bao gồm:
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng
hợp lý nguồn nhân lực;
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực, hiệu quả và mức độ an tòan của chính sách phát
triển công nghệ khoa học;
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu lực và hiệu quả của chính sách phát triển và sử dụng
hợp lý năng lực tài chính, hệ thống phân phối sản phẩm-dịch vụ và giá trị thương hiệu.
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết qủa thực hiện chính sách cạnh tranh của một tổ
chức tài chính, bao gồm:
Chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng trưởng của tài sản có;
Chỉ tiêu phản ánh thị phần tăng thêm hoặc nhịp độ tăng thị phần, tỉ lệ tăng thêm
khách hàng;
Chỉ tiêu phản ánh tỉ trọng thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ mới trong tổng thu
nhập của NHTM thu nhập tăng thêm nhờ các biện pháp cạnh tranh.
16
Hiện nay có nhiều hệ thống chỉ số được dùng để xếp hạng các TCTD. Tuy nhiên,


Là một ngân hàng chủ lực trong hệ thống NHTM Việt Nam, trong nhiều năm qua,
VietinBank đã đầu tư cho vay hàng trăm ngàn tỷ đồng cho nhiều dự án lớn, vừa, nhỏ, xây
dựng nhiều nhà máy xí nghiệp, đầu tư các dây chuyền sản xuất thiết bị cơng nghệ, hiện
đại hĩa, nâng cao năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp thuộc mọi ngành kinh tế, các
Tập đồn, các Tổng cơng ty 90, 91 và các đơn vị thành viên. VietinBank cĩ quan hệ hợp
tác chiến lược tồn diện với hầu hết các Tập đồn kinh tế và Tổng cơng ty lớn. Đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, VietinBank được cơng nhận là ngân hàng mạnh
nhất trong cung cấp dịch vụ tài chính, được các tổ chức quốc tế lớn như UNDP, JIBIC,
18
EC, KFW, ADB tài trợ vốn để cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở hầu hết các tỉnh,
thành phố, tạo cơng ăn việc làm cho nhiều tầng lớp người lao động.
Trong hệ thống ngân hàng, VietinBank luơn là ngân hàng tiên phong trong lĩnh
vực ứng dụng cơng nghệ thanh tốn hiện đại. Ngân Hàng Cơng Thương là NHTM đầu tiên
ở Việt Nam đưa vào hoạt động Trung tâm xử lý tập trung thanh tốn xuất nhập khẩu theo
tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện phục vụ tốt nhất về dịch vụ ngân hàng cho các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu trong cả nước. VietinBank đang triển khai
mạnh mẽ các dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking, đã cĩ các sản phẩm dịch vụ mới
mang tiện ích cao và hiện đại như: Dịch vụ thanh tốn cước phí viễn thơng, vận tải qua
mạng, dịch vụ SMS Banking, VnTopup, …
Đội ngũ cán bộ nhân viên VietinBank được thử thách trong cơ chế thị trường, đã
liên tục được bổ sung, đào tạo, sắp xếp lại theo yêu cầu đổi mới và phát triển kinh doanh
hệ thống. Các cơ chế, qui định, quy trình nghiệp vụ của VietinBank mang tính thống
nhất, đầy đủ, tiên tiến, đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong giai đoạn mới, cĩ thể kể đến Bộ
cẩm nang sổ tay tín dụng; 61 quy trình nghiệp vụ theo quy chuẩn khoa học được cấp
chứng nhận ISO.
Trong 20 năm qua, Ngân Hàng Cơng Thương đã dành nguồn lực tài chính đầu tư
cho trang thiết bị cơ sở vật chất và cơng nghệ. Đến nay, tồn bộ hệ thống mạng lưới từ Trụ
sở chính, các trụ sở giao dịch kiêm kho của chi nhánh, các phịng giao dịch, điểm giao
dịch đều khang trang hiện đại, được thiết kế qui chuẩn mang thương hiệu VietinBank. Cĩ

NHCT_chi nhánh 3 đã khơng ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khai các chương
trình tín dụng trọng điểm, đẩy mạnh cho vay khuyến khích đầu tư phát triển sàn xuất kinh
doanh trên đại bàn thành phố. Vì vậy, NHCT_chi nhánh 3 đã tạo được sự tín nhiệm của
đơng đảo khách hàng, đồng thời chi nhánh cũng luơn ý thức rằng: được khách hàng tín
nhiệm là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển cua NHCT_chi nhánh 3.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức NHCT_chi nhánh 3
22
Giám đốc
Phó giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Phòng
kho
quỹ
Phòng
quản

rủi
ro
Phòng
khách
hàng

nhân
Phòng
khách

PGD
Lê Văn

PGD
Nguyễn
Thông
2.1.4 Tình hình hoạt động của NHCTVN năm 2008
2.1.4.1 Bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2008:
Năm 2008 là câu chuyện hai cuộc khủng hoảng nối tiếp nhau. Trong nửa đầu năm
2008, Việt Nam gánh chịu ảnh hưởng của tình trạng phát triển quá nĩng khởi nguồn từ
dịng vốn vào ồ ạt. Kết quả là lạm phát gia tăng, thâm hụt cán cân thương mại bong bĩng
bất động sản và giảm sút chất lượng đầu tư. Hành động quyết tâm của Chính phủ hồi
tháng Ba đã dần từng bước ồn định tình hình kinh tế. Mặc dù giá lương thực và năng
lượng Thế giới tăng cao, chính sách thắt chặt tiền tệ và các biện pháp hạn chế ngân sách
đã gĩp phần hạ nhiệt tình trạng bong bĩng của thị trường bất động sản, từng bước kiềm
chế lạm phát và cắt giảm thâm hụt thương mại đến mức kiểm sốt được. Tuy nhiên, tăng
trưởng kinh tế đã hứng chịu những ảnh hưởng của các chính sách trên, GDP ở sáu tháng
đầu năm tăng ở mức thấp nhất nhiều năm nay. Thực trạng kinh tế quả là khá mỏng manh
hồi tháng năm, khi thị trường đồn đốn về một khả năng khủng hoảng cán cân thanh tốn.
Tuy nhiên những thử thách cam go này đang dần được khắc phục thơng qua nhĩm giải
pháp quyết liệt của Chính phủ nhằm bình ổn kinh tế. Nĩi tĩm lại, năm 2008 được đánh
giá là một năm đầy khĩ khăn và với ngành ngân hàng. Từ đầu năm đến nay, sự biến động
của nền kinh tế trong và ngồi nước đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh
doanh trên địa bàn. Việc tiếp cận được vốn tín dụng từ ngân hàng của các doanh nghiệp
trở nên khĩ khăn hơn dẫn đến tâm lý khơng muốn trả các khoản nợ đến hạn từ phía khách
hàng. Từ những khĩ khăn trên, làm cho dự nợ trên địa bàn cĩ xu hướng giảm nhưng
nhưng nợ xấu lại cĩ dấu hiệu gia tăng. Cụ thể, dư nợ tăng cao trong 5 tháng đầu năm (đến
31/5/08 tăng 14,32% so với đầu năm), từ tháng 6 dư nợ cĩ chiều hướng giảm dần. Tiến
23
trình giải ngân vốn gặp nhiều khĩ khăn. Nguyên nhân cơ bản là do tình hình kinh tế cĩ

bản đã hồn thành những mục tiêu nhiệm vụ lớn đề ra từ đầu năm: Tồng tài sản tăng
trưởng 18%, vốn tự cĩ hơn 10.800 tỷ đồng, các chỉ tiêu tài chính và tỷ lệ an tồn vốn đều
ổn định, cao hơn năm 2007 mạng lưới tiếp tục mở rộng. Là cột mộc đánh dấu chặng
đường hơn 20 năm xây dựng và phát triễn, NHCT VN thực hiện thành cơng nhiều sự
kiện lớn cĩ ý nghĩa quan trọng: Chuyển đổi thống nhất thương hiệu mới Vietinbank được
đăng ký trên thị trường tài chính tồn cầu, đĩn nhận huân chương Độc lập hàng Nhì do nhà
nước trao tặng, là ngân hàng thương mại đầu tiên đưa vào hoạt động Trung tâm xử lý
nghiệp vụ tài trợ thương mại theo chuẩn mực quốc tế (SGD3), Trung tâm dự phịng dữ
liệu. Trường đào tạo phát triễn nguồn nhân lực, là những bước quan trọng nền tảng cho
ngân hàng phát triễn theo định hướng hiện đại, tiên tiến,hội nhập. Đặc biệt, với quyết tâm
24
cao thực hiện chủ trương cổ phần hố doanh nghiệp của Chính phủ, ngày 25/12/2008,
NHCT VN đã phát hành cổ phiếu lần đầu ra cơng chúng hết sức thành cơng, được coi là
một hiền tượng của năm 2008 trên thị trường tài chính.
- Huy động vốn:
Trong 2 tháng đầu năm 2008, tồn hệ thống nguồn vốn giảm hơn 11000 tỷ đồng so
với đầu năm (tương đương 8.5%) so với đầu năm, doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng liên
tục rút vốn khỏi ngân hàng, chỉ cĩ nguồn gửi tư nhân tương đối ổn định. Từ cuối quý 3,
nguồn vốn ngân hàng đỡ khĩ khăn hơn nhưng lại đối mặt với rủi ro lãi suất.
Cuối 31/12/2008, số dư nguồn vốn huy động bằng VNĐ (bao gồm tiền gửi và tiền vay)
đạt 174.662 tỷ đồng, tăng 19.669 tỷ đồng so với đầu năm, vốn huy động ngoại tệ qua
VNĐ đạt 28.503 tỷ tăng 5.587 tỷ.
Tiền gửi doanh nghiệp cĩ số dư 58.870 tỷ, giảm so với đầu năm 1.264 tỷ đồng.
- Sử dụng vốn:
Dư nợ cho vay và đầu tư đạt 180.392 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 27,799 tỷ, tỷ lệ
tăng 18,2%.Hoạt động cho vay và đầu tư chiếm tỷ trọng 92% tài sản cĩ.
• Cho vay nền kinh tế
Với chính sách thăt chặt tiền tệ của NHNN trong 3 quý đầu năm, trước nhu cầu tín
dụng rất lớn, NHCT VN đã sàn lọc khách hàng, lựa chọn đối tượng cho vay hiệu quả,
các ngành sản xuất thiết yếu để giải ngân. Từ cuối quý 3, chính sách nới lỏng tiền tệ linh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status