Áp dụng chiến lược trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) tại doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Nghiên cứu tình huống ngành may - Pdf 27

B GIO DC V O TO
TRNG I HC KINH T QUC DN







HONG TH THANH HNG áP DụNG CHIếN LƯợC TRáCH NHIệM Xã HộI CủA
DOANH NGHIệP (CSR) TạI DOANH NGHIệP QUY MÔ NHỏ Và VừA
VIệT NAM: NGHIÊN CứU TìNH HUốNG NGàNH MAY
Chuyờn ngnh: Qun tr kinh doanh
Mó s: 62340102
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả có trong nghiên cứu là trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hoàng Thị Thanh Hương

Hoàng Thị Thanh Hương
iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1. Quan niệm CSR và chiến lược CSR 11
1.1.1. Sự ra đời và phát triển triết lý CSR trong quản trị kinh doanh 11
1.1.2. Khái niệm và bản chất CSR 13
1.1.3. Quan niệm về chiến lược CSR 15
1.2. Các lý thuyết về chiến lược CSR 20

3.3.3. Kiểm tra các giả định cần thiết của mô hình hồi quy 83
3.4. Nghiên cứu tình huống 84
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
4.1. Kết luận 91
4.2. Kiến nghị 94
4.2.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước 94
4.2.2. Đề xuất áp dụng chiến lược CSR tại DNNVV ngành may 95
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 111
iii

DANH MỤC VIẾT TẮT COC : Quy tắc ứng xử
CSR : Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
EC : Liên minh châu Âu
ISO : Tổ chức tiêu chuẩn Thế giới
GSO : Tổng cục Thống kê
SA 8000 : Tiêu chuẩn quốc tế quản trị trách nhiệm xã hội
UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc
VCCI : Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình Kim tự tháp 14
Hình 1.2: Liên kết CSR trong chuỗi giá trị doanh nghiệp 28
Hình 1.3: Khía cạnh xã hội của môi trường cạnh tranh doanh nghiệp 30
Hình 1.4: Các giai đoạn chiến lược CSR của DNNVV 34
Hình 1.5: Sự chuyển dịch từ “công dân tốt” sang chiến lược CSR 35
Hình 1.6: Nội dung của chiến lược CSR 39
Hình 1.7: Mô hình nghiên cứu đề xuất 48
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu 51
Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu định tính 58
Hình 2.3: Cơ cấu doanh nghiệp khảo sát theo địa lý 60
Hình 2.4: Cơ cấu doanh nghiệp khảo sát theo năm thành lập 61
Hình 2.5: Cơ cấu doanh nghiệp khảo sát theo quy mô lao động 62
Hình 2.6: Tỷ lệ doanh nghiệp khảo sát tham gia chuỗi cung ứng 64
Hình 2.7: Các khó khăn chủ yếu cản trở sự thành công của doanh nghiệp 65
Hình 3.1: Tỷ lệ doanh nghiệp khảo sát có chứng nhận 66
Hình 4.1: Các bước thực hiện hiện chiến lược CSR tại DNNVV 97
Hình 4.2: Lồng ghép hoạt động CSR vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp 99
1
MỞ ĐẦU

1. Bối cảnh nghiên cứu
Hơn 20 năm qua, ngành may Việt Nam đã có những sự phát triển vượt
bậc với tỷ lệ bình quân 15%/năm. Ngành may đã trở thành ngành kinh tế hàng
đầu cả nước với kim ngạch xuất khẩu 10-15% GDP hàng năm. Hiện nay Việt
Nam đã trở thành một trong năm nhà xuất khẩu may mặc lớn nhất Thế giới

doanh nghiệp không kể quy mô, ngành nghề đều phải áp dụng mức độ nào đó
của CSR trong bối cảnh cạnh tranh hiện thời. Hay nói cách khác, động lực
cho DNVVN thực hiện CSR khá rõ ràng và ngày càng trở nên mạnh mẽ.Vì
thế, việc xây dựng và triển khai chiến lược CSR đóng vai trò quan trọng với
các DNNVV ngành may Việt Nam.
2. Lý do lựa chọn đề tài
2.1. Nhu cầu thực tiễn
Lý do lựa chọn đề tài trước hết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Có thể
nói CSR là một yếu tố quyết định hành vi của người tiêu dùng trên thị trường
dệt may và quần áo. Người tiêu dùng ngày nay – giáo dục tốt hơn và hiểu biết
hơn – muốn các doanh nghiệp phải thông tin cho họ về rất nhiều khía cạnh
khác nhau của hoạt động kinh doanh và thể hiện mong muốn này thường
xuyên hơn nhiều so với những gì họ làm trong quá khứ. Người tiêu dùng hỏi
những câu hỏi như “Đó có phải là một công ty tốt và trung thực không?”;
“Công ty đó hành động có đạo lý và đạo đức không?”; “Công ty đó có tôn
trọng nhân quyền và môi trường tự nhiên không?” Những câu hỏi trên sẽ
được hỏi thường xuyên hơn.
Do đó, nhu cầu thực hiện chiến lược CSR trước hết xuất phát từ sức ép
của môi trường bên ngoài ngày càng nhiều và cũng chính từ sự thay đổi nhận
thức và hành động của doanh nghiệp (O’Brien, 2001). Trong môi trường có
nhiều biến động, áp lực và rủi ro lớn, khi hoạch định chiến lược, doanh
nghiệp không chỉ thuần tuý quan tâm đến lợi nhuận. Ngày càng có nhiều sức
3
ép đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện CSR nhằm cân bằng các họat động kinh
doanh vì lợi nhuận với các mối quan tâm với các bên hữu quan bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp.
Thực tiễn Việt Nam cho thấy khi gia nhập WTO, Việt Nam phải thực

quan khác nhau. Qua đó, cũng khẳng định mối quan hệ giữa trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp và chiến lược thương hiệu doanh nghiệp. Một số tác giả
khác đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về việc DNNVV có hiểu biết và
thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan đến môi
trường, xã hội, thị trường và lực lượng lao động. Trong đó, có thể kể đến một
vài ví dụ như nghiên cứu về trường hợp DNNVV Thổ Nhĩ Kỳ của Ararat
(2008), trường hợp của Đan Mạch (Kramer và cộng sự, 2005), nghiên cứu
doanh nghiệp Cộng hoà Czech (Polášek, 2010) và thực tiễn tốt tại Châu Âu
của Mandl & Dorr (2007).
Như vậy, có thể thấy xu hướng các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp của DNNVV tập trung vào ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp và các yếu tố thúc đẩy thực
hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Đa phần các nghiên cứu này đến từ
châu Âu. Mặc dù các doanh nghiệp ở Mỹ rất quan tâm đến trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp và các bộ tiêu chuẩn (như SA 8000, ISO 14000, ISO 26000),
nhưng các nghiên cứu ở Mỹ thường hẹp hơn về phạm vi nghiên cứu. Cụ thể
các nghiên cứu thực nghiệm tại Mỹ tập trung các chủ đề hẹp hơn như chương
trình quản trị môi trường (Cordano và cộng sự 2010). Chỉ có một số ít nghiên
cứu liên quan về chủ đề vai trò của người chủ - người điều hành trong thực
hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (ví dụ Marshall và cộng sự, 2005;
Murrillo & Lozan, 2006).
Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới cho thấy các
nghiên cứu thực nghiệm về áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp chiến
5
lược cho các DNNVV khá đa dạng. Các nghiên cứu này chủ yếu về tác động
của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tới DNNVV với trọng tâm vào mối quan
hệ qua lại với các hoạt động kinh doanh trong bối cảnh xây dựng và duy trì

khách hàng đều cảm nhận việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
trong ngành là tương đối tốt, và các hệ quả của nó có được gồm danh tiếng
của doanh nghiệp, niềm tin và sự hài lòng của khách hàng.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng (2013) đi tìm câu trả lời cho hai câu
hỏi chủ yếu thông qua nghiên cứu định tính. Thứ nhất là doanh nghiệp nói
chung đang thực hiện trách nhiệm xã hội của mình như thế nào? Thứ hai là
điều gì đang gây cản trở cho việc thực thi trách nhiệm xa hội của doanh
nghiệp? Từ một số kết quả phỏng vấn với lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan
quản lý nhà nước, và tổ chức phi chính phủ về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp cho thấy sức ép cạnh tranh lớn, hệ thống giám sát cộng đồng còn yếu,
cùng với nhận thức hạn chế của doanh nghiệp về lợi ích lâu dài đang là thách
thức lớn của việc thực thi trách nhiệm xã hội.
Như vậy, nghiên cứu về việc triển khai CSR theo quan điểm chiến
lược ở DNNVV Việt Nam vẫn còn hạn chế trong khi khái niệm này đã
được đưa vào cộng đồng nghiên cứu kinh doanh gần 10 năm trở lại đây. Áp
lực thực hiện CSR đang gia tăng ngày càng nhiều lên các doanh nghiệp bao
gồm cả cả DNNVV. Việc nghiên cứu về áp dụng chiến lược CSR đối với
DNNVV ngày càng trở nên quan trọng. Đây cũng chính là lý do để tác giả
thực hiện luận án này.
2.3. Lý do lựa chọn ngành may
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, nghiên cứu đã giới hạn phạm vi
nghiên cứu ở các DNNVV ngành may. Lý do lựa chọn nghiên cứu tình huống
ngành may có thể xem xét theo ba nguyên nhân chính.
7
Thứ nhất, trong nền kinh tế Việt Nam đây là ngành có mức độ hội nhập
lớn nhất vào nền kinh tế thế giới (xét trên phương diện xuất nhập khẩu). Trong
thương mại quốc tế đối với các sản phẩm may, CSR được coi là “giấy thông

DNNVV
- Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết về mối quan
hệ giữa các bên hữu quan chủ chốt và yếu tố môi trường đối với
CSR của DNNVV ngành may
- Dựa trên các kết quả nghiên cứu, đề xuất áp dụng chiến lược CSR
tại các DNVV ngành may.
4. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các luận giải trên, đối tượng nghiên cứu là CSR của doanh
nghiệp vừa và nhỏ ngành may. Quy định DNNVV theo Nghị định
56/2009/NĐ-CP. Theo đó, DNNVV là doanh nghiệp có vốn< 100 tỷ đồng
hoặc quy mô lao động nhỏ hơn 300 lao động.
Phạm vi nghiên cứu là ngành may Việt Nam. Thời gian nghiên cứu chủ
yếu là là 2008-2014. Trong đó mẫu khảo sát định lượng và định tính diễn ra
trong năm 2011-2013.
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án kết hợp phương pháp
định tính và định lượng. . Trong đó việc sử dụng phương pháp định lượng nhằm
phát hiện các mối quan hệ và tương quan giữa các biến số. Phương pháp định tính
nhằm bổ trợ cho phương pháp định lượng thông qua việc kiểm chứng các kết quả
phân tích dữ liệu. Việc sử dụng kết hợp này sẽ giúp khắc phục điểm yếu của từng
phương pháp và tăng sự phong phú của nguồn dữ liệu. Trước hết, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các tài liệu, nghiên
cứu có sẵn để phát triển cơ sở lý thuyết, mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
9
Phương pháp phân tích tình huống được sử dụng để khai thác các thông tin về
cách các nhân tố ảnh hưởng đến CSR của DNNVV ngành may. Phương pháp
định lượng được thực hiện qua điều tra khảo sát với quy mô mẫu 185 doanh
nghiệp từ ba miền Bắc, Trung, Nam. Dữ liệu định lượng được xử lý thông qua

Chương 3: Kết quả nghiên cứu trình bày khái quát về CSR của
DNNVV ngành may Việt Nam và các kiểm định thang đo, phân tích EFA,
kiểm định giả thuyết và kết quả nghiên cứu tình huống.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị. Chương này nêu lên các thảo luận kết
quả nghiên cứu và rút ra kết luận để đề xuất áp dụng chiến lược CSR tại
DNNVV

11
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Quan niệm CSR và chiến lược CSR
1.1.1. Sự ra đời và phát triển triết lý CSR trong quản trị kinh doanh
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) được đề cập từ
những năm đầu thế kỷ 20. Trong số đó, đáng lưu ý là tác giả Bowen với tác
phẩm “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” trong những năm 1950 được coi
là tiên phong trong cách tiếp cận trách nhiệm xã hội. Bowen đã định nghĩa
CSR là “nghĩa vụ của doanh nhân để theo đuổi các chính sách, ra các quyết
định hoặc thực hiện chuỗi các hoạt động được xã hội mong đợi xét về mục
tiêu và giá trị” (Bowen trích trong Carroll, 1979). Sau đó, có sự phát triển
mạnh mẽ trong quan niệm về CSR. Carrol (1979) cho rằng CSR bao hàm
cách trách nhiệm kinh tế, luật pháp, đạo đức và trách nhiệm đáp ứng sự kỳ
vọng của xã hội. Theo quan niệm của Cộng đồng Châu Âu, đó là “việc doanh
nghiệp cân nhắc các yếu tố môi trường và xã hội trong các họat động kinh
doanh của mình và trong quan hệ qua lại với các bên hữu quan dựa trên tinh
thần tự nguyện” (EC, 2003).
Xu hướng nghiên cứu về CSR cũng sự chuyển dịch mạnh mẽ thành các

hợp
Đổi mới hệ thống
Câu hỏi nghiên cứu Cái gì/Tại sao? Tại sao/ Như thế
nào?
Câu hỏi “Tiếp đến
là gì?”

Nguồn: Theo Nigel Roome trích trong MacGregor và Fontrodona (2011) Ngày nay, CSR đã trở thành một triết lý về hành vi và quản trị của doanh
nghiệp được nhiều doanh nghiệp trên thế giới lựa chọn áp dụng và con số này
không ngừng tăng lên (Carroll & Shabana, 2010). Lựa chọn này có thể không
phải do doanh nghiệp tự nguyện mà chỉ để tuân thủ theo pháp luật (ví dụ như
trong lĩnh vực môi trường), hoặc là doanh nghiệp tự nguyện đóng góp một số
nguồn lực (ví dụ con người, thời gian, kiến thức, kỹ năng hoặc là tiền) cho lợi
ích cộng đồng, hoặc đóng góp vào việc cải thiện một số điều kiện thường nằm
ngoài phạm vi của công ty (Moon & DeLeon, 2007).
Theo Carroll (2010), CSR có thể bao hàm chuẩn mực mà các bên liên
quan bên trong và bên ngoài coi là đúng đắn và công bằng, hưởng ứng lại sự
mong đợi của xã hội về quyền công dân, hoặc bao gồm các chương trình đang
hoạt động nhằm thúc đẩy phúc lợi và thiện chí của con người. Cũng theo
quan điểm tương tự như vậy, một định nghĩa phổ biến được sử dụng là "một
cam kết để cải thiện phúc lợi xã hội thông qua thực tiễn kinh doanh tự chủ và
đóng góp từ các nguồn tài nguyên của công ty "(Du, et al., 2010, p. 8; Kotler
13
& Lee, 2005; Mackey, et al., 2007; McWilliams & Siegel, 2000; Waddock &

bày rõ hơn mô hình Kim tự tháp của Carroll – được áp dụng rộng rãi trong
các nghiên cứu về CSR.

Hình 1.1: Mô hình Kim tự tháp
Trách nhiệm kinh tế: đây là trách nhiệm đầu tiên. Các mục tiêu như tối
đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết
bởi lẽ đây là mục tiêu tối thượng của doanh nhân. Mục tiêu kinh tế không
được thỏa mãn thì doanh nghiệp cũng không thể tồn tại để đáp ứng các trách
nhiệm khác. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm
kinh tế của doanh nghiệp.
Trách nhiệm tuân thủ pháp luật: chính là sự cam kết của doanh nghiệp
với xã hội. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều nằm trong khuôn khổ pháp
luật. Trong quá trình tìm kiếm các mục tiêu kinh tế, doanh nghiệp chịu sự
điều chỉnh của luật pháp. Do đó, trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai thành tố
cơ bản, không thể thiếu của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

15
Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận
nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật
là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Xã hội kỳ
vọng doanh nghiệp thực hiện các hoạt động có lợi ích cho xã hội hơn cả
những điều quy định trong luật pháp. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện
nhưng lại chính là trọng tâm của trách nhiệm xã hội.
Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài
sự trông đợi của xã hội, như quyên góp xây nhà tình nghĩa, ủng họ đồng bào
lũ lụt, tài trợ cho trẻ em vùng sâu vùng xa…Điểm khác biệt giữa trách nhiệm
từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp

dài hạn và tạo lợi thế cạnh tranh”. Từ đó, các tác giả này đề xuất mô hình
chiến lược xã hội bao gồm bốn thành tố “cấu trúc ngành, nguồn lực nội bộ
doanh nghiệp, văn hóa và giá trị doanh nghiệp và mối quan hệ các bên hữu
quan”. Như vậy, mục đích của chiến lược CSR là nhằm giúp doanh nghiệp
không chỉ tối đa hóa kết quả xã hội mà còn kết quả tài chính. Việc đầu tư xã
hội mang tính chiến lược có thể đem lại kết quả tốt hơn cho doanh nghiệp như
nâng cao uy tín và hình ảnh doanh nghiệp, sự gắn bó của nhân viên Đây sẽ
là khái niệm được sử dụng trong luận án này.
Với lập luận rằng CSR theo quan điểm chiến lược nên tạo ra những lợi ích
đặc thù của công ty mà không phải là hàng hóa tập thể, Burke và Logsdon
(1996) thu hẹp phạm vi của các hoạt động CSR và bỏ qua các tình thế win – win
đối với doanh nghiệp và xã hội. Chẳng hạn, những lợi ích không đặc thù cho
công ty như các khoản tài trợ cho cộng đồng (hỗ trợ các dự án văn hóa ). Tuy
nhiên, những khoản tài trợ này có thể góp phần đáng kể trong việc nâng cao
danh tiếng của công ty, điều này sẽ tác động tới khách hàng hay là lòng trung
thành của nhân viên. Bằng cách đó, những hoạt động như vậy có thể sản xuất ra
hàng hóa công cộng đồng thời đem lại lợi ích kinh doanh quan trọng mà cuối
17
cùng sẽ dẫn tới tình thế đoi bên cùng thắng (win – win). Vì thế, những hoạt động
này cũng nên được đề cập trong thảo luận về CSR theo quan điểm chiến lược.
Husted và Salazar (2006) phân tích sản lượng xã hội và những chi phí và
lợi ích của một công ty từ các hoạt động CSR dưới một vài điều kiện. Từ đó,
họ phân biệt 3 trường hợp:
Thứ nhất, trường hợp theo chủ nghĩa vị tha trong đó công ty tìm cách tối
đa hóa phúc lợi xã hội mà không kỳ vọng sự đền đáp kinh tế cho công ty.
Thứ hai, trường hợp cưỡng ép những người vị kỷ: khi đó công ty bị
cưỡng ép phải đầu tư vào những vấn đề xã hội để tồn tại (đáp ứng ở mức tối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status