1
MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Có thể nói trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, CSR đang trở
thành một trong những điều kiện trong buôn bán thương mại. Đối với các
doanh nghiệp, đó là các luật chơi mới, bắt buộc doanh nghiệp phải tham gia
và nếu chấp nhận cuộc chơi có khả năng đi xa hơn. Đặc biệt trong ngành
may, để tìm chỗ đứng trong chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp
phải nỗ lực đầu tư, nỗ lực cải tiến, nỗ lực chứng minh các tiêu chuẩn lao
động và môi trường. Hay nói cách khác CSR chính là “giấy thông hành” đi
vào thị trường thế giới của doanh nghiệp ngành may. Việc xây dựng và triển
khai chiến lược CSR đóng vai trò quan trọng với các DNNVV ngành may
Việt Nam.
2. Lý do lựa chọn đề tài
2.1. Nhu cầu thực tiễn
Lý do lựa chọn đề tài trước hết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Có thể
nói CSR là một yếu tố quyết định hành vi của người tiêu dùng trên thị
trường dệt may và quần áo. Ngày càng có nhiều sức ép đòi hỏi doanh
nghiệp thực hiện CSR nhằm cân bằng các họat động kinh doanh vì lợi
nhuận với các mối quan tâm với các bên hữu quan bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp.
Thực tiễn Việt Nam cho thấy khi gia nhập WTO, Việt Nam phải thực
hiện 6 hiệp định chính, trong đó có Hiệp định Hàng rào kỹ thuật thương mại
mà CSR là nội dung quan trọng. Đặt trong bối cảnh ngành may, CSR là
“giấy thông hành” để doanh nghiệp có vị thế cao hơn trong chuỗi cung ứng
của ngành. Đồng thời đó cũng là công cụ tạo lợi thế cạnh tranh bền vững
năm trở lại đây. Áp lực thực hiện CSR đang gia tăng ngày càng nhiều lên
các doanh nghiệp bao gồm cả DNNVV. Việc nghiên cứu về áp dụng chiến
lược CSR đối với DNNVV ngày càng trở nên quan trọng để giúp các doanh
nghiệp có cơ sở xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua
thực hiện CSR. Đây cũng chính là lý do để tác giả thực hiện luận án này.
3
2.3. Lý do lựa chọn ngành may
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, nghiên cứu đã giới hạn phạm vi
nghiên cứu ở các DNNVV ngành may. Lý do lựa chọn nghiên cứu tình
huống ngành may có thể xem xét theo ba nguyên nhân chính.
Thứ nhất, trong nền kinh tế Việt Nam đây là ngành có mức độ hội nhập
lớn nhất vào nền kinh tế thế giới (xét trên phương diện xuất nhập khẩu).
Trong thương mại quốc tế đối với các sản phẩm may, CSR được coi là
“giấy thông hành”, là các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc các doanh nghiệp
phải tuân thủ. Có quá nhiều tiêu chuẩn và quy tắc ứng xử trong ngành may
do đó đòi hỏi doanh nghiệp nên xây dựng và đầu tư chiến lược CSR hơn vì
ứng phó thụ động.
Thứ hai, do bản chất sử dụng nhiều lao động của ngành, các doanh
nghiệp trong ngành đang đối mặt với khó khăn trầm trọng về việc tuyển và
lưu giữ lao động lành nghề, công nhân kỹ thuật và quản lý. Thậm chí các
doanh nghiệp ngành may còn cho rằng đây là khó khăn lớn nhất hiện nay.
Việc áp dụng chiến lược CSR cũng sẽ là yếu tố quan trọng để giúp các
doanh nghiệp vượt qua được khó khăn này bởi các hoạt động CSR luôn gắn
liền với lao động, môi trường, xã hội.
Thứ ba, nghiên cứu ngành may sẽ có tác động lan tỏa lớn. Bởi lẽ như
đã trình bày ở trên ngành may Việt Nam trong những năm vừa qua có
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án kết hợp phương pháp
định tính và định lượng. Phương pháp định lượng được thực hiện qua điều
tra khảo sát với quy mô mẫu 185 doanh nghiệp từ ba miền Bắc, Trung,
Nam. Dữ liệu định lượng được xử lý thông qua phần mềm SPSS 16.
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có đóng góp mới như sau.
Luận án phát triển các thang đo CSR của DNNVV trong bối cảnh
ngành may Việt Nam. Căn cứ trên việc đánh giá CSR theo quan điểm chiến
lược của Burke và Logsdon, tác giả đã phát triển các thang đo chiến lược
CSR của DNNVV.
5
Luận án cung cấp các bằng chứng các yếu tố lãnh đạo doanh nghiệp,
yếu tố môi trường nội bộ và môi trường bên ngoài có ảnh hưởng thuận
chiều đến CSR của DNNVV ngành may. Luận án xác nhận cơ sở cho rằng
CSR của các DNNVV ngành may đang ở mức ứng phó, thụ động hơn là
chiến lược. Các bằng chứng này được xác nhận thông qua các phân tích
định lượng.
Luận án đề xuất mô hình PDCA để áp dụng chiến lược CSR tại các
DNNVV ngành may Việt Nam. Mô hình này cho phép liên kết CSR vào các
chủ đề chiến lược của doanh nghiệp và mang tính cải tiến liên tục. Điều này
rất phù hợp với thực hiện CSR theo các giai đoạn phát triển bởi lẽ áp dụng
CSR không phải là sự chuyển dịch ngay lập tức từ 0 đến 1.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và các danh mục
viết tắt, bảng, hình vẽ, nội dung chính của luận án gồm 4 phần sau đây.
Chương 1: Cơ sở lý luận
- Tính trung tâm theo nghĩa liên quan chặt chẽ tới nhiệm vụ và các mục
tiêu của một công ty
- Cụ thể: bằng cách tạo nên những lợi ích riêng biệt đối với công ty và
không sản xuất hàng hóa tập thể
- Chủ động hay là có kế hoạch trong việc dự đoán các xu hướng kinh
tế, công nghệ, xã hội hay là chính trị
- Tự nguyện và không đơn thuần chỉ là một hành động tuân thủ theo
pháp luật
- Có thể nhìn thấy từ bên ngoài để cho phép một công ty có được danh
tiếng trong phạm vi những hoạt động CSR của họ
1.2. Các lý thuyết về chiến lược CSR
Lý thuyết các bên hữu quan
Xuất phát điểm cho việc nghiên cứu chiến lược CSR thường được xem
xét trong lý thuyết các bên hữu quan. Theo đó, doanh nghiệp thực hiện CSR
7
vì phải thỏa mãn yêu cầu của các bên hữu quan khác nhau. Freeman (1984)
cho rằng doanh nghiệp có thể đưa các các mối quan tâm về xã hội vào trong
chiến lược cấp doanh nghiệp. Theo Freeman (1984) có tám bên hữu quan:
đối thủ cạnh tranh, khách hàng, người lao động, chính phủ, chủ sở hữu/cổ
đông, nhóm quyền lợi đặc biệt, nhà cung ứng, nhà quản trị cấp cao doanh
nghiệp. Điều cần lưu ý ở đây là mối quan hệ với các bên hữu quan không
phải bất biến mà mang tính chất động thay đổi theo thời gian.
Lý thuyết dựa trên nguồn lực doanh nghiệp
Trong hệ thống lý thuyết này, cách tiếp cận dựa trên nguồn lực của
doanh nghiệp (resource based view) được coi trọng. Từ góc độ này CSR
được coi là đem lại lợi ích bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như công
tại doanh nghiệp mang tính liên tục không phải là trạng thái có hoặc không.
Theo đó, các doanh nghiệp sẽ chuyển giai đoạn từ “phản ứng” sang “chiến
lược” nhằm đáp ứng nhu cầu đa phương của các bên hữu quan.
Porter và Kramer cho rằng trên thực tế các hoạt động CSR thường đi
theo kiểu quan hệ cơ cấu các bên hữu quan. Điều đó có nghĩa là bao gồm
cả hoạt động CSR chiến lược và “phản ứng” liên quan đến nghĩa vụ cộng
đồng và xây dựng quan hệ hoặc là giảm bớt những tác động tiêu cực do vận
hành của doanh nghiệp gây nên. Tuy vậy, Porter và Kramer vẫn khẳng định
CSR theo quan điểm chiến lược được coi là định vị duy nhất để cải thiện vị
thế cạnh tranh. Cũng theo quan điểm về chiến lược này, các hoạt động CSR
“phản ứng” có thể coi như là CSR mang tính chiến lược nếu chúng là kết
quả của một quá trình lập kế hoạch chiến lược đem lại những lợi ích quan
trọng cho doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại trong dài hạn.
Sự dịch chuyển từ CSR thụ động sang chiến lược CSR đòi hỏi doanh
nghiệp phải có những thay đổi căn bản. Đó là chia sẻ tầm nhìn, chia sẻ giá
trị và sau đó là chuyển dạng chuỗi giá trị kết hợp với lực đòn bảy khía cạnh
9
xã hội của môi trường kinh doanh. Nội dung của chiến lược CSR theo các
chủ đề đã trình bày ở trên.
1.3.2. Vai trò của chiến lược CSR đối với DNNVV
Thực tiễn cho thấy chiến lược CSR có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát
triển của DNNVV trên nhiều phương diện (Jenkins, 2006). Do đó, chiến
lược CSR là cần thiết đối với DNNVV trên những phương diện sau đây.
Chiến lược CSR giúp DNNVV nâng cao sức cạnh tranh (Mandl, 2009).
Udayasnakar (2008) cho rằng có bằng chứng cho thấy chiến lược CSR giúp
DNNVV tạo nên lợi thế dựa trên khác biệt hóa và tăng lợi thế để tiếp cận
chế nên có thể không áp dụng đồng đều tất cả các nội dung chiến lược này
mà lựa chọn những yếu tố cấu thành trọng yếu để xây dựng chiến lược.
1.4. Tổng quan nghiên cứu, mô hình và giả thuyết nghiên cứu
1.4.1. Tổng quan nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được xây dựng dựa trên cơ sở lý
thuyết phân tích tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến CSR của DNNVV.
Các DNNVV khác biệt nhau về phạm vi kinh doanh, sứ mệnh, quy mô… do
đó các cam kết về chiến lược CSR cũng rất khác biệt nhau. Hay nói cách
khác là có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định và cam kết chiến lược
CSR của DNNVV. Tổng quan nghiên cứu cho thấy các yếu tố thuộc môi
trường bên ngoài, môi trường nội bộ doanh nghiệp, yếu tố nhà lãnh đạo có
tác động đến áp dụng chiến lược CSR của DNNVV. Các yếu tố này sẽ được
phát triển ở các phần kế tiếp của luận án để kiểm định các giả thuyết nghiên
cứu trong bối cảnh DNNVV ngành may Việt Nam.
1.4.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Luận án sẽ có bốn nhóm nhân tố là bốn biến độc lập: (i) lãnh đạo doanh
nghiệp; (ii) môi trường nội bộ doanh nghiệp; (iii) môi trường cạnh tranh;
11
(iv) môi trường vĩ mô.
Biến phụ thuộc là chiến lược trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Hoạt
động CSR nêu trên của DNNVV ngành may sẽ được đánh giá theo các đặc
điểm của chiến lược CSR – lý thuyết được đề xuất bởi Burke và Logsdon
(1996).
Các biến kiểm soát được đưa vào nhằm bảo đảm sự chặt chẽ của mô
hình bao gồm: số năm hoạt động doanh nghiệp, và quy mô doanh nghiệp.
Các biến kiểm soát này được đưa vào dựa theo kết luận của các nghiên cứu
thực nghiệm trước đó.
H3
Lãnh đạo DN
H4
12
Các biến được sử dụng thang đo đã được phát triển trong các nghiên
cứu trước đây. Điều này được thể hiện bằng các câu hỏi và các tuyên bố
xoanh xung quanh nội hàm của các biến để người trả lời đưa ra nhận định
và quan điểm của họ. Thang đo Likert được sử dụng từ mức độ 1 đến 4.
Theo Kline (1998, 2006) thì thang đo 4 mức độ là tối ưu. Hơn nữa, theo
kinh nghiệm của tác giả thì bản chất người Việt Nam hay do dự khi trả lời
do đó tác giả chọn thang đo chẵn với kỳ vọng nhận được câu trả lời rõ ràng.
Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra dựa trên cơ sở lý thuyết và mô
hình nghiên cứu ở trên được trình bày như sau.
Giả thuyết H1: Hiểu biết CSR và mong muốn của lãnh đạo doanh
nghiệp ảnh hưởng thuận chiều đến CSR của doanh nghiệp
Giả thuyết H2: Môi trường nội bộ doanh nghiệp có sức ép ảnh hưởng
thuận chiều đến CSR của doanh nghiệp
Giả thuyết H3: Môi trường cạnh tranh có sức ép ảnh hưởng thuận
chiều đến CSR của doanh nghiệp
Giả thuyết H4: Môi trường vĩ mô có sức ép ảnh hưởng thuận chiều
đến CSR của doanh nghiệp
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp định tính và định lượng. Theo đó, sự
của doanh nghiệp không phải là chiến lược CSR mà chỉ là phản ứng thụ
động.
3.2. Kiểm định thang đo
3.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Kiểm định độ tin cậy của thang đo trong luận án được thực hiện thông
qua hệ số Cronbach Alpha.
Kết luận là sau khi điều chỉnh biến môi trường
vĩ mô, các thang đo đều có hệ số Cronbach Alpha >0.7 ( thấp nhất là 0.777
14
của biến csr, các biến độc lập đều có Cronbach Alpha >0.8) do đó đều đảm
bảo độ tin cậy. Hệ số tương quan biến tổng của các biến đều >0.3 và giá trị
của Cronbach Alpha khi bỏ biến đều thấp hơn giá trị này của biến tổng.
Điều này khẳng định thang ddo tin cậy cho các phân tích tiếp theo.
3.3.2. Kết quả phân tích EFA
Mô hình nghiên cứu với bốn nhóm nhân tố với 20 biến quan sát tác
động đến CSR của DNNVV. Trước hết kết quả của kiểm định KMO và
Barlett với hệ số KMO = 0.912 >0.5 và sig. =0.000 – có ý nghĩa về mặt
thống kê. Điều này cho thấy có cơ sở bác bỏ Ho (giả thuyết các biến không
có tương quan với nhau) và phân tích nhân tố EFA là phù hợp.
Tiếp đến, kết quả của ma trận nhân tố xoay cho thấy tât cả các biến
thỏa mãn điều kiện hệ số tải nhân tố >0.4 (xem bảng Ma trận nhân tố xoay).
Các biến trong từng nhóm nhân tố có tương quan mạnh với nhau và phù
hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất.
Dựa trên các kết quả phân tích nêu trên, mô hình nghiên cứu điều
chỉnh như sau. Thứ nhất vẫn giữ nguyên 4 nhân tố ảnh hưởng CSR của
doanh nghiệp. Thứ hai, bỏ biến vm4 (Các hiệp hội, các tổ chức phi chính
phủ ảnh hưởng đến doanh nghiệp). Như vậy các giả thuyết nghiên cứu vẫn
- age_ent: biến số năm hoạt động doanh nghiệp
- lnnoemp: biến quy mô doanh nghiệp
Kết quả hồi quy cho thấy các hệ số beta đều có giá trị > 0 . Hệ số R2
điều chỉnh ( Adj R squared) có giá trị =0.722 với p=0.000 (có ý nghĩa
thống kê ở mức ý nghĩa 0.01). Điều này phản ánh các biến độc lập trong mô
hình giải thích được 72.2% sự thay đổi của biến phụ thuộc.
Hệ số beta cho thấy các biến độc lập có mối quan hệ thuận chiều với
biến phụ thuộc. Tất cả các biến đều có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0.01
trừ biến về số năm hoạt động doanh nghiệp. Có thể sắp xếp các yếu tố theo
mức độ giảm dần như sau: (i) môi trường cạnh tranh; (ii) môi trường nội bộ;
(iii) lãnh đạo doanh nghiệp; (iv) môi trường vĩ mô. Biến quy mô có ảnh
hưởng đến CSR của doanh nghiệp trong khi đó số năm thành lập không có
ảnh hưởng có ý nghĩa về mặt thống kê.
16
Có thể nói các kết quả phân tích định lượng ủng hộ các giả thuyết
nghiên cứu. Mức độ ảnh hưởng của biến môi trường cạnh tranh là cao nhất
điều này hoàn toàn phản ánh đúng thực tế. Bởi lẽ như đã trình bày ở các
phần trên, ngành may là ngành có chuỗi cung ứng toàn cầu và bị dẫn dắt bởi
khách hàng. Chính các công ty mua hàng (tập đoàn đa quốc gia) áp đặt các
quy tắc CSR cho toàn bộ chuỗi. Do đó, CSR được coi là giấy thông hành đi
vào nhiều thị trường may trên Thế giới và trong ngành may cũng có nhiều
tiêu chuẩn CSR.
Biến môi trường nội bộ có ảnh hưởng lớn thứ hai. Điều này được luận
giải bởi bản chất của ngành may sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao
động nữ. Các doanh nghiệp may Việt Nam, đặc biệt DNNVV luôn gặp khó
khăn trong việc thu hút việc thu hút và duy trì lao động, đặc biệt lao động
lành nghề. Điều này phù hợp với các nghiên cứu gần đây về ngành dệt
0
. Điều này cho thấy mô hình hồi quy trình bày trong luận
án phù hợp với tập dữ liệu và có thể suy rộng cho tổng thể.
Một vấn đề các mô hình hồi quy hay gặp phải là đa cộng tuyến. Về
kiểm định đa cộng tuyến của mô hình, ở bảng trên về kết quả hồi quy cho
thấy hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - VIF) của tất cả
các biến đều <10. Do đó, có thể bác bỏ giả thuyết mô hình bị đa cộng tuyến.
Luận án cũng kiểm định thống kê Durbin-Watson để xem xét có hiện
tượng tự tương quan (auto-correlation) trong phần dư của phân tích hồi quy.
Kết quả Durbin-Watson cho giá trị = 1.925 xấp xỉ 2. Do đó có thể cho rằng
các phần dư độc lập với nhau, không có hiện tượng tự tương quan.
3.4. Nghiên cứu tình huống
Nhằm kiểm chứng các kết quả phân tích định lượng, tác giả đã tiến
hành nghiên cứu tình huống. Công ty nghiên cứu ở đây là Công ty CP Hải
Nam. Công ty này được chọn làm điển hình nghiên cứu. Công ty cổ phần
may Hải Nam có trụ sở chính tại thôn Lệ Hồ, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm,
Hà Nội. Tại thời điểm phỏng vấn lãnh đạo công ty rất mong muốn đầu tư
vào chiến lược CSR để cải thiện vị thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng
toàn cầu.
18
Tóm lại, các kết luận rút ra từ nghiên cứu tình huống xác nhận tính
đúng đắn và hợp lý của nghiên cứu định lượng dựa trên điều tra. Trước hết
xác nhận rằng việc thực hiện CSR của DNNVV là quá trình thực hiện liên
tục từ ứng phó thụ động sang chiến lược, tổng thể. Tiếp đến, do nguồn lực
có hạn các DNNVV không thực hiện đồng đều các nội dung của CSR mà
lựa chọn thực hiện từng nhóm nội dung theo tính cấp thiết đối với doanh
nghiệp. Cuối cùng, khách hàng và lao động là hai yếu tố tiên quyết dẫn dắt
và các bên liên quan cho thấy sự phù hợp với các quy định và công ước
quốc tế. Theo đánh giá của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Bộ Luật lao
động Việt Nam tiến bộ so với các quốc gia trong khu vực.
1
Khi so sánh với
các quy tắc ứng xử COCs của các tập đoàn đa quốc gia cũng có thể thấy có
nhiều điểm tương đồng giữa luật pháp Việt Nam và quy định CSR của các
MNCs (xem phụ lục)
Đồng thời qua các phân tích ở trên cho thấy môi trường cạnh tranh có
ảnh hưởng đến CSR của DNNVV. Sức ép này có mức độ lớn và có ý nghĩa
về mặt thống kê. Điều này là hoàn toàn phù hợp với đặc trưng ngành may vì
chuỗi cung ứng của ngành bị dẫn dắt bởi khách hàng. Các tiêu chuẩn CSR
đã là các quy định bắt buộc để các DNNVV ngành may tìm chỗ đứng trong
chuỗi cung ứng toàn cầu.
Sức ép từ môi trường nội bộ cũng đóng vai trò quan trọng. Với bản
chất doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, các bên hữu quan nội bộ có ảnh
huwongr nhiều đến quyết định và chính sách của DNNVV ngành may. Điều
này càng đặc biệt hơn trong bối cảnh Việt Nam khi mà các doanh nghiệp
phải “ganh đua” để có lao động có kỹ năng.
Các kết quả phân tích nêu trên cũng cho thấy rằng việc chuyển dịch
giai đoạn thực hiện CSR (từ ứng phó thụ động sang chủ động chiến lược)
phụ thuộc rất nhiều vào lãnh đạo doanh nghiệp. Trong khi hầu như tất cả
các doanh nghiệp khảo sát đều thực hiện một phần nội dung nào đó của
CSR thì chỉ có rất ít doanh nghiệp theo hướng thực hiện chiến lược CSR.
1
Báo cáo tổng kết đánh giá 13 năm thi hành Bộ Luật Lao động 2010 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
21
nghiệp bắt đấu với những vấn đề cơ bản như môi trường và lao động. Việc
tiết kiệm năng lượng và các tài nguyên khác giúp doanh nghiệp cắt giảm chi
phí. Trong khi đó việc tạo dựng môi trường làm việc tốt, an toàn và bảo
đảm sức khỏe cho người lao động sẽ giúp doanh nghiệp thu hút những nhân
công có tay nghề cao, qua đó cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp. Thực
hiện chiến lược CSR, doanh nghiệp sẽ chuyển từ thế bị động sang chủ động.
Vì thế, chính doanh nghiệp sẽ lựa chọn việc ngăn chặn những rủi ro và nắm
lấy cơ hội bằng cách thực hiện chiến lược CSR.
4.2. Kiến nghị
4.2.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Thực tiễn cho thấy vẫn cần nỗ lực của các cơ quan Chính phủ trong
việc sửa đổi các quy định pháp lý không còn phù hợp và cụ thể hóa, thống
nhất giữa các văn bản quy định pháp lý từ cao xuống thấp và giữa các
ngành. Trên cơ sở đó, hướng tới những tiêu chuẩn tiên tiến của thế giới để
tạo điều kiện hội nhập tốt hơn về CSR cho các doanh nghiệp. Các nghiên
cứu ở trên cho thấy cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ và các cơ quan quản lý vĩ
mô trong việc nâng cao nhận thức và hiểu biết của xã hội nói chung và
doanh nghiệp nói riêng về CSR.
4.2.2. Đề xuất áp dụng chiến lược CSR tại DNNVV ngành may
Tác giả đề xuất cách tiếp cận chiến lược CSR cho các DNNVV theo
phương pháp PDCA – vốn dĩ rất phổ biến trong quản trị kinh doanh. Lý do
tác giả vận dụng phương pháp PDCA ở đây là bởi lẽ
- PDCA là công cụ hữu hiệu, phương pháp luận khoa học để giải quyết
vấn đề. Công cụ này giúp liên kết CSR vào trong các chủ đề chiến
lược của doanh nghiệp.
- Được thiết kế để áp dụng liên tục, nhiều lần
- Bao gồm các hoạt động theo vòng khép kín
KẾT LUẬN
Có thể khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, các tiêu
chuẩn CSR ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp may Việt
Nam, CSR là “giấy thông hành” đi vào thị trường thế giới của doanh
nghiệp. Xét ở bình diện khác, trong ngành may mặc thời trang ngay cả
DNNVV Việt Nam chỉ hoạt động ở thị trường nội địa cũng phải có cân
nhắc đầu tư chiến lược CSR vì CSR là yếu tố quyết định hành vi của người
tiêu dùng và là yếu tố thu hút và lưu giữ lao động chất lượng cao.
Đối với mỗi doanh nghiệp, sức ép từ phía chính phủ và các bên liên
quan về việc áp dụng và tuân thủ luật pháp luôn là yêu cầu tối thiểu để thực
hiện CSR. Đồng thời qua các phân tích ở trên, nhận thấy sức ép đến từ
khách hàng, cũng là yếu tố dẫn dắt DNNVV ngành may thực hiện CSR
trong thời gian vừa qua. Bên cạnh đó, nhận thức của lãnh đạo DNNVV
ngành may Việt Nam cũng đang thay đổi tích cực khi nhận thấy vai trò
ngày càng quan trọng của CSR trong việc tiếp cận khách hàng và các đơn
hàng lớn và thu hút lao động
Các phân tích định tính và định lượng cho thấy các DNNVV ngành
may đang áp dụng CSR ở mức độ ứng phó thụ động, thay vì áp dụng chiến
lược CSR. Các kết quả phân tích nêu trên cũng cho thấy rằng việc chuyển
dịch giai đoạn thực hiện CSR phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của lãnh
đạo doanh nghiệp. Trong khi hầu như tất cả các doanh nghiệp khảo sát đều
thực hiện một phần nội dung nào đó của CSR thì chỉ có rất ít doanh nghiệp
theo hướng thực hiện chiến lược CSR. Việc thực hiện CSR tuân thủ, mang
tính ứng phó thụ động không đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
Trong khi đó việc thực hiện chiến lược CSR sẽ đem lại lợi ích tổng thể, toàn