Luận văn Thạc sĩ Đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn qua hai tiểu thuyết đoạn tuyệt của Nhất Linh và Nửa Chừng Xuân của Khải Hưng - Pdf 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

- t

nu .

e du . v

n
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM
===========O0O===========
LẠI THỊ THÚY
VÂN
ĐÓNG GÓP CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
QUA HAI TIỂU THUYẾT ĐOẠN TUYỆT CỦA NHẤT LINH
VÀ NỬA CHỪNG XUÂN CỦA KHÁI HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên, năm
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGÔ VĂN
THƯ
Thái Nguyên, năm
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

- t

nu .

e du . v

n
MỤC LỤC
Trang

®Çu

1
1. Lý do chọn đề tài
1

đoàn 13
1.1.1. Những cơ sở lịch sử - văn hóa- xã hội của công cuộc
hiện
đại hóa nền văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX. 13
1.1.2. Sự ra đời của Tự lực văn
đoàn
17
1.2. Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn
đoàn

20
1.2.1. Khái niệm tiểu thuyết, tiểu thuyết luận đề và tiểu thuyết
luận
đề của Tự lực văn đoàn 20
1.2.2. Tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh và Khái Hưng 24
1.3. Vai trò của Tự lực văn đoàn đối với quá trình hiện đại hóa văn
học dân tộc
30
1.3.1. Cổ vũ cho phong trào thơ mới 32
1.3.2. Hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết 33
Chương 2: BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ
CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NHẤT LINH VÀ KHÁI HƯNG 36
2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tự lực
văn
đoàn

36
2.1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong nghiên cứu văn
học 36
2.1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tự lực

3.2.2. Miêu tả tâm lý qua ngôn ngữ độc thoại nội
tâm:
92
3.3. Hiện đại hóa trong ngôn ngữ và giọng điệu
96
3.3.1. Hiện đại hóa trong ngôn
ngữ
96
3.3.2. Hiện đại hóa trong giọng điệu 102
KẾT
LUẬN109
TÀI LIỆU THAM
KHẢO113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

- t

Nhất Linh, Khái Hưng không chỉ để lại một số lượng tác phẩm tương đối lớn
mà những sáng tác của hai ông có nhiều ảnh hưởng tới tư tưởng của tầng lớp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

- t

nu .

e du . v

n
2
thanh niên trí thức Việt Nam những năm 30 và tạo được sự ngưỡng mộ đối
với độc giả yêu mến văn học.
Cả Nhất Linh và Khái Hưng đều sáng tác ở nhiều thể loại, song có
lẽ thành công nhất vẫn là thể loại tiểu thuyết, trước hết là tiểu thuyết luận đề,
và sau đó là tiểu thuyết tâm lý. Những tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói
chung và của Nhất Linh, Khái Hưng nói riêng, giờ đây đã quá quen thuộc với
độc giả yêu văn học và giới nghiên cứu phê bình. Vị trí của hai ông ngày càng
được khẳng định vững chắc. Số lượng lớn các bài viết và những công trình
nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của hai ông là minh chứng hùng hồn
khẳng định điều đó.

nu .

e du . v

n
3
thuyết của Tự lực văn đoàn, chúng tôi muốn góp một tiếng nói khẳng định vai
trò của văn đoàn này trong lĩnh vực đổi mới trên cả phương diện: nội dung và
nghệ thuật tiểu thuyết.
2. Lịch sử vấn đề
Nói về các hiện tượng văn học, không phải bất cứ nhà văn hay tác phẩm
nào cũng may mắn trở thành đối tượng được giới phê bình quan tâm nghiên
cứu. Ngay từ lúc mới xuất hiện trên văn đàn Việt Nam, Tự lực văn đoàn đã
thu hút được sự chú ý của độc giả yêu văn chương. Trong một khoảng thời
gian không phải dài hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, Tự lực văn
đoàn, nhất là hai tác giả Nhất Linh và Khái Hưng đã để lại cho nền văn học
Việt Nam những tác phẩm có giá trị trên cả hai phương diện nội dung và nghệ
thuật.
Tuy nhiên, đây cũng là hiện tượng gây nhiều tranh cãi trong lịch sử văn
học nước nhà. Công việc nghiên cứu, đánh giá các tác phẩm của Nhất Linh,
Khái Hưng nói riêng và Tự lực văn đoàn nói chung khá phức tạp. Mỗi một
thời kỳ lại có những quan điểm trái ngược nhau. Thậm chí sự bất đồng trong
ý kiến đánh giá còn xảy ra ngay trong một thời kỳ giữa hai miền Nam -
Bắc. Hai cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh và Nửa chừng xuân của
Khái Hưng là hai cuốn tiểu thuyết đã mang lại tên tuổi cho hai cây bút trụ cột
của nhóm. Song đây cũng là hai cuốn tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi và làm
tốn giấy mực của giới nghiên cứu phê bình nhất.
Chúng tôi tạm chia những ý kiến đánh giá về Tự lực văn đoàn và
ha
i

đánh giá khá xác đáng về Đoạn tuyệt, Lạnh lùng của Nhất Linh và Hồn bướm
mơ tiên, Nửa chừng xuân của Khái Hưng. Ông viết: “Đoạn tuyệt là một kiệt
tác trong văn học hiện đại Việt Nam. Vì Đoạn tuyệt không chỉ có giá trị xã
hội. Nó còn có một giá trị tâm lý không ai chối cãi được” [24, 629].
Năm 1941, Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam Văn học sử yếu đã
nhận xét các tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng như sau: “Hầu hết các tác
phẩm của ông (Nhất Linh) là những luận đề tiểu thuyết” [18, 454]. Khi nhận
xét về Khái Hưng, ông viết: “Tuy vẫn có khuynh hướng xã hội nhưng lại
thiên về mặt lý tưởng và có thi vị riêng… Khái Hưng có một cách tả người và
tả cảnh xác thực mà có một vẻ nhẹ nhàng thanh tú khiến cho người đọc thấy
cảm” [18. 455].
Năm 1942, trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ ngọc Phan đã nhận ra sự
tiến bộ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng: “Nếu đọc tiểu thuyết
của Nhất Linh từ Nho phong cho tới những tác phẩm gần đây nhất của ông,
người ta thấy tiểu thuyết của ông biến đổi rất mau. Ông viết từ tiểu thuyết ái
tình, tiểu thuyết tình cảm, qua những tiểu thuyết luận đề, tiến đến tiểu thuyết
tâm lý” [55, 324]. Với Khái Hưng, ông nhận xét: “Nhưng dù ở tiểu thuyết lý
tưởng, tiểu thuyết phong tục hay tiểu thuyết tâm lý, cái đặc sắc… là sự xét
nhận rất đúng về tâm hồn nam nữ thanh niên Việt Nam” [ 55, 780].
Tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng trong thời kỳ này được đánh
giá cao về mặt nội dung tư tưởng: chống chế độ đại gia đình phong kiến, giải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

Do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, nên việc đánh giá một số hiện
tượng văn học trong đó có Tự lực văn đoàn ở giai đoạn này bị tạm gác lại.
Thời kỳ này, người ta nhìn nhận và đánh giá văn học dưới góc nhìn chính trị,
các tiêu chí đánh giá một tác phẩm văn học đều xuất phát từ lập trường và
quan điểm giai cấp. Tác phẩm của Tự lực văn đoàn giai đoạn này bị đánh giá
chưa thỏa đáng, thậm chí còn có phần khắt khe. Tuy nhiên, cũng có những ý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

- t

nu .

e du . v

n
6
kiến khẳng định những đóng góp của Tự lực văn đoàn. Đồng chí Trường
Chinh trong bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam được nêu trong
Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (1948) vừa nêu những hạn chế của
văn đoàn này nhưng đồng thời cũng đã khẳng định: “Dẫu sao, hoạt động của
nhóm Tự lực văn đoàn đã đẩy mạnh phong trào văn nghệ nước ta tiến tới”.
Có một điểm rất đáng lưu ý là sự khác nhau trong quan điểm và thái


- t

nu .

e du . v

n
7
[10, 87]. Còn chủ yếu là phê phán khá mạnh mẽ các tiểu thuyết của Nhất Linh
và Khái Hưng.
Trái ngược với miền Bắc, ở miền Nam, Tự lực văn đoàn lại được đề
cao, chú trọng quá mức. Nhiều tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã được in lại
và phổ biến rộng rãi. Bên cạnh các bài viết đăng trên các tạp chí, còn có các
công trình văn học sử được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Có nhiều
công trình khảo cứu và nghiên cứu về Tự lực văn đoàn như: Khái Hưng,
người thứ nhất muốn làm nguyên soái của văn chương sáng giá của Hồ Hữu
Tường (1964); Nhất Linh, văn tài tiêu biểu của Tự lực văn đoàn của Phạm
Thế Ngũ (1965); Nhất Linh hay khuynh hướng lãng mạn phản kháng của Bùi
Xuân Bào (1972)… Nhiều công trình văn học sử được dùng trong nhà trường
như: Bình giảng về Tự lực văn đoàn (1958) của Nguyễn Văn Xung; Việt Nam
văn học sử giản ước tân biên (1960) của Phạm Thế Ngũ; Tự lực văn đoàn
(1960) của Doãn Quốc Sỹ; Văn học thế hệ 1932 (1972) của Thanh Lãng; Tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại (1972) của Bùi Xuân Bào; Lược sử văn học Việt
Nam - Nhà văn tiền chiến (1974) của Thế Phong.
Đặc biệt, sau khi Nhất Linh qua đời, xuất hiện một loạt các bài viết
tưởng nhớ về ông của các tác giả Đặng Tiến, Tường Hùng, Doãn Quốc Sỹ,
Trương Bảo Sơn, Thế Uyên, Nguyễn Văn Trung…
Nhìn chung, các ý kiến đánh giá về Tự lực văn đoàn và hai nhà văn
Nhất Linh, Khái Hưng không có gì mới so với thời kỳ trước 1945. Chẳng hạn

sự phát triển của văn học nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung trong
phạm vi cả nước. Với tư duy nghệ thuật đổi mới, các nhà nghệ sĩ đã được “cởi
trói” và thoát khỏi sự nhìn nhận đánh giá nghệ thuật theo quan điểm chính trị.
Những sự “hàm oan” của văn học trong quá khứ đã được các nhà khoa học
nhìn nhận lại một cách khách quan hơn, trả lại cho văn học những giá trị đích
thực mà nó vốn có.
Hầu hết tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng đã được tái bản, một số
cuốn được tái bản nhiều lần với số lượng lớn. Các hội nghị khoa học được mở
ra nhằm xem xét, đánh giá lại các tác phẩm văn chương của Tự lực văn đoàn.
Tháng 5 năm 1989, Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp phối
hợp với Đại học Tổng hợp và các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học
danh tiếng như: Tô Hoài; Huy Cận, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình
Hượu, Phong Lê … đã tổ chức cuộc Hội thảo văn chương về Tự lực văn đoàn.
Tại đây, các nhà nghiên cứu tập trung khẳng định lại vai trò và những đóng
góp của Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà.
Tiếp sau hội thảo này, xuất hiện hàng loạt các công trình, các bài viết
có giá trị nghiên cứu về văn chương của Tự lực văn đoàn như: Về Tự Lực văn
đoàn (1989) - Nguyễn Hữu Trác, Đái Xuân Ninh; Tự lực văn đoàn, con người
và văn chương (1990) - Phan Cự Đệ; Tự lực văn đoàn nhìn từ góc độ tính
liên tục của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học
phương Đông (1991) - Trần Đình Hượu; Thêm mấy ý kiến về Tự lực văn

9
đoàn (1991) - Lê Thị Đức Hạnh… Ngoài ra còn một số luận án tiến sĩ nghiên
cứu về Tự lực văn đoàn như: Tiểu thuyết Nhất Linh trước Cách mạng Tháng
Tám (1997) của Vũ Thị Khánh Dần; Quan niệm về con người trong tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn (1997) của Lê Thị Dục Tú; Mô hình tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn (2003) của Nguyễn Thị Tuyến…
ở các bài viết và những công trình nghiên cứu này, các tác phẩm của
Tự lực văn đoàn nói chung và của hai tác giả Nhất Linh, Khái Hưng nói riêng

văn chương của Tự lực văn đoàn khá hợp lý với thái độ công bằng và khách
quan.
Đã nhiều năm qua đi, việc nghiên cứu và đánh giá về hai tác giả Nhất
Linh, Khái Hưng ngày càng có những khám phá mới mẻ và xác đáng. Tuy
nhiên việc đi sâu vào nghiên cứu hai cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Nửa
chừng xuân trong sự đối sánh với nhau thì lại ít người để ý tới. Đứng trước
thực trạng đó, chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu hai tác phẩm Đoạn
tuyệt và Nửa chừng xuân để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt trong
tác phẩm của hai nhà văn. Trong luận văn của mình, chúng tôi sẽ cố gắng tìm
hiểu một cách có hệ thống tư tưởng nghệ thuật của Nhất Linh, Khái Hưng
cùng những cách thức xây dựng hệ thống nhân vật của hai nhà văn này và
những đóng góp cho quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỉ XX. Qua luận văn, chúng tôi mong muốn được góp một tiếng nói
nhỏ bé của mình vào việc khẳng định và tôn vinh những giá trị nghệ thuật mà
Tự lực văn đoàn nói chung và hai tác giả Nhất Linh, Khái Hưng đã đóng góp
cho tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng khảo sát chính là hai cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái
Hưng: Đoạn tuyệt và Nửa chừng xuân. Để hiểu rõ hơn về hai tác giả này,
chúng tôi đi vào nghiên cứu thêm một số tiểu thuyết khác nhằm bổ trợ cho
những nhận thức và hiểu biết sâu sắc hơn về quan niệm nghệ thuật của Nhất

12
Linh, Khái Hưng như: Nho phong, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng của Nhất
Linh; Hồn bướm mơ tiên, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự của Khái Hưng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu về vấn đề chống lễ giáo phong kiến,
giải phóng cá nhân trong hai cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Nửa chừng xuân.
Đặc biệt chú ý nhấn mạnh tới hai hệ thống nhân vật nữ đối lập nhau. Một bên

Chương 1: Đóng góp của Tự lực văn đoàn đối với quá trình hiện đại
hóa văn học Việt Nam.
Chương 2: Bước chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người
trong tiểu thuyết Nhất Linh và Khái Hưng.
Chương 3: Những cách tân nghệ thuật trong Đoạn tuyệt và Nửa
chừng xuân.

14
NỘI DUNG
Chương 1:
ĐÓNG GÓP CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN ĐỐI VỚI QUÁ
TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM.
1.1. Cơ sở lịch sử - văn hóa - xã hội cho sự ra đời của Tự lực văn đoàn
1.1.1. Những cơ sở lịch sử - văn hóa- xã hội của công cuộc hiện đại hóa
nền văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX.
Cùng với sự đổi thay có tính chất bước ngoặt của dân tộc, văn học Việt
Nam đầu thế kỉ XX cũng có một bước “chuyển mình” mang tầm vóc thế kỉ.
Từ một nền văn học trung đại mang đậm tính chất cổ điển kéo dài trong suốt
hơn mười thế kỷ, đến nay văn học Việt Nam đã nhanh chóng gia nhập vào
tiến trình văn học thế giới. Diện mạo nền văn học nước nhà giờ đây đang dần
thay đổi và vận động theo hướng hiện đại hóa.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tuy là một nước thắng trận
nhưng vẫn phải gánh chịu nhiều tổn thất kinh tế nặng nề. Để khôi phục lại nền
kinh tế của mình, thực dân Pháp đã tăng cường khai thác thuộc địa. Chúng ra
sức vơ vét, bóc lột tài nguyên thiên nhiên của nước ta. Sau hai cuộc khai thác
thuộc địa và thực hiện những chính sách kinh tế mới, xã hội Việt Nam đã biến
đổi một cách sâu sắc và toàn diện. Từ một mô hình xã hội phong kiến phương
Đông, Việt Nam đã căn bản chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến.
Giờ đây chính quyền bản xứ nằm trong tay thực dân Pháp, bộ máy cai
trị được tổ chức lại theo hướng hiện đại hơn và chi phối toàn diện mọi mặt

tiếp xúc với bên ngoài, với văn minh nhân loại và nhanh chóng hòa nhập vào
“guồng quay” hiện đại của thế giới.
Từ sự thay đổi về mô hình xã hội đã kéo theo sự biến động trong kết cấu
xã hội Việt Nam. Để nắm vững thuộc địa, thực dân Pháp phải tìm mọi cách để
nắm chắc chính quyền các cấp và kiểm soát được nhân dân. Vì vậy chúng
phải xây dựng một bộ máy cai trị trung thành và một cơ sở xã hội thích hợp
với chế độ của chúng. Nhằm thay thế tầng lớp Nho sĩ, thân sĩ - tầng lớp có cội
nguồn và được tín nhiệm lớn ở nông thôn Việt Nam, Pháp đã mở ra các
trường hậu bổ, trường Pháp – Việt, trường Cao đẳng đào tạo những thế hệ Tây
học để thay thế cho những văn thân xuất thân từ Nho học. Về cơ bản, những
chính sách của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam “chuyển mình”
bước sang xã hội tư sản, một hướng tư sản kém lành mạnh nhất. Nhưng công
bằng mà nói thì chính điều đó lại tạo điều kiện cho các mặt khác phát
triể
n.
Đó là sự thay đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế
mới; làm mất đi thế lực của nhiều lực lượng bảo thủ, trì trệ; tạo điều kiện cho
cái mới du nhập vào đời sống của người nông dân ở thôn quê, giúp thay đổi
nhận thức lạc hậu của họ.
Xã hội thực dân nửa phong kiến hình thành qua quá trình đấu tranh giữa
ta và địch, giữa sự tranh chấp của cái cũ và cái mới. Tương ứng với các hiện
tượng đó là cuộc cạnh tranh Đông - Tây trong văn học. Đội quân xâm lược đã
tìm mọi cách để du nhập văn hóa Pháp vào Việt Nam nhằm đẩy lùi, chiếm
chỗ, thay thế văn hóa cổ truyền của ta. Sự đổi thay về mặt chính trị - kinh tế -
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .


tưởng của họ được đổi mới và đi theo hướng hiện đại. Dần dần đội ngũ này
hướng hẳn về phía Tây học, tìm đến với chủ nghĩa cá nhân và con đường giải
phóng cá nhân trong chủ nghĩa lãng mạn Pháp thế kỉ XIX. Các nhà văn
này, với một phong cách chuyên nghiệp đã nhanh chóng vươn lên trở thành
lực lượng sáng tác chính. Văn chương giờ đây đã trở thành một “nghề” kiếm
sống chứ không đơn thuần viết ra chỉ để thưởng thức, để “tri âm”, để “tải
đạo” giáo huấn như văn chương thời trung đại. Có thể nói văn chương đã thực
sự trở thành một thứ “hàng hóa” trong xã hội. Người viết văn hiện đại do sự
thúc bách của công việc mưu sinh nên sức sáng tạo của những cây bút trở nên
dồi dào, phóng khoáng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

ww w .

l

r c

- t

nu .

e du . v

n
16
Đó là điều kiện tạo nên một cuộc cách mạng trong văn chương. Những nhà
văn chuyên nghiệp – họ là những trí thức hiện đại, được trưởng thành từ nhà

ww w .

l

r c

- t

nu .

e du . v

n
17
Khác với văn học trung đại, văn học hiện đại được hình thành và phát
triển trên cơ sở xã hội thuộc địa. Sự xâm nhập của văn minh phương Tây đã
kéo theo những nhu cầu văn hoá có tính thương mại. Văn học giờ đây đã trở
thành một nghề kiếm sống. Lúc này, công chúng văn học đã đông đảo hơn về
mặt số lượng, đa dạng hơn về mặt thành phần. Người sáng tác văn học là tầng
lớp trí thức Tây học đang dần thay thế cho nhà Nho làm chủ văn đàn. Cùng
với sự bùng nổ của công nghệ in ấn và báo chí là những điều kiện để hình
thành một nền văn học mới tuy ban đầu còn rất mỏng manh. Sự chuyển đổi từ
văn học trung đại sang văn học hiện đại ở nước ta diễn ra với nhịp độ nhanh
chóng và gấp gáp. Điều đáng nói nhất là nền văn học của ta được hiện đại hoá
ngay chính trong lòng xã hội thuộc địa. Những cơ sở lịch sử, văn hóa, xã hội
trên đây chính là những tiền đề quan trọng quyết định quá trình hiện đại hóa
của nền văn học Việt Nam.
1.1.2. Sự ra đời của Tự lực văn đoàn
Sự ra đời
Nhắc đến Tự lực văn đoàn, người ta không thể không nhắc tới Nhất Linh,

ngoài đường lối do chính họ vạch ra. Nhờ tinh thần đoàn kết, niềm say mê văn
chương, Tự lực văn đoàn đã gặt hái được nhiều thành công vang dội, hoạt
động của nhóm có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nền văn học hiện đại Việt
Nam đầu thế kỉ XX.
Mục đích của Tự lực văn đoàn gồm 4 điểm:
1. Tự lực văn đoàn họp những người đồng chí trong văn giới. Người
trong đoàn đến với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một
tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau
trong những công cuộc văn chương.
2. Người trong đoàn có quyền đề dưới tên mình chữ Tự lực văn đoàn và
bao nhiêu tác phẩm của mình đều được văn đoàn nhận và đặt dấu hiệu.
3. Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn là bản thảo
gửi đến để văn đoàn xét, nếu 2/3 người trong đoàn có mặt ở Hội đồng xét là
có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của đoàn và sẽ tùy sức cổ
động giúp. Tự lực văn đoàn không phải là một hội buôn bán sách.
4. Sau này, nếu có thể được, văn đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là Giải
thưởng Tự lực văn đoàn để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn
chỉ của văn đoàn.
Tháng 6 năm 1934, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn được chính thức công
bố trên Phong hóa gồm 10 điểm:
1. Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không
phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương
thôi. Mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước.
2. Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người và
xã hội ngày một hay hơn lên.
3. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính chất bình dân
và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

Việt và hiện đại hóa các thể loại văn học, nhất là thể loại tiểu thuyết.
Cơ quan ngôn luận của nhóm là hai tờ báo Phong hóa và Ngày nay. Ngay
từ khi mới ra đời, tuần báo Phong hóa đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình
của độc giả: “Tờ báo nổ ra như một trái bom, mang lại cho xã hội Việt Nam
khi đó một món quà người ta chưa hề được thưởng thức: Cái cười” [24, 22].
Phong hóa đã chinh phục độc giả mọi tầng lớp bằng tiếng cười trào phúng
sảng khoái, đả phá những tục lệ cổ, những nhân vật tai to mặt lớn thời bấy giờ.
Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc năm 1935 tờ báo bị đình bản
trong suốt 3 tháng. Đến năm 1936, tờ báo bị đóng cửa và được thay thế bằng
Ngày nay. Trên cơ sở sáp nhập và đổi tên một số nội dung của Phong hóa,
Ngày nay đã hạn chế bớt nội dung trào phúng và đi sâu vào các mặt của đời
sống xã hội. Thông qua Phong hóa và Ngày nay, Tự lực văn đoàn đả kích bọn
địa chủ và quan lại phong kiến, phơi bày và phê phán những hủ tục lạc hậu và

Trích đoạn Khái niệm tiểu thuyết, tiểu thuyết luận đề và tiểu thuyết luận Tiểu thuyết luận đề của Nhất Linh và Khái Hưng Cổ vũ cho phong trào thơ mới Hiện đại hóa trong ngôn ngữ Hiện đại hóa trong giọng điệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status