BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
NGUYỄN ĐĂNG VY
TRUYỆN NGẮN NHẤT LINH, KHÁI HƯNG TRONG
VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THÀNH THI
TP Hồ Chí Minh – 2010
THƯ
VIỆN
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện luận văn này, bản thân tôi đã thường xuyên nhận được sự hướng dẫn tận
tình của PGS. TS Nguyễn Thành Thi. Với tư cách một chuyên gia văn học hiện đại Việt Nam
Điều đó là đúng và cần thiết, song chưa đủ. Trong sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng, bên
cạnh tiểu thuyết, còn có truyện ngắn. Có một thực tế không thể phủ nhận là trong sáng tác
của hai ông, thành tựu sáng tác truyện ngắn không nổi bật bằng thành tựu sáng tác tiểu
thuyết. Nhưng cũng có một giả thuyết, rằng: nếu không có các sáng tác truyện ngắn vừa như
là một sự thể nghiệm, chuẩn bị ý tưởng và kinh nghiệm cho sáng tác tiểu thuyết, vừa như là
một sự bổ sung, hòa phối với tiểu thuyết thì liệu tiểu thuyết của TLVĐ có được sức vang dội
như thế không, và văn chương TLVĐ liệu có được nhữnh thành tựu như đã có hay không?
Thiết tưởng, câu hỏi này chưa được đặt ra và trả lời thỏa đáng.
Đó cũng là lý do chủ yếu thôi thúc chúng tôi chọn, nghiên cứu đề tài “Truyện ngắn
Nhất Linh, Khái Hưng trong văn xuôi nghệ thuật Tự Lực Văn Đoàn” để thực hiện luận
văn thạc sĩ.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu về “Truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng trong văn xuôi nghệ thuật Tự
Lực Văn Đoàn”, luận văn này nhằm hướng tới các mục đích sau:
- Tìm hiểu truyện ngắn của Nhất Linh, Khái Hưng, để thấy được vai trò mở đường và
phát triển nghệ thuật truyện ngắn, hiện đại hóa VXNT quốc ngữ Việt Nam của TLVĐ – một
vấn đề mà trước đây thường bị bỏ qua hoặc chưa chú ý đúng mức.
- Trên cơ sở miêu tả đặc điểm nội dung và hình thức của truyện ngắn Nhất Linh, Khái
Hưng trong bối cảnh VXNT TLVĐ, khẳng định thêm về những giá trị, đóng góp của hai ông
trong sáng tác tiểu thuyết và truyện ngắn.
Với đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng trong bối cảnh VXNT
TLVĐ – được nhìn chủ yếu trong mối quan hệ tương tác giữa sáng tác truyện ngắn và tiểu
thuyết – luận văn chủ yếu tập trung khảo sát các tập truyện ngắn của hai ông sáng tác thời
TLVĐ.
Cũng cần nói thêm rằng: Truyện ngắn của Nhất Linh và Khái Hưng có một khối lượng
không nhỏ.
Bên cạnh tập truyện ngắn Anh phải sống hai nhà văn viết chung với nhau, Nhất Linh
ngắn Khái Hưng, Hoàng Bích Hà, Vương Trí Nhàn (sưu tầm, biên soạn) (2004), NXB
Hội Nhà Văn, Hà Nội, và một vài tập truyện ngắn khác của ông (có Danh mục tác
phẩm kèm theo trong Danh mục tham khảo từ 72 đến 79 và Phụ lục của luận văn).
Đồng thời, trong trường hợp cần thiết, luận văn cũng đối chiếu so ánh với một số tác
phẩm tiểu thuyết của hai nhà văn trong xu hướng tiểu thuyết TLVĐ.
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
3.1. Về việc đánh giá sự đóng góp của nhóm Tự Lực Văn Đoàn đối với tiến trình
phát triển của văn học dân tộc
Trước 1945, có thể kể đến bài viết về nhà văn TLVĐ của các tác giả: Trương Tửu,
Đức Phiên, Trần Thanh Mại, Hà Văn Tiếp, Nguyễn Lương Ngọc, Vũ Ngọc Phan, Trương
Chính,…
Từ 1945 đến 1975 ý kiến đánh giá về TLVĐ ở miền Nam và miền Bắc có nhiều điểm
khác nhau. Ở miền Nam có: Thanh Lãng, Thế Phong, Phạm Thế Ngũ, Doãn Quốc Sỹ, Bùi
Xuân Bào, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Xung, Đặng Tiến, Nguyễn Văn Trung, Dương
Nghiệm Mậu, Thế Uyên, Nguyễn Vỹ, Nguyễn Thị Thế,… Xu hướng chung là đánh giá cao
đóng góp của TLVĐ. Ở miền Bắc, có thể kể đến công trình bài viết của các tác giả: Nguyễn
Đức Đàn, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự Đệ - Bạch Năng Thi. Nhìn chung trong một bối
cảnh cụ thể của đất nước, các tác giả này phê phán TLVĐ khá nặng nề.
Sau 1975 nhất là từ 1986 trở đi, việc đánh giá văn đoàn này càng ngày càng thỏa đáng,
đúng mực hơn, kể cả một số nhà phê bình trước đây đã từng đánh giá khắt khe. Các nhà
nghiên cứu phê bình văn học viết về TLVĐ khá đông đảo: Hoàng Xuân Hãn, Trương Chính,
Trần Đình Hượu, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Phan Cự
Đệ, Nguyễn Trác – Đái Xuân Ninh, Trần Hữu Tá, Phong Lê, Lê Thị Đức Hạnh, Đỗ Đức
Hiểu, Hà Minh Đức, Lê Thị Dục Tú, Trần Thị Mai Nhi, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Thành
Thi, Trịnh Bá Đĩnh, Vương Trí Nhàn,… Ở đây, có một sự vận động trong nhận thức đánh
giá về văn đoàn.
Đương thời, hoạt động văn học của TLVĐ tuy gây được tiếng vang lớn trong dư luận
xã hội và đời sống văn học, tuy vậy đóng góp của TLVĐ vẫn chưa chính thức được giới
nghiên cứu phê bình đặt vấn đề đánh giá đầy đủ, nghiêm túc.
khẳng định: “Nhóm Tự Lực Văn Đoàn không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm quan
trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại” [dẫn theo theo Nguyễn
Hữu Hiếu, 61, tr.74].
Năm 2004, trong Lời giới thiệu tuyển tập Nhất Linh truyện ngắn, Trịnh Bá Đĩnh cho
rằng TLVĐ là một phong trào văn học “có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học thế kỷ XX”
[39, tr.5]; rằng, sáng tác của các nhà văn “trên các trang báo Phong Hóa sau 1934 đã thổi vào
xã hội một luồng sinh khí tươi trẻ, nhẹ nhàng, giàu sinh lực phản ánh được cái khí thế của
một thế hệ trẻ rất hăng hái cải tạo xã hội và văn hóa.” [39, tr.6]; rằng, “nhiều tài năng của
nền văn học mới có lúc từng quần tụ trong TLVĐ” [39, tr.6]; và rằng, trong TLVĐ, Nhất
Linh “là người chủ xướng và tổ chức quan trọng nhất” [39, tr.6].
3.2. Việc đánh giá truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng:
Trước hết, có thể thấy rằng có một thái độ thiên lệch ít nhiều mang tính lịch sử khi
đánh giá sự nghiệp văn chương của Nhất Linh, Khái Hưng: tiểu thuyết được coi trọng,
truyện ngắn có phần bị coi nhẹ.
Thái độ thiên lệch này là có thực trong giới nghiên cứu, phát hành, ngay cả khi sáng
tác của hai ông đã bắt đầu được khôi phục, đánh giá lại. Chẳng hạn, khi làm Tổng tập văn
học Việt Nam những người tuyển tập chỉ dè dặt đưa vào vài truyện ngắn như truyện Bóng
người trong sương mù (Nhất Linh) và truyện Người vợ mù (Khái Hưng), song lại rất tự tin,
rộng rãi trong việc trích tuyển tiểu thuyết của hai nhà văn này. Thái độ này cũng đã khiến
cho những người làm tuyển tập Truyện ngắn Khái Hưng phải thốt lên: “tiếc là lâu nay tiểu
thuyết Khái Hưng vẫn có phần lấn át truyện ngắn của tác giả. Trong vòng 25 năm nay mới
chỉ thấy có một tập truyện ngắn Khái Hưng in ra ở NXB Hải Phòng (1994) và một tập truyện
thiếu nhi, in ở NXB Hải Phòng và Kim Đồng (2000)” [59, tr.5].
Như vậy, nếu không tính đến những tập truyện ngắn của hai ông in ở miền Nam trước
1975, thì mãi đến năm 1994, truyện ngắn của Khái Hưng mới được in lại, còn truyện ngắn
của Nhất Linh, thì phải chờ đến năm 2000, đúng thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ cũ và thế
kỷ mới mới được tuyển in lại. Dầu sao, thời gian gần đây, thái độ coi nhẹ truyện ngắn Nhất
Linh, Khái Hưng đã được điều chỉnh đáng kể. Bằng chứng là có những bộ sưu tập truyện
ngắn Nhất Linh, Khái Hưng ra đời. Kèm theo là nhiều bài viết, công trình nghiên cứu. Có
thể xem đây là những cố gắng nhằm tạo ra cách nhìn nhận thỏa đáng và khôi phục lại đóng
thiện cho khẩu vị đọc của người dân thị thành. Truyện ngắn “Bên dòng Hương giang” được
in lần đầu tiên trên báo Phong Hóa ngày 31/3/1932 và tập truyện ngắn “Dọc đường gió bụi”
ra đời năm 1936 đã nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của công chúng” [189]
Hai ý kiến trên (của Phạm Thế Ngũ và Lê Dục Tú) đã gặp nhau ở một điểm quan
trọng: Cả Nhất Linh, Khái Hưng đều khởi nghiệp bằng việc viết truyện ngắn. Và trước, trong
khi trở thành tác giả của những thiên tiểu thuyết nổi tiếng một thời, Nhất Linh, Khái Hưng đã
và đang là những cây bút viết truyện ngắn có thứ hạng trên văn đàn công khai 1930-1945.
Như thế xét từ một góc độ nào đó, với hai ông và độc giả đương thời, viết và đọc truyện
ngắn có thể xem là một sự chuẩn bị, tập dượt cho viết và đọc tiểu thuyết.
Về đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng:
Cùng thời với Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh vẻ đẹp giản dị, sức
chinh phục độc giả ở kĩ thuật dựng truyện, hành văn của Khái Hưng. Trong Nhà văn hiện
đại, ông viết:
“Về truyện ngắn, Khái Hưng viết tuyệt hay. Người ta thấy phần nhiều truyện ngắn của
ông lại có vẻ linh hoạt và cảm người đọc hơn cả truyện dài của ông. Truyện ngắn của Thạch
Lam và Đỗ Đức Thu ngả về mặt sầu cảm và kín đáo bao nhiêu thì truyện ngắn của Khái
Hưng vui tươi và rộng mở thế ấy, nhưng không phải cái vui thái quá như những truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan đâu. Ngay ở những truyện buồn của Khái Hưng, người ta cũng chỉ
thấy một thứ buồn man mác, không bao giờ là cái buồn ủ rũ như ở những truyện của Thạch
Lam (…). Đọc những truyện ngắn của Khái Hưng, tôi nhận thấy nghệ thuật của ông là tìm
cho ra những ý nghĩ đau đớn hay khoái lạc của mọi việc trên đời, rồi ghi lại bằng những lời
văn gọn gàng, sáng suốt, làm cảm người ta bởi những việc mình dàn xếp, mình làm cho khi
nổi khi chìm, chứ không phải cám dỗ người ta bởi những thuyết mà mình tưởng là cao cả
”.[141, tr.770]
Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ còn chia truyện ngắn của Khái Hưng ra làm hai loại:
“một loại nhẹ, truyện vui, truyện phiếm, đăng vừa một cột báo, in lên hai ba trang sách,
không có ý nghĩa gì sâu xa” [136, tr.477] và “một loại nặng, đứng đắn, rộng kích thước hơn,
viết công phu hơn, đặt ra một vấn đề luận lý, xã hội, đưa ra một mẩu tâm lý, một mảng sinh
hoạt, bắt người ta phải suy nghĩ, đôi khi phải cảm động đau thương”. [136, tr.477]
Trước khi hai tuyển tập truyện ngắn của Nhất Linh, Khái Hưng ra đời (2002; 2004),
ngắn là “một lĩnh vực mà ngòi bút của ông liên tục làm việc và có nhiều thành tựu đáng ghi
nhận” [59, tr.5].
Về việc phân loại, tác giả Lời dẫn cũng cho rằng sáng tác truyện ngắn của Khái Hưng
“bao gồm truyện sinh hoạt, truyện lịch sử, truyện viết theo lối truyện kể dân gian và truyện
viết bằng bút pháp hiện đại” [59, tr.5].
Trong một số bài viết gần đây, như “Chuyên nghiệp hóa sáng tác – một đòi hỏi tất yếu
của công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam trước 1945” [168], “Mấy ghi nhận về tương
tác tiểu thuyết truyện ngắn và sự biến đổi nòng cốt của hai thể loại này” [169], “Tự Lực Văn
Đoàn – những lằn ranh văn học” [170], Nguyễn Thành Thi cũng đề cập nhiều đến sáng tác
của Nhất Linh, Khái Hưng, đặc biệt là sáng tác truyện ngắn. Trong đó có nhiều ý kiến, luận
điểm rất đáng chú ý.
Theo Nguyễn Thành Thi, nhìn chung, thế mạnh của truyện ngắn Nhất Linh là “khám
phá, miêu tả tâm lý” và khả năng “lồng vào truyện những ý tưởng luận đề”; trong khi đó,
Khái Hưng lại “thường chú trọng đặc biệt đến ngôn ngữ đối thoại và luôn có ý thức miêu tả
giọng điệu, lời nói của các loại nhân vật, các hạng người trong xã hội” [168]; hoặc: “trong kĩ
thuật truyện ngắn, Nhất Linh, với năng lực ưu trội trong việc đi sâu vào thế giới tinh thần cá
nhân của con người, thường nghiêng về những tìm tòi thể nghiệm miêu tả tâm lý, kĩ thuật
phô diễn tiếng nói nội tâm của nhân vật (ngay cả khi ông dùng đến các chất liệu kì ảo)”[168],
và: “Khái Hưng, với năng lực ngữ cảm và các nhận xét tinh tế ít nhiều mang tính chất “siêu
ngôn ngữ” [168]. Nhà nghiên cứu còn phân tích, minh chứng thêm: Khái Hưng “hay để cho
người kể chuyện trong truyện ngắn của ông nhận xét về nhạc tính, âm hưởng riêng trong
ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Trong truyện Cô hàng nước chẳng hạn, nhân vật xưng tôi
tên Ban nhận thấy qua những mẩu đối thoại của nhân vật “cô hàng nước” “tiếng nói vùng bể
rất nặng và đầy những tiếng thanh ngang, khiến Ban phải mỉm cười”. Hơn thế, cũng như
nhân vật tôi, “cô hàng nước” nơi thôn dã này còn phân biệt rạch ròi cách dùng từ cô hay bà
trong “cô tú” (bản thân người phụ nữ đã thi đỗ tú tài) với “bà tú” (người phụ nữ là vợ của
người thi đỗ tú tài)” [169, tr.70]
Về mặt loại hình và đặc điểm thể tài của truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng, trong Tự
Lực Văn Đoàn – những lằn ranh văn học, bài viết gần đây nhất [170], Nguyễn Thành Thi đề
xuất phân loại tiểu thuyết Nhất Linh Khái Hưng thành ba loại hình thể tài: 1) tiểu thuyết luận
đẩy xa thêm một bước nữa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp loại hình
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh
Phương pháp thi pháp học
Sử dụng thao tác thống kê…
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống những đóng góp cùng hạn chế của
Nhất Linh, Khái Hưng về truyện ngắn, đặt trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
Tiếp thu ý kiến bàn về truyện ngắn của Nhất Linh, Khái Hưng của những người đi trước,
chọn cách trình bày từ góc độ nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn và những đóng góp quan
trọng trong nội dung và nghệ thuật viết truyện ngắn của hai nhà văn đối với tiến trình phát
triển của văn học hiện đại Việt Nam nói chung và truyện ngắn nói riêng.
Người viết có ý thức khảo sát một cách nhất quán đặc điểm nội dung và nghệ thuật
của truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng. Cách xem xét này giúp ta hình dung được toàn bộ
đặc điểm truyện ngắn của Nhất Linh, Khái Hưng không phải như một tổng số các đặc điểm
rời rạc mà như một chỉnh thể thống nhất các nét độc đáo xuyên suốt nội dung và hình thức
các tác phẩm của hai ông.
Bằng việc nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng, luận văn góp
thêm một tiếng nói khẳng định những đóng góp và vị trí của nhà văn trong tiến trình phát
triển của văn học Việt Nam hiện đại.
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, nội dung cơ bản của luận văn được trình bày theo
ba chương, với các nội dung chủ yếu sau đây:
Chương 1 với nhan đề NHẤT LINH, KHÁI HƯNG NHƯ LÀ NHỮNG NHÀ VĂN VIẾT
TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI, sau khi giới thuyết một số khái niệm công cụ, tập trung xác
Có chung tính chất là tự sự, ranh giới giữa truyện ngắn và tiểu thuyết khá mong manh.
Nhiều người ghi nhận hiện tượng này: truyện ngắn “ít nhiều mang những đặc tính của tư duy
tiểu thuyết” (Lại Nguyên Ân), là “một bộ phận của tiểu thuyết” (Bùi Việt Thắng), hay là
“một dạng tiểu thuyết đặc biệt” (Vương Trí Nhàn).
Các nhà văn, với trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những cảm nhận cụ thể và
một số đúc kết đa dạng. Pautopxki đã phát biểu: “Truyện ngắn là truyện viết ngắn gọn, trong
đó cái không bình thường hiện ra như một cái bình thường và cái gì bình thường hiện ra như
một cái không bình thường” [137]. Aimatov chú ý đến đặc trưng lao động nghệ thuật:
“Truyện ngắn giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ,
cô đúc, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác. Đây là
một việc vô cùng tinh tế. Xoay xỏa trên một mảnh đất chật hẹp, đó chính là chỗ để cho
truyện ngắn phân biệt với các thể tài khác”. [137, tr.146]. Nhấn mạnh đến chi tiết, Nguyễn
Công Hoan cho rằng “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng
bằng chi tiết” [159, tr.186].
Xuất phát từ những quan niệm tương đối thống nhất về truyện ngắn, chúng ta có thể
nêu ra một số đặc trưng cơ bản của thể loại này.
Truyện ngắn thuộc một kiểu tư duy mới mang cá tính sáng tạo, một cách nhìn cuộc
đời, nắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại.
Đặc trưng đầu tiên, dễ thấy nhất của truyện ngắn là dung lượng nhỏ. Thế nào là nhỏ?
Có thể nói, dung lượng thông thường của một truyện ngắn co dãn khoảng từ 3 đến 50 trang.
Dưới con số 3 trang, người ta gọi là “truyện ngắn mini”, hoặc “truyện ngắn trong lòng bàn
tay”; trên con số 50 trang, người ta gọi là truyện vừa, trên 100 trang là tiểu thuyết. Những
cách gọi này tương ứng với các khái niệm đoản thiên tiểu thuyết (truyện ngắn) trung thiên
tiểu thuyết (truyện vừa) trường thiên tiểu thuyết (truyện dài) vốn phổ biến ở Việt Nam vào
thời kỳ đầu của văn xuôi tự sự hiện đại. Tuy nhiên tính chất “nhỏ” của truyện ngắn không chỉ
nằm ở dung lượng, mà quan trọng hơn là những quy luật cấu tạo đặc thù của truyện ngắn. Do
tính chất ngắn gọn, truyện ngắn được tổ chức bằng các phương thức và chất liệu đặc biệt.
Về “cách nắm bắt cuộc sống của thể loại”, truyện ngắn không có tham vọng ôm vào
mình một hiện thực rộng lớn, hoành tráng. “Ngắn ở đây đồng nghĩa với hàm súc, tinh lọc và
hay” (Bùi Việt Thắng). Nguyên tắc chung nhất của truyện ngắn không cho phép“dồn ép”
Cốt truyện: là yếu tố hết sức quan trọng của thể tự sự nói chung và truyện ngắn nói
riêng. Song, khác với tiểu thuyết, cốt truyện của truyện ngắn “thường tự giới hạn về thời
gian, không gian” (Lại Nguyên Ân). Nếu tiểu thuyết dõi theo cả một hay nhiều số phận nhân
vật, và tái hiện một bức tranh xã hội rộng lớn, thì truyện ngắn, tập trung vào một khoảnh
khắc, trong đó xây dựng một tình huống truyện. Tình huống chính là điểm giao cắt của
nhiều yếu tố cùng một lúc, qua đó tính cách của nhân vật tức thì hiện ra và vấn đề đột nhiên
được phơi mở.
Nếu tiểu thuyết là cuộc đời trong sự trọn vẹn của nó thì truyện ngắn lại là một “mặt cắt
của dòng đời”. Nếu tiểu thuyết “diễn tả một quá trình vận động của cuộc sống” thì truyện
ngắn lại “tập trung vào một tình thế thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm
trạng nhân vật”, nếu tiểu thuyết “mở ra một diện” thì truyện ngắn “tập trung xoáy vào một
điểm”.[159]
Về cách thức tiếp cận cuộc sống, truyện ngắn cũng có những khác biệt, nó “khái quát
cuộc sống theo chiều sâu, lấy điểm nối diện, lấy cái khoảnh khắc để nối cái vĩnh cửu”. [160]
Về tính chất, điều đặc biệt ở truyện ngắn là cốt truyện của nó nhiều khi rất rõ nét, rất li
kì, hấp dẫn nhưng cũng có khi không có, hoặc mờ nhạt. Thạch Lam là một nhà văn có nhiều
tác phẩm có cốt truyện mơ hồ, “truyện mà không có chuyện” như thế.
Vậy các yếu tố nào khác khiến cho truyện ngắn vẫn được chấp nhận khi thiếu vắng cốt
truyện? Có lẽ, yếu tố đó chính là chi tiết, kết cấu, nhân vật của “hình thức nhỏ”.
Ở truyện ngắn, chi tiết đóng vai trò rất quan trọng. Nó góp phần tạo dựng cảnh trí,
không khí, tình huống và khắc họa tính cách, hành động, tâm tư, nhân vật. Nhận xét về điều
này, nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định: “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt
truyện li kì, gay cấn, kể được. Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể
được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết. Nó sẽ như nước lã”. [57, tr.33]
Như vậy, vai trò của chi tiết trong truyện ngắn là hết sức quan trọng. Không chỉ vậy,
nhiều chi tiết đắt giá có thể nâng tác phẩm lên đến “cấp độ tượng trưng, tạo sức ám ảnh”
[159, tr. 84].
Là thể loại tự sự đòi hỏi một kết cấu chặt chẽ, kết cấu truyện ngắn cũng có những nét
đặc thù riêng. Theo Nguyễn Minh Châu, “Cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi người
viết một công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt. Quả thực có một thứ kĩ
“nòng cốt” gần gũi nhau nhất và cũng luôn nắm giữ vị trí chủ đạo của nền văn xuôi nghệ
thuật. Vị thế tương tác giữa chúng cũng phổ biến, tinh tế và có tác dụng thúc đẩy văn học
phát triển rõ hơn cả.
Nếu truyện ngắn thuộc loại hình tự sự cỡ nhỏ thì tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự cỡ
lớn. Đây thực sự là hai thể loại chủ đạo của văn xuôi nghệ thuật. Tuy nhiên sự phân biệt ở
đây chỉ có ý nghĩa tương đối, và điều đáng nói hơn là khi nghiên cứu hai thể loại văn học
này, người ta không thể không quan tâm đến sự tương tác thể loại giữa truyện ngắn và tiểu
thuyết. Nhà nghiên cứu trong khi nghiên cứu khảo sát các tác phẩm truyện ngắn hoàn toàn có
thể tìm thấy ở đây những dấu hiệu kĩ thuật, thi pháp của tiểu thuyết và ngược lại, đúng như
nhận định của Nguyễn Thành Thi trong Mấy ghi nhận về tương tác giữa tiểu thuyết và truyện
ngắn và sự biến đổi nòng cốt của hai thể loại này [169, tr.49].
1.1.2. Vài nét về truyện ngắn Việt Nam hiện đại trước 1945
Trong bức tranh chung của văn học hiện đại Việt Nam trước 1945, truyện ngắn là thể
loại khá phát triển và có một diện mạo riêng, một tiến trình vận động khá rõ nét.
Khi nhận định rằng truyện ngắn là “thể loại khá phát triển”, tác giả luận văn không chỉ
căn cứ cả vào số lượng tác giả, tác phẩm mà còn căn cứ vào chất lượng và tính đa dạng về
khuynh hướng tư tưởng thẩm mĩ của thể loại này.
Có khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa (chủ yếu thuộc khu vực văn xuôi lãng mạn), có
khuynh hướng hiện thực (chủ yếu thuộc khu vực văn học hiện thực phê phán); có khuynh
hướng thuyết lý đạo đức, khuynh hướng luận đề, khuynh hướng hiện thực xã hội, khuynh
hướng hiện thực tâm lý,… Về hình thức kĩ thuật tự sự, có khuynh hướng viết ngắn, có
khuynh hướng viết dài, tiếp cận với truyện vừa, có tổng hợp kĩ thuật của tiểu thuyết, có yếu
tố huyền thoại kì ảo, có yếu tố lịch sử, có yếu tố đồng thoại (truyện loài vật),…
Sự phong phú của truyện ngắn cũng tương ứng với sự phong phú của tiểu thuyết, thậm
chí sáng tác truyện ngắn đều hơn so với sáng tác tiểu thuyết. Và, sẽ là không quá lời khi cho
rằng, trong nền văn xuôi Việt Nam, thể loại truyện ngắn có bề dày truyền thống và đạt nhiều
thành tựu hơn thể loại tiểu thuyết.
Quan sát sự hình thành và phát triển của truyện ngắn hiện đại Việt Nam, thấy có hai
chặng đường chính sau đây:
Phong Hóa, Ngày Nay đã viết cả tiểu thuyết và truyện ngắn. Riêng về truyện ngắn, thời gian
này ông có hơn chục tác phẩm, sau được in chung trong tập Người quay tơ. Về tư tưởng, tập
truyện vừa có khuynh hướng hiện thực (Nô lệ), vừa có khuynh hướng lãng mạn (Giấc mộng
Từ Lâm), lại có cả khuynh hướng yêu nước (Người quay tơ). Xét trên nhiều phương diện,
nhất là về kĩ thuật, hình thức, tác giả luận văn xem đây là một hiện tượng và là bước chuẩn bị
quan trọng cho nội dung, phương thức tự sự của Nhất Linh và Tự lực văn đoàn sau đó không
lâu.
(Tiếc rằng nhiều người đánh giá chưa thích đáng về ý nghĩa lịch sử các truyện ngắn
này, từ phương diện xây dựng thể tài.)
Trong chặng “phát triển” của truyện ngắn Việt Nam trước 1945, phải kể đến vai trò
của các nhà văn thuộc cả hai khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực phê phán.
Giữ vai trò nổi bật ở khuynh hướng thứ nhất của quá trình phát triển truyện ngắn –
khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa – là các nhà văn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế
Lữ, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Thanh Tịnh, Thanh Châu, Ngọc Giao, Xuân Diệu…
Giữ vai trò nổi bật ở khuynh hướng thứ hai – khuynh hướng hiện thực phê phán – là
các nhà văn: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Bùi Hiển, Tô
Hoài, Kim Lân, …
Năm 1930, Tản Đà mở mục Việt Nam nhị thập thế kỉ Xã hội ba đào kí trên Annam tạp
chí. Từ 1930 đến 1932, Nguyễn Công Hoan viết 24 truyện ngắn, trong đó có 20 truyện đăng
trên mục Xã hội ba đào kí (chiếm hơn một nửa tổng số truyện ngắn đăng trên mục này).
“Nguyễn Công Hoan trở thành một nhà văn sáng giá những năm đầu thập niên 30 thế kỉ
trước, là người cắm ngọn cờ đầu của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyện
ngắn.” [37, tr.289].
Nguyễn Công Hoan được xem là người đầu tiên viết truyện ngắn theo khuynh hướng
hiện thực phê phán và sớm đạt được thành tựu đáng được ghi nhận. Các tập truyện ngắn có
giá trị của ông là Ngựa người người ngựa (1934), Kép tư bền (1935)… Nhìn thẳng vào hiện
thực, bằng tiếng cười trào phúng, Nguyễn Công Hoan phơi ra mặt trái của xã hội đầy bất
công thối nát, kẻ giàu phè phỡn, vô đạo, còn người nghèo thì bị ức hiếp và đói khổ cùng cực.
Riêng tập Kép tư bền, gồm 15 truyện ngắn sáng tác trong khoảng 1929 – 1935, đã gây tiếng
vang lớn, được Hải Triều biểu dương nhiệt liệt, coi tập truyện này là “tác phẩm thuộc về trào
1.2. Truyện ngắn – một bộ phận sáng tác quan trọng và có thành tựu đáng ghi nhận
trong sự nghiệp văn học của Nhất Linh, Khái Hưng
1.2.1. Tự Lực Văn Đoàn như là một tổ chức văn học
Tự Lực Văn Đoàn là một tổ chức văn học hiện đại, được thành lập và hoạt động khá
hiệu quả, trong vòng một thập niên (1932-1942), có thành tựu và ảnh hưởng lớn sự phát triển
của văn học hiện đại Việt Nam, nửa đầu thế kỉ XX. Tự Lực Văn Đoàn có tôn chỉ, mục đích
riêng, có nhà in riêng (Đời Nay) cùng cơ quan ngôn luận riêng (Phong Hóa, Ngày Nay).
Tự Lực Văn Đoàn gồm 7 thành viên chính thức: Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh),
Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Trần Khánh Giư
(Khái Hưng), Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu), Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ), Hồ Trọng Hiếu (Tú
Mỡ). Cùng với các thành viên chính thức nói trên, Tự Lực Văn Đoàn tập hợp được cả một
đội ngũ cộng tác viên chọn lọc, có uy tín trên nhiều lĩnh vực sáng tác nghệ thuật: văn, thơ,
nhạc, họa.
Cho đến nay, các nghiên cứu về TLVĐ của các nhà Việt học đã có bề dày và khá
thống nhất. Luận văn này không nhắc lại nữa, chỉ xin lưu ý mấy điểm sau:
Thứ nhất. Cần phải nói ngay rằng, hoạt động của TLVĐ trên thực tế đã vượt ra ngoài
khuôn khổ, phạm vi văn học. Về thực chất là một tổ chức văn hóa xã hội, hoạt động văn học
của TLVĐ vừa là phương tiện, vừa là nội dung.
Mặc dầu khó lòng tách bạch hoạt động văn hóa xã hội và hoạt động văn học của nhóm
– cũng như khó lòng mà tách bạch được trong các sáng tác văn học của các nhà văn trụ cột,
các thành viên chính thức của TLVĐ, đâu là phương tiện, đâu là nội dung hoạt động. Tuy
nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ cố gắng tập trung vào hoạt động sáng tác của tổ
chức này từ góc độ một tổ chức văn học. Nói cách khác, sẽ chỉ nhìn Nhất Linh, Khái Hưng,
Hoàng Đạo, như là những người sáng tác văn học, những nhà văn.
Thứ hai. Các đánh giá về đóng góp của văn chương LLVĐ trước đây vì nhiều lý do
khách quan và chủ quan còn có nhiều điểm bất hợp lý, thậm chí bất công. Về sau có được
điều chỉnh. Nhà văn TLVĐ được nhìn nhận từ phương diện giai cấp, thế giới quan tiểu tư
sản: “Họ là những nhà văn tiểu tư sản thức thời, có tinh thần dân tộc, có một lý tưởng thực
tiễn, là dựa vào những điều kiện cụ thể để hoạt động và làm ăn bằng văn học. Hoạt động và
6. Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước nhà mà có tính cách bình dân, khiến cho
người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân . Không có tính cách trưởng giả quí
phái.
7. Trọng tự do cá nhân.
8. Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9. Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam.
10. Theo một trong 9 điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác.
(Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn 3) [136]
Nhìn vào “mười điều tâm niệm” trên đây, sẽ dễ dàng nhận thấy, hoạt động của TLVĐ
không chỉ khuôn hẹp trong sáng tác, truyền bá văn chương mà còn bao hàm cả các hoạt động
nhiều phương diện khác trong phạm vi văn hóa, xã hội. Các hoạt động này đều dựa trên lập
trường dân chủ, dân tộc và duy tân.
Có lẽ, trong cái nhìn và quan niệm của TLVĐ, dân ta chủ yếu là dân quê, trình độ văn
hóa thấp, đời sống hết sức lạc hậu, xã hội thôn quê bảo thủ, trì trệ. Do vậy phải tiến hành cải
cách làm thay đổi diện mạo văn hóa Việt Nam theo tinh thần Âu hóa và dân chủ hóa. Các
hoạt động cải cách văn hóa của TLVĐ được thực hiện thông qua hai hình thức: tuyên truyền
(bằng báo chí, văn chương) và hành động (với một số hoạt động cụ thể như làm nhà Ánh
sáng, phát chẩn,…).
Tham vọng của TLVĐ – làm một cuộc cách mạng văn hóa xã hội nhằm tạo ra một thế
giới riêng có cuộc sống no đủ, văn minh, tồn tại hợp pháp trong lòng chế độ thuộc địa dưới
sự dẫn dắt của những trí thức Tây học – xét đến cùng là ảo tưởng, song trên bình diện văn
hóa, phong tục, họ đã tạo ra một phong trào tiến bộ, có tính dân tộc, có ảnh hưởng xã hội khá
sâu đối với công chúng văn học ở các đô thị nước ta thời bấy giờ.
1.2.2. Nhất Linh, Khái Hưng – hai cây bút chủ lực của văn xuôi nghệ thuật Tự Lực Văn
Đoàn
Ở Việt Nam, rất nhiều nhà thơ đồng thời là người viết tiểu thuyết, truyện ngắn. Thế Lữ
chẳng hạn, ông là một nhà thơ, nhưng nói đến sự nghiệp văn chương của ông không thể
không nói đến các tập truyện ngắn, truyện vừa. Tuy nhiên, có lẽ ít có ai gọi Thế Lữ là một
tác giả truyện ngắn. Đơn giản, vì số lượng lẫn chất lượng tác phẩm truyện ngắn của ông chưa
đạt được cái ngưỡng để có thể xem ông như là một tác giả truyện ngắn.
9) Bướm trắng (1938 – 1939)
10) Xóm cầu mới (1949 – 1957) trường thiên (chưa hoàn thành).
11) Dòng sông Thanh Thủy (1960 – 1961), trường thiên tác phẩm cuối cùng.
Truyện ngắn của Nhất Linh gồm có các tập:
1) Người quay tơ (1927)
2) Anh phải sống (viết chung với Khái Hưng, 1934)
3) Tối tăm (1936)
4) Hai buổi chiều vàng (1937)
5) Thế rồi một buổi chiều (1937)
6) Mối tình chân (1948-1950)
7) Thương chồng (1949-1950)
Như vậy, với gần bốn mươi năm sáng tác, Nhất Linh đã để lại 10 cuốn tiểu thuyết và 7
tập truyện ngắn cùng với 1 tiểu luận (Viết và đọc tiểu thuyết). Chừng ấy tác phẩm ở những
giai đoạn sáng tác khác nhau, sẽ cho ta thấy, bên cạnh những sáng tác tiểu thuyết, Nhất Linh
còn là một tác giả truyện ngắn với số lượng tác phẩm đáng kể.
Trên đại thể, truyện ngắn Nhất Linh chưa tạo được một phong cách nghệ thuật thật rõ
nét, song cũng có nhiều thể nghiệm và đóng góp đáng quý, không thể phủ nhận.
1.2.2.2. Khái Hưng và vị trí của truyện ngắn trong sáng tác văn học của ông
Khái Hưng tên thật là Trần Giư, nhưng ông thêm chữ Khánh thành Trần Khánh Giư để
giống vị tướng Trần Khánh Dư đời Trần. Ông sinh năm 1896 – một số tài liệu ghi ông sinh
năm 1897 – trong một gia đình quan lại ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương, nay
thuộc Hải Phòng.
Khái Hưng đi học ở trường Albert Sarraut. Sau khi đỗ tú tài I, một thời gian Khái
Hưng dạy học ở trường tư thục Thăng Long. Trong khoảng thời gian 1930 đến 1932, Nhất
Linh từ Pháp về nước và cũng dạy tại trường này. Khái Hưng đã quen Nhất Linh ở đó và họ
trở thành một cặp tác giả nổi tiếng. Tuy Khái Hưng hơn Nhất Linh 9 tuổi nhưng là người
bước vào văn đàn sau nên được gọi Nhị Linh.
Theo Nguyễn Vỹ trong “Văn Thi Sĩ Tiền Chiến”, Khái Hưng “Người gầy ốm, đôi má
hơi cóp và nước da hơi tái, nhưng nụ cười rất tươi. Nụ cười ngụ nét hóm hỉnh, nhưng hiền
lành khả ái, […] không trào lộng như Nguyễn Tường Tam”. Về tính tình “Khái Hưng cũng
Ngoài ra, ông còn một số truyện ngắn khác mới chỉ đăng báo, chưa in thành tập.
Có thể thấy, văn chương Khái Hưng ngoài tiểu thuyết (12 cuốn), thì truyện ngắn (6
tập) cũng là một thế mạnh của nhà văn. Hầu như tác phẩm của ông thường xoáy vào chủ đề:
đề cao tình yêu tự do, chống lễ giáo phong kiến, một phần cải cách xã hội. Truyện của ông
phần kết bao giờ cũng gây cảm giác bâng khuâng, man mác cho bạn đọc.
Về truyện ngắn của Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan nhận xét: Khái Hưng viết truyện ngắn
tuyệt hay, linh hoạt và cảm người ta hơn là truyện dài. Vì nó vui tươi và rộng mở. Khái Hưng
quan sát lão luyện và dùng ngòi bút tài tình. Truyện ngắn Khái Hưng có một đặc biệt là ông
tìm ra ý nghĩa của mọi việc trên đời, dùng ngôn ngữ giản dị trong sáng ghi lại, làm cho người
ta cảm nhận chứ không gò ép cám dỗ người ta bằng lý trí.
Như vậy, Khái Hưng không chỉ là nhà tiểu thuyết tài hoa, ông còn là một tác giả
truyện ngắn dồi dào sức lực, thường xuyên có truyện in trên Phong Hóa, Ngày Nay… Viết
về Khái Hưng, các nhà văn học sử đều đã dành riêng ít trang để mô tả ông như một tác giả
truyện ngắn. Theo Vũ Ngọc Phan: “Đọc những truyện ngắn của Khái Hưng, tôi nhận thấy
nghệ thuật của ông là tìm cho ra những ý nghĩa đau đớn hay khoái lạc của mọi việc ở trên
đời, rồi ghi lại bằng những lời văn gọn gàng, sáng suốt, làm cảm người ta bởi những việc
mình dàn xếp, mình làm cho khi nổi khi chìm, chứ không phải cám dỗ người ta bởi những
thuyết mà mình tưởng là cao cả” [141, tr.773]; còn với Phạm Thế Ngũ thì: “Đây là một cây
bút đi nhặt nhạnh chuyện người, một thứ gương pha lê hướng ra cuộc đời lắm vẻ và dung