MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa chọn đề tài
Nhật Bản là nơi hội tụ rất nhiều giá trị truyền thống văn hoá đặc sắc với các
lễ hội chùa chiền, nghệ thuật cắm hoa, tinh thần võ sĩ đạo, trà đạo…Không chỉ
được mệnh danh là “xứ sở mặt trời mọc”, Nhật Bản còn là xứ sở của hoa anh
đào dịu dàng và quyến rũ như những cô gái Nhật Bản trong trang phục truyền
thống kimônô.
Văn học Nhật Bản đương đại là một sự phát triển tiếp nối những truyền
thống của văn học Nhật Bản của các thế kỷ trước, với tên tuổi của các nhà văn
lớn như Y. Kawabata, Y. Banana…Haruki Murakami được đánh giá là một
trong những “hiện tượng” của văn chương Nhật Bản thế kỉ XXI. Bằng những tác
phẩm, lối viết tưởng chừng như thách đố, thế nhưng vì một lí do nào đó, ông đã
khiến cho bạn đọc trên khắp thế giới yêu thích và hâm mộ. Phải chăng ông đã
biết xay nhuyễn tất cả những thứ “khó nhằn” để hoà trộn vào một văn bản, với
cách hành văn, những chi tiết, những thắt mở vô cùng điêu luyện và hài hước
mà lại mênh mông buồn.
Haruki Murakami bước vào văn đàn như một quả bom nổ chậm. Bắt đầu từ
những tiểu thuyết như Lắng nghe gió hát, sau đó là những tiểu thuyết đã đưa
ông lên địa vị siêu sao như Rừng Nauy, Kafka bên bờ biển, Biên niên ký chim
vặn dây cót… Không dừng lại ở tiểu thuyết, truyện ngắn của Haruki Murakami
cũng gây xôn xao dư luận. Bởi dư âm những thắc mắc, ám ảnh trong giọng văn
của ông còn đọng lại trong lòng độc giả. Trong truyện ngắn của ông, thực ảo lẫn
lộn, cuộc sống thường nhật và những ẩn dụ mộng tưởng về một thế giới phi thực
đan xen nhau. Con người lạc vào chốn mê cung của những giấc mơ, vô thức và
hoang mang trên con đường đi tìm bản ngã. Trong lời tựa của một tập truyện
ngắn ông viết: “Đối với tôi, viết tiểu thuyết như một thử thách, viết truyện ngắn
như là niềm vui. Nếu ví việc viết tiểu thuyết như trồng một khu rừng thì viết
truyện ngắn như tạo ra một mảnh vườn nhà. Hai công trình ấy bổ túc cho nhau,
tạo ra cảnh trí mà tôi yêu thích”. Ngoài cái hay của tiểu thuyết, truyện ngắn còn
là mối liện hệ gắn kết các sự kiện để tạo dựng nên thể loại truyện dài.
Nghiên cứu truyện ngắn của Haruki Murakami để hiểu thêm văn học Nhật
Michigan, 2002), “Haruki Murakami – và âm nhạc của ngôn từ” của Jay Rubin
(Nxb Vintage, 2005)…
Bên cạnh đó có một số bài viết, phê bình liên quan đến Haruki Murakami
như: “Việc sử dụng các khái niệm huyền ảo mặc nhiên trong tiểu thuyết hư ảo
của Haruki Murakami” (Edwards), “Nhà văn Nhật Bản Murakami - khảo sát
tâm hồn của vương quốc bóng tối” (Trên CN, ngày 24.11.2000)…
2
Tác phẩm của Haruki Murakami được bạn đọc Việt Nam đón nhận nồng
nhiệt, và đã có những bài viết về cuộc đời sự nghiệp và phong cách sáng tác của
ông. Một số tập trung tranh luận về các tác phẩm của nhà văn như: “Rừng Nauy
– sex thuần tuý hay nghệ thuật đích thực”, “Tản mạn Rừng Nauy và Haruki
Murakami” (Phạm Xuân Nguyên), “Murakami - hiện tượng cùng thời đại OOI
Kouichi Kí giả” (Ban văn nghệ báo Mainichi), “Tôi là ai” (Ngân Xuyên), “Cuộc
tìm kiếm bản thể con người hiện đại” (Nguyễn Hoài Nam)…
Một loạt truyện ngắn của Haruki Murakami vừa được xuất bản đã thu hút
sự quan tâm rộng lớn của giới phê bình và độc giả với nhiều bài viết trên các
mặt báo văn nghệ, tạp chí, các trang Web như: Http://www.Evan.com;
Http://www.Google.com.vn; Http://Tienve.org… Tuy nhiên, đa phần chỉ là mới
khai lộ vấn đề chứ chưa đi sâu tìm hiểu các đặc trưng truyện ngắn của
Murakami. Năm 2007, trong hội thảo về Haruki Murakami, tác giả Nhật Chiêu
nhận định: “Giấc mơ và tưởng tượng lôi cuốn chúng ta khi đọc Murakami
Haruki”. Cao Việt Dũng cũng nhận xét: “Bí ẩn là thủ pháp kể chuyện của
Murakami”. Lâm Thiếu Hoa, tác giả người Trung Quốc khẳng định: “Tính ẩn
dụ, tính thần thoại và tính tượng trưng trước sau vẫn là điểm sáng lớn trong tác
phẩm của Murakami”. Hay như Shamenorth nói: “Murakami bắt đầu nơi mà
Camus đã từ bỏ. Các nhân vật của ông theo chủ nghĩa hư vô, nhưng họ chọn lựa
cuộc sống theo màu sắc huyền bí khước từ và xa lánh những suy luận logic
thông thường”.
Bên cạnh những lời nhận định trên, gần đây cũng đã xuất hiện một số công
trình nghiên cứu và bài viết về truyện ngắn của Haruki Murakami. “Nghiên cứu
liệu tham khảo, khóa luận chia làm ba chương với nội dung chủ yếu sau:
Chương 1 : Haruki Murakami và truyện ngắn Nhật Bản hiện đại
Chương 2 : Nghệ thuật xây dựng thời gian, không gian và một số mô típ
nghệ thuật trong truyện ngắn của Haruki Murakami
Chương 3 : Nghệ thuật kể chuyện và xây dựng nhân vật trong truyện ngắn
của Haruki Murakami
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
HARUKI MURAKAMI VÀ TRUYỆN NGẮN NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI
1.1. Haruki Murakami - Một hiện tượng văn học đặc sắc
1.1.1. Haruki Murakami - Một con người tài năng
Tính từ thị trường sách Việt Nam thịnh hành văn học Nga Xô Viết những
năm 1980 cho tới sự lên ngôi của các tác giả đoạt giải thưởng Nobel văn chương
trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, chưa bao giờ người
yêu văn chương nước ta lại đón nhận nồng nhiệt một số lượng sách xuất bản lớn
đến thế của một tác giả Châu Á là Haruki Murakami như trong các năm gần đây.
Haruki Murakami là một trong những tác giả nổi tiếng của văn học đương
đại Nhật Bản, đồng thời là ứng cử viên sáng giá cho giải thưởng Nobel văn
chương sắp tới. Ông sinh ngày 12 tháng 01 năm 1949, tại Kyoto - cố đô của
Nhật Bản, nhưng trưởng thành ở Kobe - một thành phố cảng xinh đẹp, và hiện
nay đang sống ở Boston, Mỹ. Cha ông là con của một thầy tu Phật giáo, mẹ ông
là con gái của một thương gia ở Osaka. Cả hai đều dạy môn văn học Nhật Bản.
Từ nhỏ, Murakami đã chịu ảnh hưởng văn hóa Phương Tây, đặc biệt là âm nhạc
và văn học. Sở dĩ như vậy, bởi vì khi đó Nhật Bản đang ở thời kỳ phát triển
nhất, đồng thời cũng là giai đoạn văn hóa Phương Tây du nhập mạnh mẽ vào
Nhật Bản. Ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa Phương Tây, đồng thời lại được tiếp
xúc với văn hoá truyền thống Nhật Bản đã làm thành “chất văn Murakami”, và
đó cũng là đặc điểm giúp mọi người phân biệt ông với các nhà văn Nhật Bản
khác. Các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cho rằng: Văn học Nhật Bản
và những gì đang diễn ra ở đó”.
Haruki Murakami không những là người hiện đại, ở con người ông còn có
một lối sống lành mạnh. Ông làm việc và chơi thể thao như mọi người. Trang
phục là quần bò và áo phông. Phong cách ấy giúp nhà văn Murakami dễ dàng
hoà nhập và thấu hiểu cuộc sống của giới trẻ, đối tượng phản ánh và cũng là độc
giả chủ yếu trong các tác phẩm của ông. Haruki Murakami xây dựng một thế
giới nghệ thuật phong phú và đa dạng. Cảm giác cô độc, tình dục và những khát
khao cá nhân được giải phóng trong văn của ông đã cuốn hút được những độc
giả khó tính ở xứ sở sương mù. Sự kết hợp bút pháp Phương Đông với Phương
Tây là phong cách đặc sắc của ông tạo nên sự hài hoà, uyển chuyển, hành văn
không khó hiểu, nặng về câu chữ, ngữ nghĩa như các nhà văn Nhật Bản khác.
Các nhân vật của ông tự do kể về cuộc hành trình cuộc đời của mình, về sự cô
đơn và lối thoát trong những giấc mộng, thực ảo lẫn lộn. Nói cách khác, ông
6
dám nói thật lòng mình, không né tránh như nhiều nhà văn khác về hiện thực xã
hội Nhật Bản đương đại. Haruki Murakami là một trong những nhà văn hiện đại
kiệt xuất của Nhật Bản.
1.1.2. Haruki Murakami - Con đường sáng tạo nghệ thuật
Từ điển Bách khoa Columbia năm 2001 ghi rằng: “Haruki Murakami là
một trong những tiểu thuyết gia thế kỷ XX quan trọng nhất của Nhật Bản”. Đề
cập đến thời đại lắm bão tố hiện nay, Matsudo Tetsuo của Nhật báo Yomiuri có
số in lớn nhất ở Nhật viết: “Trong bất cứ trận bão lớn nào cũng có những nhà
văn giương cao ngọn đèn soi cho quần chúng. Haruki Murakami đang và sẽ lãnh
vai trò đó”. Báo The Guardian viết: “Không có nhiều tác giả cùng thời mà tác
phẩm lôi cuốn được giới độc giả trẻ trực tiếp đến như thế, không chỉ trong nước
ông mà trên khắp thế giới”.
Haruki Murakami bắt đầu sự nghiệp cầm bút từ năm 1978 (tức năm 29
tuổi). Ông nói rằng, ông đột ngột nảy ra ý tưởng viết bộ tiêu thuyết đầu tay của
mình (Lắng nghe gió hát – 1987) khi đang xem một trận bóng chày. Ngay trong
tác phẩm đầu tay, ông đã dành được sự ủng hộ của bạn đọc. Lắng nghe gió hát
những trang văn ấy, người đọc sững sốt trước bức tranh xã hội Nhật Bản mà
Murakami vẽ nên. Đến năm 1999, sự xuất hiện của Người tình Sputnik cũng gây
được tiếng vang lớn khi lần đầu tiên Murakami đề cập đến vấn đề tình yêu đồng
giới. Năm 2002, Murakami tiếp tục cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Kafka bên bờ
biển, ngay trong tháng phát hành đầu tiên (tháng 9.2002) đã bán được sáu vạn
bản. Giải O’ Conner đã giành cho tuyển tập truyện ngắn được dịch sang tiếng
Anh (Cây liễu mù và người đàn bà ngủ, 2006), tập truyện ông viết rải rác từ năm
1984 - 2005. Gần đây nhất Murakami đã xuất bản một hợp tuyển có tên Những
câu chuyện sinh nhật. Năm 2006, ông đã trở thành nhà văn thứ sáu nhận giải
thưởng Franz Kafka của Cộng hoà Séc cho tác phẩm Kafka bên bờ biển. Từ đó
đến nay ở Việt Nam cũng xuất hiện năm tập truyện ngắn của Murakami do
Phạm Vũ Thịnh dịch: Đom đóm, Ngày đẹp trời để xem kangaroo, Sau cơn động
đất, Bóng ma ở Lexington, Người Ti-Vi.
Điều đặc biệt là một số tác phẩm của ông được các nhà viết kịch và đạo
diễn chuyển thể thành phim. Truyện ngắn Tony Takitani của Murakami được
nhà đạo diễn Jun Ichikawa chuyển thành kịch bản cho bộ phim dài 75 phút. Bộ
phim được chiếu ở nhiều liên hoan phim và được phát hành tại New York và
Los Angeles vào ngày 29/7/2005. Tác phẩm được chuyển thể sang sân khấu
năm 2003 với vở kịch có tên Con voi biến mất, đồng hợp tác giữa công ty
Complicite của Anh và sân khấu công cộng Setagaya của Nhật. Vào năm 2007,
Robert Logevall đã chuyển một phần Tất cả những đứa con của chúa trời biết
nhảy thành một bộ phim.
8
Sức sống và vẻ đẹp trong tác phẩm của Murakami đã tạo thành một món ăn
lạ với độc giả không chỉ ở trong nước mà còn nhiều nước khác trên thế giới.
Mặc dù có nhiều ý kiến khen chê khác nhau, nhưng tựu chung lại Murakami là
một nhà văn hiện đại ăn khách và sáng giá nhất hiện nay của Nhật Bản. Ông đã
tạo cho mình được sự nghiệp và một số lượng lớn độc giả nhất định, yêu thích
và luôn chờ đón những tác phẩm của ông. Một sự nghiệp văn chương thành
công đã khẳng định được tài năng của Haruki Murakami. Ông cũng được coi là
Nhật Bản còn được biết dưới cái tên “xứ sở hoa anh đào”, Nhật Bản - đất nước
mang một vẻ đẹp cuốn rủ bởi những đường cong của các quốc đảo. Núi Phú Sĩ
tuyệt đẹp, tượng trưng cho sự hiên ngang ở đất nước Nhật Bản.
Nhật Bản luôn đặt sự phát triển của lịch sử và văn hoá trong sự tương tác
và gắn bó mật thiết với môi trường văn hoá khu vực. Những ảnh hưởng và giao
lưu văn hoá đó luôn diễn ra một cách đa chiều. Văn hoá Nhật Bản vừa tiếp nhận
nhiều thành tựu tiêu biểu của văn hoá khu vực, vừa tạo cho mình những đặc tính
riêng. Tuy nhiên, du nhập văn hoá mà không có sự chọn lọc thì hậu quả sẽ rất
khó lường. Lối sống hiện đại Phương Tây du nhập vào Nhật Bản đã tác động
mạnh đến tầng lớp thanh niên.
Đi đôi với nền kinh tế thị trường ngày càng hiện đại thì đời sống tinh thần
của con người cũng thay đổi theo. Bên cạnh các nét đẹp truyền thống văn hoá
như trà đạo, tinh thần võ sĩ đạo…thì nhu cầu văn chương của người Nhật cũng
được quan tâm. Tiếp xúc với văn học Nhật Bản, độc giả như lạc vào một lâu đài.
Đó là sự đa dạng của phong cách, sự phong phú về thể loại và cách thức thể hiện
tác phẩm.
1.2.2. Truyện ngắn Nhật Bản hiện đại
Do tính cấp thiết của thời đại và nhu cầu thưởng thức của độc giả, truyện
ngắn xuất hiện với tần số ngày càng nhiều. Cùng trào lưu ấy, các nhà văn nhập
cuộc viết những điều trông thấy và tìm thấy trong mỗi con người nỗi cô đơn và
tự ý thức riêng. Bằng những cách viết khác nhau họ đã tạo nên những tác phẩm
ăn sâu vào tâm hồn độc giả.
Truyện ngắn, cùng với tiểu thuyết là cái đã làm nên diện mạo của văn học
Nhật Bản hiện đại. Từ thời Meiji đến nay, hầu hết các tác giả lớn đều sở trường
cả hai loại. Do ảnh hưởng của Maupasant vào những năm 1890 (cùng với việc
giới thiệu và phiên dịch văn chương Âu Tây), mà truyện ngắn hiện đại bắt đầu
phát triển ở Nhật Bản. Cây bút tiên phong là nhà văn Mori Ogai, từ Đức trở về
năm 1888, với những hoạt động văn hoá đã đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá
truyện ngắn. Những biến động của thiên nhiên và lịch sử đã gây ảnh hưởng lớn
đến văn chương. Đó là những trận động đất, sự thảm bại của Nhật vào năm
Giờ đây hàng loạt kiệt tác của ông ra đời: Xứ tuyết, Trang điểm, Tiếng rền của
núi…cũng được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Nhà văn nữ chiếm được giải
Akutagawa là Shibaki Yoshiko (1914 – 1991). Bà nổi tiếng với loạt truyện ngắn
viết về đời sống của các cô quán rượu và gái điếm…Truyện ngắn của Mishima
Yukio (1925 – 1970) cũng rất độc đáo.
Trong khi hiện đại hoá đất nước, người Nhật không để mất bản sắc mà còn
thể hiện một bản lĩnh nghìn đời của dân tộc. Qua nhiều khó khăn vất vả, chặng
11
đường thể nghiệm văn chương của Nhật Bản đã tìm ra tiếng nói của mình và bắt
đầu hoà nhập vào văn học thế giới. Đi từ hoài nghi thất vọng (Akutagawa)
những niềm tin với hồn thiêng núi sông (Kawabata), những cuồng vọng quá đà
(Mishima) tới một chủ nghĩa nhân bản quốc tế (Abe Kobo, Oe Kezaburo), truyện
ngắn Nhật Bản đã thực sự góp tiếng nói chung trên diễn đàn văn học thế giới.
Bên cạnh các nhà văn nổi tiếng cả tiểu thuyết và truyện ngắn, còn có những
nhà văn được bạn đọc ưa thích, đó là: Banana Yoshimoto (Thằn lằn, Giấc mộng
kim chi, Tân hôn…)… Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỷ XXI, một hiện
tượng văn học cũng gây xôn xao trong giới hâm mộ văn chương, đó là nhà văn
Haruki Murakami. Không chỉ siêu sao trong lĩnh vực tiểu thuyết, mà ngay trong
thể loại truyện ngắn, giọng văn độc đáo của ông cũng thu hút sự quan tâm rộng rãi
của giới nghiên cứu phê bình và độc giả.
Haruki Murakami là một nhà văn dường như phản kháng lại văn hoá truyền
thống Nhật Bản. Ông viết theo lối hậu hiện đại không thuộc một trường văn hoá
nào. Hay chính xác hơn là một trường văn hoá duy nhất - nền văn hoá tiêu dùng
đang chiếm lĩnh toàn cầu. Bất cứ người nào cũng sẽ thấy mình hiện diện trong
tác phẩm của Murakami. Truyện ngắn của ông có cách viết mới lạ, đậm chất
huyền ảo. Nhưng đằng sau sự kì ảo đó là một sự kỳ diệu, một vẻ đẹp của sự
chân thực. Khảo sát qua năm tập truyện ngắn của ông, phần nào bạn đọc sẽ thấu
hiểu dụng ý nghệ thuật mà Murakami đã phản ánh trong nội dung của tác phẩm:
Đom đóm, Ngày đẹp trời để xem Kangaroo, Sau cơn động đất, Bóng ma ở
Lexington, Người Ti-Vi.
ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác…, tạo nên nhịp
điệu trong tác phẩm. Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên
trong của hình tượng nghệ thuật. Khi nào ngòi bút của người nghệ sĩ chạy theo
13
diễn biến của sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết
thì thời gian trôi chậm lại” [10, tr.322].
Trong thế giới nghệ thuật truyện ngắn của Haruki Murakami có sự phối
hợp của nhiều yếu tố thời gian. Trong năm tập truyện ngắn: Đom đóm, Ngày đẹp
trời để xem Kangaroo, Sau cơn động đất, Bóng ma ở Lexington, Người Ti-Vi…,
xuất hiện nhiều loại thời gian như: thời gian đồng hiện, thời gian kì ảo, thời gian
hồi ức, thời gian sinh hoạt đời thường, thời gian tâm lý, thời gian thực tại…
Nhưng ở đây, chúng tôi tập trung đi vào tìm hiểu ba kiểu loại thời gian chủ yếu,
đó là thời gian kì ảo, thời gian sinh hoạt đời thường, thời gian tâm lý.
2.1.1.1. Thời gian kì ảo
Trong tác phẩm văn học hậu hiện đại, thời gian luôn chiếm một ưu thế
quan trọng, nhất là các kiểu thời gian phi logic, kì ảo. Bởi nó có khả năng
chuyển tải dụng ý nghệ thuật cao hơn. Bên cạnh kiểu thời gian hiện thực với
những sự kiện xảy ra theo logic thực tại, còn có kiểu thời gian kì ảo hoặc thời
gian siêu thực. Là một người rất có ý thức trong sự nghiệp cầm bút, Haruki
Murakami đã sử dụng yếu tố thời gian kì ảo làm phương tiện nghệ thuật phản
ánh nội dung của tác phẩm rất thành công, đồng thời đem lại cho độc giả những
cái nhìn mới về bản ngã. Dòng thời gian kì ảo luôn đan xen trong cuộc sống đời
thường của các nhân vật trong truyện ngắn. Có lúc gián tiếp hoặc có lúc trực tiếp
tác động đến diễn biến sự kiện trong tác phẩm. Cái ảo hoà quyện trong dòng thời
gian quá khứ, hiện tại, tương lai. Cái ảo được xây dựng như bức tranh muôn
màu. Điều này chứng tỏ tài năng tưởng tượng, hư cấu phong phú của nhà văn.
Truyện ngắn của Haruki Murakami thu hút giới độc giả không chỉ vì nội
dung hấp dẫn, mà còn bởi hàng trăm điều kì ảo. Ranh giới giữa thực và ảo rất
mong manh. Sự đan cài giữa thời gian quá khứ và hiện tại tạo nên một thế giới
đa chiều kích, đa màu sắc. Sống ở thời điểm hiện thực nhưng không thực, nhân
mình cũng làm cho con người cô đơn, sợ hãi. Thời gian ảo ấy ám ảnh nhân vật
“tôi” đến mức không dám dùng gương soi để cạo râu. Có những khoảng thời
gian gây cho người đọc cảm giác “rợn tóc gáy” nhưng đó không phải là do ma
quỷ mà chỉ là điều khó tin trong cuộc sống. Chìm trong thế giới cô đơn, buồn
chán, con người hay tưởng tượng ra cảnh tượng không thực: “Họ là ma. Đám
người ngồi trong phòng khách, nghe nhạc và tán gẫu, vui vẻ, hoà nhã với nhau
kia không phải là người thực Cho đến tận bây giờ tôi mới nhận ra điều kì quặc
thật hoàn toàn lố bịch khi nghĩ rằng có ai đó đột nhập vào nhà và tổ chức đánh
chén” [16, tr.139]. Tuy nhiên thế giới không thực ấy lại tác động mạnh đến cuộc
sống của con người. Bởi ở đấy họ tìm thấy sợi dây liên kết con người lại với
nhau.
Thời gian trong mỗi câu chuyện mang những yếu tố riêng không dễ nắm
bắt được. Thời gian hoang đường, khó hiểu: “Dù sao thì lần ấy tôi cũng bị nhốt
15
trong xe taxi trên con đường đang kẹt xe. Mưa thu rơi thành tiếng lộp độp trên
mui xe. Mỗi lần máy đếm tiền trên xe taxi tăng số lại nghe xạch một tiếng như
tiếng đạn bắn qua từ miệng loa súng săn đâm xuyên qua não tôi” [4, tr.45]. Ở
Chuyện quái đản trong thư viện, thời gian tồn tại nửa thực nửa hư. Khoảng thời
gian dưới căn hầm thư viện ấy xẩy ra như một giấc mơ. Nhân vật “tôi” sống
giữa hai thế giới nhập nhằng vào nhau. Ảo có trong thực và thực có trong ảo.
Ông già trông coi phòng sách trong một góc sâu, đưa nhân vật “tôi” giam cầm
vào một căm hầm có nhiều tầng bậc và cảm giác nhiệt độ khác nhau. Thời gian
đặt ra là một tháng, anh ta phải đọc thuộc ba cuốn sách: “Cuốn lịch sử thu thuế
Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật ký thu thuế Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ, rồi cuốn Phong
trào chống thuế trong đế quốc Ottoman - Thổ Nhĩ Kỳ” [4, tr.182]. Nếu không sẽ
bị hút não óc rồn rột ra hết. “Lần giở các trang sách, tôi thấy mình biến thành
quan thu thuế Ibn Hamad Hashur (thật ra tên còn dài nữa kia), thắt lưng đeo
gương bán nguyệt, rảo bước trên phố Baghdad để thu thuế cho nhà nước. Mùi
gà, thuốc lá, cà-phê quánh đặc lại như dòng sông ngưng đọng trên đường. Hàng
trái cây bầy bán những thứ trái cây tôi chưa hề thấy bao giờ” [4, tr.199]. “Ngồi
Ranh giới thời gian thực và ảo bị phá vỡ, nhân vật trong truyện ngắn của
Murakami sống trong thời gian của mình mà như lạc giữa cuộc đời của kẻ khác,
tồn tại giữa một thế giới thực mà như lang thang đâu đó giữa thời gian phi thực:
“Kể lại như thế này thì cảm thấy như đang nói chuyện gì xẩy ra trong cuộc đời
người khác” [8, tr.90].
Trong truyện ngắn của Haruki Murakami có lúc ta bắt gặp ông đếm từng
nhịp đập của thời gian thực tại: “Nôn mửa và cú điện thoại ấy vẫn tiếp tục như
thế. Trọng lượng thân thể tôi suy giảm thấy rõ. Anh chờ cho tí…À, đây rồi…
Trọng lượng ngày 4 tháng 6 đã là 64 kg. Đến 21 tháng 6 còn 61 kg, rồi ngày 10
tháng 7 chỉ còn 58 kg thôi đấy. So với chiều cao của tôi thì con số ấy như giả tạo
ấy” [8, tr.235]. Murakami để cho nhân vật ngồi đếm từng bước đi thời gian một
cách cụ thể, rõ ràng. Thời gian luân hồi theo quỹ đạo, hết hạ lại sang thu… Cô
đơn, không tìm được lối thoát ở hiện tại, con người quay sang tìm đến một cỗ
máy thời gian ảo. Đó cũng là sự giải thoát cô đơn, nhàm chán. Đồng thời tạo
dựng cho mình một niềm tin vào cuộc sống. Katagiri chìm vào giấc mộng cùng
Cậu Ếch cứu Tokyo. Cuộc sống thực nhàm chán, anh muốn có một cái gì mới lạ.
Lạc trong thời gian siêu thực: “Tim anh đang thong thả đập đúng quy tắc nhịp
điệu của cuộc sống. Anh không hiểu phần nào là sự thật đã xảy ra, mà phần nào
là ảo tưởng. Có phải Cậu Ếch có thật, đã đánh nhau với Cậu Trùn và đã chận
đứng được trận động đất. Hay tất cả chỉ là giấc mộng dài giữa ban ngày” [6,
tr.168]. Chỉ có trong thời gian ảo, một số phận bé nhỏ như Katagiri và Cậu Ếch
mới tự do nhận ra chân lý đúng sai mà thế giới thực tại tạo ra. Tự quyết định giải
cứu trận động đất ở Tokyo. Lấy bối cảnh sự kiện trận động đất ở Kobe, bằng
17
cách đưa giả thuyết ảo, nhà văn Haruki Murakami như muốn được quay ngược
thời gian để làm ngưng lại thảm hoạ địa chấn này.
Thời gian cứ chuyển động như không có sự hiện diện của con người. Con
người không còn cảm giác gì với thời gian thực tại. Bởi thời gian thực tại cứ
trầm lặng đến kỳ lạ: “Đã 7 giờ tối. Bóng đêm xanh thẫm và mùi cần sa ngào
ngạt bao trùm căn phòng. Bóng tối chênh vênh kỳ lạ”. [7, tr.72 – 73]. Thời gian
trụi, ngay cả khi ông miêu tả sex, về những con người và đời sống thường nhật,
nhưng không theo chủ nghĩa hiện thực chúng ta vẫn hiểu mà theo lăng kính chủ
nghĩa siêu thực (thực và ảo lẫn lộn). Chuẩn mực của xã hội Nhật Bản truyền
thống đã và đang chết. Lý tưởng thanh niên Nhật, thanh niên Mỹ hiện nay, khi
xã hội bước sang giai đoạn thịnh vượng, khi toàn cầu hoá diễn ra trong mọi lĩnh
vực đang bị khủng hoảng. Những sinh hoạt ấy thể hiện trong tình yêu gắn với
tình dục, hay là sự hấp dẫn của nhục thể giữa những người đối diện với nhau.
Những sự việc hằng ngày đang diễn ra liên tục theo một lịch trình lập sẵn.
Thời gian sinh hoạt của các nhân vật trong truyện ngắn của Murakami chủ
yếu là giới trẻ, những sinh hoạt nhàm chán của các đôi vợ chồng trẻ, những
chàng và nàng thanh niên cô đơn, hoặc là những sinh viên sống trong kí túc xá,
với những nội quy nghiêm ngặt được thực hiện bởi những người quản lý khó
tính. Nhân vật “tôi” trong Đom đóm, mười tám tuổi bước vào đại học, ở trong
một cư xá nằm ở đất cao của phường Bunkyo. Sống trong khoảng thời gian mà
ngày ngày cứ lặp đi lặp lại những sự việc ấy: “Chỉ biết là từ mùa xuân 1967 cho
đến mùa thu năm sau, tôi đã sinh sống trong cư xá ấy. Từ góc độ sinh hoạt
thường ngày mà nhìn thì có hữu khuynh hay tả khuynh, nguỵ thiện hay nguỵ ác
gì gì đi nữa, cũng chẳng là bao nhiêu” [7, tr.19]. Sáng 6 giờ kéo cờ, chiều tối thì
có nghi lễ hạ kỳ. Chỉ riêng nhân vật “tôi” thắc mắc, chẳng ai chú ý cả. Sống
cùng phòng với anh là một anh chàng thanh niên cứ động đến hai chữ địa đồ là
lắp ba lắp bắp, mà lại nuôi chí vào làm trong Viện Địa lý Quốc gia. Cuộc sống
của anh bị xáo trộn bởi anh chàng ấy: “Mỗi buổi sáng, cứ đúng 6 giờ là nó thức
dậy, quốc ca thay cho đồng hồ báo thức…Thế rồi nó thay quần áo, ra nhà vệ
sinh đánh răng rửa mặt…Về lại phòng là vuốt cho thẳng cái khăn mặt, treo
thẳng thớm lên móc áo. Bót đánh răng và xà phòng trả ngay ngắn vào ngăn kéo.
Xong rồi nó mở máy nghe đài, bắt đầu tập thể dục theo đài” [7, tr.24]. “Cứ thế,
tuổi mười tám của tôi cũng qua đi. Mặt trời lên, mặt trời lặn, quốc kì lên, quốc kì
xuống. Chủ nhật thì hẹn hò với người yêu bạn mình đã chết” [6, tr.39]. “Vẫn
như trước là tôi lại ngồi trên ghế hành lang hàng giờ” [7, tr.47]. Qua bao tháng
ngày thói quen đó vẫn diễn ra, dù ở tình trạng vô thức. Một chu trình đều đặn
một bức tranh hiện thực về đời sống, sinh hoạt của một thế hệ trẻ thanh niên
Nhật Bản lúc bấy giờ. Người Nhật đang từng bước tiếp nhận lối sống mới, chịu
ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Phương Tây, đặc biệt là lối sống Mỹ. Lối sống
ấy làm cho họ thay đổi cách nhìn nhận về một xã hội truyền thống. Họ thích ứng
nhanh với lối sống Mỹ, một lối sống mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Tiếp thu
nhịp sống mới đã tạo nên những cá nhân độc lập, thỏa mãn khát vọng vì mục
đích lý tưởng của mình. Một ngày nghỉ cuối tuần, cũng là nơi tập trung bao điều
20
kỳ lạ, khiến cho con người mất cảm giác vào thực tại: “Tôi vốn ưa thời khắc
chạng vạng tối chủ nhật” [8, tr.15]. “Thế là suốt buổi chiều tôi nằm chường trên
ghế dài, một mình lơ tơ mơ. Chẳng có việc gì làm cả” [8, tr.19]. Ăn sáng đi làm
và lại về nhà vào lúc chiều tối, tắm giặt lại ăn và ngủ. Chuỗi thời gian sinh hoạt
vô vị, cô đơn nhưng đó là sự sống của con người. Như có một nhà triết học nào
đó đã từng nói: “Tôi suy nghĩ nghĩa là tôi tồn tại”. Con người vận động chứng tỏ
con người là một hình thể của vũ trụ.
Hành trình cuộc đời của con người là một vòng tròn khép kín: Sinh – Lão-
Bệnh - Tử. Dù người thường hay người khác thường đều có thời gian sinh hoạt
giống nhau. Kano Creta là một cô gái khác người thường. Hễ đàn ông thấy cô là
muốn cưỡng hiếp: “Bất cứ người đàn ông nào cũng thế, hễ thấy em là đè ngay
xuống sàn, và cởi thắt lưng ra” [8, tr.93]. Nhưng công việc hàng ngày của cô vẫn
diễn ra đều đặn: “Công việc của em là gìn giữ nước ấy cẩn thận. Có chút bụi rơi
vào thì vớt ra; mùa đông phải giữ cho nước đừng đóng băng; mùa hè giữ cho
nước không bị côn trùng rơi vào” [8, tr.92]. Chuyện trong nhà là câu chuyện về
thời gian anh trai và em gái chung sống dưới một mái nhà trọ. Hai anh em bắt
đầu sống từ mùa xuân người anh 22 tuổi, em gái 18 tuổi. Thời gian sinh hoạt của
hai anh em chênh lệch nhau: “Tôi làm việc trong bộ môn quảng cáo cho một
hãng chế máy móc điện nên buổi sáng đi làm tương đối trễ, và buổi tối về nhà
trễ. Em tôi thì sáng đi học sớm, khoảng chiều là về đến nhà rồi” [7, tr.228]. Khi
người em vào đại học thì mô thức sinh hoạt của hai anh em có thay đổi: “Em đi
làm nghiêm túc, từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, còn sinh hoạt của tôi thì lè phè
ngắn Haruki Murakami là như thế.
Xã hội Nhật Bản hiện đại là một xã hội lắm bão tố phong ba, và trong cái
xã hội đó con người đang từng ngày, từng giờ phải sống trong nỗi cô đơn, cảm
giác bất an. Chính cái xã hội phức tạp, cạnh tranh gay gắt đó đang biến thể xác
và tinh thần con người trở thành những cái máy chỉ biết làm việc và làm việc mà
thôi. Cuộc chạy đua của sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội đã nhào nặn nên
những nhu cầu về tinh thần của con người được lập trình sẵn, và con người chỉ
có thực hiện theo mà thôi. Sống trong thời gian sinh hoạt đời thường luẩn quẩn, con
người bị bó hẹp, đầy đủ tiện nghi nhưng cô đơn, lạc lõng giữa thế giới sôi động.
2.1.1.3. Thời gian tâm lý
Văn xuôi hậu hiện đại thường mang dấu ấn phủ định lại những gì thuộc
hiện đại. Để tiếp cận hiện thực và đối tượng được phản ánh, các nhà văn thường
sử dụng những thuật ngữ như mã kép, đảo lộn trật tự thời gian, thời gian tâm lý,
lắp ghép…, đó cũng là cách làm nên phong cách riêng của người nghệ sĩ.
Thông qua dòng thời gian siêu thực, trôi theo dòng hồi ức của các nhân vật,
các truyện ngắn của Murakami mang nhiều tầng nghĩa nhân bản và tầng nghĩa
của sự quy ước xã hội Nhật Bản. Yếu tố thời gian phụ thuộc, chi phối bởi dòng ý
22
thức và tâm trạng của nhân vật trong tác phẩm. Đan xen giữa quá khứ, hiện tại
và tương lai làm cho thị giác và hồi ức của nhân vật được dung hợp. Người thứ
bảy là câu chuyện của nhân vật “tôi” ám ảnh về cơn sóng thần gần bốn mươi
năm trời. Đó là khoảng thời gian cơn sóng thần cuốn trôi đi người bạn thân thiết
nhất: “Vào một chiều tháng chín, năm tôi lên mười tuổi, ngọn sóng đó suýt nữa
kết liễu cuộc đời tôi” [16, tr.69]. “ Nhưng thay vì vậy, nó đã tháo sạch phần tinh
tuý nhất của tôi để trút vào một thế giới khác. Phải mất nhiều năm sau tôi mới
hoàn toàn bình phục. Phải mất bao nhiêu thời gian quý báu của đời tôi” [16,
tr.69]. Thời gian cuộc sống đời thường của mọi người cứ diễn ra liên tục, riêng
của anh, thời gian như lắng đọng sống trong ám ảnh về thời gian tuổi ấu thơ, nơi
đó đau thương và cú sốc tâm lý đã đánh gục ngã anh. Sau khi cơn sóng thần
cướp đi người bạn, người anh em tốt, nhân vật “tôi” luôn sống trong tâm trạng
có khác đi: “Chúng ta lao động, kiếm tiền, đọc sách mình thích, bỏ phiếu bầu cử,
đi xem đá bóng, ngủ với đàn bà…, mỗi một thao tác như thế đâu có vận hành
độc lập với nhau, mà kết cuộc, chỉ là những tên gọi khác nhau của cùng một
thực thể mà thôi” [8, tr.241]. Con người là tổng hoà các mối quan hệ, nên không
vì một cái này mà ta dễ dàng vứt bỏ cái bên cạnh được. Trong thực tại này,
những gì liên quan đến cuộc sống của con người đều gắn kết chặt chẽ với nhau,
không tách rời.
Đa số lượng thời gian tâm lý của nhân vật trong truyện ngắn của Haruki
Murakami thường gắn liền với một sự ám ảnh, một nỗi buồn, hoặc một hành
động diễn ra trong quá khứ. Là những con người bất bình thường, là những sinh
linh cô độc khép mình trước thế giới, tự dựng nên những hàng rào tâm lý, tự
buộc mình cách li với cộng đồng. Nhìn bên ngoài thì cuộc sống của họ chẳng có
gì không ổn, nhưng bên trong vẫn thiếu cái gì đó: “Đến khi đồng hồ chỉ 11 giờ
đêm, ngay cả tôi cũng đâm ra sợ. Em đã nói liên tục như thế hơn bốn giờ đồng
hồ” [7, tr.43]. “Tảng sáng, mưa ngừng…Trầm mặc lại chiếm trọn em như dạo
trước” [7, tr.45]. Ám ảnh với cái chết của người bạn trai mãi mãi tuổi mười bảy
đã tạo nên tâm trạng trầm mặc của cô gái. Mỗi người ra đi đều để lại sự mất mát
và nỗi đau không thể diễn tả bằng lời cho những người đang sống. Sau cái chết
của K, nhân vật “tôi” trong Người thứ bảy không ý thức được mình đang sống
trong thời đại nào, anh không dám ngủ với cô gái nào vì sợ đánh thức họ giữa
đêm khuya bởi những cơn ác mộng. Cũng giống như người anh họ trong tác
phẩm Cây liễu mù và cô gái ngủ, một thời khắc đi qua là gắn liền với tâm trạng
buồn vui, nuối tiếc, bất an, cô đơn…Trong khoảng năm năm hai anh em không
gặp nhau đã tạo nên một khoảng cách, cách nói chuyện như có một bức màn
ngăn cách: “Trong khoảng năm năm ấy, nó từ 9 tuổi đã lên 14 tuổi, và tôi cũng
đã từ 20 lên 25 tuổi rồi. Khoảng trống thời gian ấy đã tạo ra giữa chúng tôi bức
màn ngăn trong suốt khó mà xuyên thấu” [7, tr.120]. Sau những lời đối thoại với
24
người em, kí ức lại hiện về với người anh: “Mùa xuân năm ấy đã có nhiều
chuyện xảy ra. Chia tay với bạn gái, tổ mẫu mất vì ung thư đường ruột” [7,
Như vậy, thông qua thời gian tâm lý, nhà văn đã xây dựng thành công
những nhân vật của mình. Thời gian phản ánh tâm trạng của nhân vật. Dù ở thời
25