sự tương đồng và dị biệt giữa gánh hàng hoa và đời mưa gió của nhất linh và khái hưng - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRÌ THỊ YẾN NHI
MSSV: 6106417
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT
GIỮA GÁNH HÀNG HOA VÀ ĐỜI MƯA GIÓ
CỦA NHẤT LINH VÀ KHÁI HƯNG Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV. NGUYỄN THỊ KIỀU OANH Cần Thơ, năm 2013
CHƯƠNG 3: SỰ DỊ BIỆT TRONG GÁNH HÀNG HOA VÀ ĐỜI MƯA
GIÓ
3.1 Về đề tài
3.1.1 Gánh hàng hoa – Đề cao hạnh phúc gia đình
3.1.2 Đời mưa gió – Đề cao hạnh phúc cá nhân tuyệt đối
3.2 Về tư tưởng
3.2.1 Gánh hàng hoa – Sự dung hòa giữa cái cũ với cái mới
3.2.2 Đời mưa gió – Sự đấu tranh mang tính bế tắc
3.3 Kết thúc tác phẩm
C. KẾT LUẬN
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, các
nhà nghiên cứu dựa trên sự khác biệt về khuynh hướng nghệ thuật đã phân chia văn
học Việt Nam giai đoạn này thành ba xu hướng, chúng tồn tại và phát triển song song
với nhau. Trong đó, dòng văn học lãng mạn là một trong những dòng chủ lưu và phát
triển rực rỡ nhất. Tiêu biểu cho dòng văn học này là những sáng tác của phong trào
Thơ mới và những sáng tác văn xuôi của Tự lực văn đoàn.
Tự lực văn đoàn là một tổ chức văn phái tuy ít người, nhưng các thành viên của
tổ chức đều là những người có tài, họ có cùng chí hướng và say mê sự nghiệp văn
chương. Trong số đó, Nhất Linh và Khái Hưng là hai gương mặt tiêu biểu, cũng là hai
cây bút trụ cột của nhóm. Hơn nữa, Nhất Linh và Khái Hưng còn là đôi bạn tri âm tri

Khái Hưng và các sáng tác của hai ông được đăng trên các báo: Sông Hương, Thời
thế, Ngày nay, Phụ nữ tân văn… Và các công trình nghiên cứu như: Dưới mắt tôi
(1939) của Trương Chính, Nhà văn hiện đại, tập II (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt
Nam văn học sử yếu (1945) của Dương Quảng Hàm.
Trong quyển Văn học sử yếu Việt Nam, Dương Quảng Hàm đã có nhận xét về
nghệ thuật tả người và tả cảnh của Khái Hưng như sau: “Ông Khái Hưng có một cách
tả người, tả cảnh tuy xác thực mà có một vẻ nhẹ nhàng thanh tú, khiến cho người đọc
thấy cảm” [9; tr.57]. Cùng nhận xét về Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan có viết: “Đọc tiểu
thuyết của Khái Hưng, người ta nhận thấy lúc đầu ông là một tiểu thuyết về lý tưởng,
dần dần ngã về phong tục là loại ông có nhiều đặc sắc nhất, rồi khi viết đến Hạnh,
ông bắt đầu khuynh hướng về tâm lý, cũng như Nhất Linh khi viết đến tập Bướm
trắng vậy” [16; tr.168].
Đó là những nhận xét về Khái Hưng. Còn về Nhất Linh, trong quyển Nhà văn
hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã có nhận xét về ông như sau: “Ông không phải là một nhà
tiểu thuyết xã hội như người ta nhận lầm; ông là một tiểu thuyết gia muốn trừ bỏ cái
xấu xa trong gia đình và trong xã hội, và bất kỳ giai cấp nào, chứ không phải chỉ
hạng thợ thuyền và dân quê, ông là một nhà văn viết về những tục xấu của người Việt
Nam và có cái tư tưởng khuyến khích người ta sửa đổi” [16; tr.233].
Trong quyển Văn học Việt Nam 1930 – 1945, Phan Cự Đệ đã nhận xét về Nhất
Linh – Khái Hưng và cuốn tiểu thuyết Đời mưa gió như sau: “Khái Hưng và Nhất
Linh đặt người ta vào một cái thế đối lập giữa hai cực đoan. Hoặc là người ta chịu

3

sống như những kẻ nô lệ, như những “con lợn không có tư tưởng”, sống mà không có
hạnh phúc cá nhân. Hoặc là người ta sẽ biến thành một kẻ phóng đãng và trác táng,
sống hoàn toàn theo tự do cá nhân, theo tiếng gọi quyến rũ của “đời mưa gió”. Đó là
một sự đối lập giả tạo vì thực tế cả hai loại người (Bìm và Lạch) đều là nạn nhân của
cái xã hội coi khinh đàn bà, xem sắc đẹp là một hàng hóa. Cuộc đời của một gái điếm,
dù là điếm thượng lưu như Tuyết trong Đời mưa gió thì cũng đầy ô nhục chứ có thi vị

công của tiểu thuyết Gánh hàng hoa.
Trong khoảng trên dưới mười năm hoạt động, Tự lực văn đoàn nói chung cũng
như Nhất Linh và Khái Hưng nói riêng, họ đã có công lớn trong việc đổi mới nền văn
học, góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền văn học Việt Nam hiện đại.
Nhìn chung, chúng ta có thể đồng tình với ý kiến đánh giá của nhà thơ Huy Cận trong
cuộc hội thảo về Tự lực văn đoàn ngày 27 – 5 – 1989 tại Khoa Ngữ Văn, trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội: “Ta đã có đủ thời gian để đánh giá sự đóng góp của Tự lực
văn đoàn. Có thể nói Tự lực văn đoàn đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam. Họ
có hoài bão về văn hóa dân tộc. Họ có điều kiện nhưng không thích con đường làm
quan, làm giàu mà đi vào chuyện văn chương. Đáng phê phán nhất ở Tự lực văn đoàn
cũng như ở Khái Hưng, Nhất Linh là ở chặng cuối đời. Nhưng cũng đừng vì lăng kính
đó mà đánh giá sai họ. Lúc đầu họ có lòng yêu nước thực sự nhưng chọn nhầm đường
và cuối cùng là phản động… Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp lớn vào nghệ
thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn
của dân tộc, với lối văn trong sáng và rất Việt Nam” [5; tr.556].
Nhìn chung, tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng được đánh giá, khảo sát ở
từng tác phẩm cụ thể, nhưng vấn đề Sự tương đồng và dị biệt giữa Gánh hàng hoa và
Đời mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng vẫn chưa được một công trình nào nghiên
cứu hoàn chỉnh. Cho nên, việc nghiên cứu về sự tương đồng và dị biệt giữa hai tiểu
thuyết Gánh hàng hoa và Đời mưa gió là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa, vì nó
đề cập đến một trong những phương diện quan trọng trong việc đánh giá những đóng
góp của hai nhà văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Khi tìm hiểu vấn đề Sự tương đồng và dị biệt giữa Gánh hàng hoa và Đời
mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng, người viết mong muốn đạt được những mục
đích như sau:
Đầu tiên, người viết mong muốn mang đến cho người đọc một cái nhìn bao
quát về cuộc đời sự nghiệp, cũng như con người của hai nhà văn.
Tiếp theo, nghiên cứu và chỉ ra được sự tương đồng và dị biệt giữa Gánh hàng
hoa và Đời mưa gió. Đặc biệt, thông qua sự nghiên cứu về những điểm tương đồng

Phương pháp hệ thống: Chúng tôi đặt tiểu thuyết Gánh hàng hoa và tiểu
thuyết Đời mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của
hai ông. Để từ đó có thêm căn cứ cho việc tìm hiểu một cách toàn diện về hai tác

6

phẩm từ đề tài Sự tương đồng và dị biệt giữa Gánh hàng hoa và Đời mưa gió của
Nhất Linh – Khái Hưng.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng kết hợp các phương
pháp trên với các thao tác như: phân tích, chứng minh… để làm sáng tỏ vấn đề.

7

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Tình hình văn học Việt Nam 1930 – 1945
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có thể tạm chia thành ba thời kỳ:
Thời kỳ 1930 – 1935, thời kỳ 1936 – 1939, thời kỳ 1940 – 1945. Nhưng các thời kỳ
văn học này không phải lúc nào cũng gắn liền với các thời kỳ chính trị. Tuy nhiên,
trong 15 năm trước cách mạng tháng Tám, các thời kỳ văn học và các thời kỳ chính trị
lại rất ăn khớp với nhau. Năm 1930 là năm thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Đó
cũng là năm xuất hiện phong trào thơ văn Xô viết Nghệ – Tĩnh, mở đầu dòng văn học
vô sản. Và các khuynh hướng lãng mạn, hiện thực phê phán, được chuẩn bị từ trước,
sau năm 1930 cũng phát triển thành dòng văn học độc lập. Từ năm 1929 – 1931,
Nguyễn Công Hoan đã khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trong thể loại
truyện ngắn: Răng con chó nhà tư sản, Oẳn tà rằn, Thật là phúc, Ngựa người và
người ngựa.
Trong hai năm 1930 – 1931, Ngô Tất Tố đã viết ra những tác phẩm văn học nổi
tiếng đăng trên các tờ báo Phổ thông, Đông Phương với bút danh Thiết khẩu Nhi,
Thục Điểu… Năm 1931 cũng là năm tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng ra đời,

tiếng Pháp, vận động tranh cử vào Hội đồng thành phố và Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ
năm 1935. Từ ngày 1 – 1 – 1935, trước sự đấu tranh của dư luận trong nước và ở
Pháp, thực dân Pháp phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí tiếng Việt ở Trung Kỳ và
Bắc Kỳ. Cho nên trên mặt trận báo chí cũng có sự chuyển hướng rõ rệt, một số đảng
viên cộng sản đã viết bài và gửi đăng trên các tờ báo có khuynh hướng tiến bộ như:
Đời mới, Hồn trẻ, Kiến văn.
Những hoạt động công khai và bán công khai của Đảng trong phong trào Đông
Dương đại hội và Mặt trận Dân chủ, sự xuất hiện của hàng chục tờ báo, nhà xuất bản,
hiệu sách chuyên giới thiệu chủ nghĩa Mác – Lênin, giới thiệu văn học cách mạng,
nhằm giác ngộ và giáo dục tinh thần đấu tranh cho quần chúng… đã mở ra một thời
kỳ mới cho văn học. Đây là thời kỳ văn học cách mạng và văn học hiện thực phê phán
phát triển tới đỉnh cao của nó. Văn học cách mạng đã có sự chuyển biến về chất và có
những tác giả tiêu biểu như: Tố Hữu, Hải Triều, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu…
Văn học cách mạng không chỉ có thơ mà còn có tiểu thuyết, truyện ký và lý luận phê
bình.
Thời kỳ Mặt trận Dân chủ cũng được đánh dấu bằng những tác phẩm hiện thực
xã hội chủ nghĩa đầu tiên của dòng thơ ca cách mạng. Hàng loạt cuốn tiểu thuyết có
giá trị ra đời và lần đầu tiên văn học hiện thực phê phán xây dựng được những tính
cách điển hình và hoàn cảnh điển hình trong tiểu thuyết (chị Dậu trong Tắt đèn, Nghị

9

Hách trong Giông tố, Xuân tóc đỏ trong Số đỏ…). Văn học lãng mạn trực tiếp hay
gián tiếp cũng đã chịu sự tác động của phong trào và có những phân hóa theo hướng
tiến bộ. Năm 1937, Tự lực văn đoàn đã trao giải thưởng văn học cho những tác phẩm
hiện thực như: Bỉ vỏ của Nguyên hồng, Kim Tiền của Vi Huyền Đắc và sau đó cho
đăng trên báo Ngày nay những tiểu thuyết như: Con trâu, Sau lũy tre, Những ngày thơ
ấu. Một số nhà văn có khuynh hướng thiên về hiện thực và mang đậm màu sắc dân tộc
(Gió đầu mùa của Thạch Lam, Con trâu của Trần Tiêu, Lầm Than của Lan Khai).
Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, chính phủ Pháp bắt đầu thi hành chính sách

cộng sản đã liên tục chiến đấu trong các nhà nhà tù và trại tập trung của đế quốc. Còn
Vũ Trọng Phụng vừa bênh vực thơ Tố Hữu, vừa lấy tài liệu của Trần Huy Liệu để viết
Người tù được tha, vừa đi lại với nhóm các nhà báo cộng sản ở tòa soạn Tin tức vừa
chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của tư tưởng trốtkít.
Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đức Cảnh, Khái Hưng một thời kỳ đã là bạn bè
quen biết. Khái Hưng là bạn của Nguyễn Công Hoan từ thuở nhỏ. Ngày bác của
Nguyễn Công Hoan làm Tri phủ Thái Ninh có nuôi Nguyễn Đức Cảnh – con một ông
bạn nghèo là Nguyễn Đức Tiết. Sau ông bác của Nguyễn Công Hoan đổi lên Đoan
Hùng, mới gửi Nguyễn Đức Cảnh lại nhà cha của Khái Hưng, người bạn đồng khoa,
lúc ấy là Tuần phủ Thái Bình. Sau này ba người bạn mỗi người một hướng. Nguyễn
Đức Cảnh trở thành Ủy viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương, người lãnh
đạo phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh, bị thực dân kết án tử hình. Khái Hưng ra Ninh
Giang làm đại lý dầu hỏa, sau trở thành nhà văn lãng mạn, trụ cột của Tự lực văn
đoàn. Còn Nguyễn Công Hoan trở thành một ông giáo viết văn, một người bạn đường
của giai cấp công nhân thời kỳ Mặt trận Dân chủ. Nhưng trong những tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan người ta cũng nhận thấy những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng
mạn như tác phẩm Tắt lửa lòng và những quan điểm cải lương phong kiến như: Cô
giáo Minh, Thanh đạm.
Thị trường văn học chịu sự chi phối của các ông chủ xuất bản, thị hiếu thẩm
mỹ của công chúng cũng ảnh hưởng đến tính chất phức tạp và mâu thuẫn trong thế
giới quan của các nhà văn tiểu tư sản trí thức.
Trong xã hội thực dân phong kiến thì trên thị trường, văn học được xem là một
thứ hàng hóa. Có những nhà văn, nhà báo chân chính nhưng cũng có những con buôn
văn học. Có người mở báo vì hám lợi, hiếu danh, có người mở báo rồi cho thuê hoặc
đem giấy báo bán chợ đen kiếm lời. Lại có những thi quán, thư điếm quái gở: Ông chủ
vừa làm đại lý sách, vừa viết sách xuất bản và khi thua lỗ thì kiêm thêm nghề chữa
bệnh lậu, bệnh tiêm la. Cho nên có những cái tên như: Nhật Nam thư quán dược
phòng, Hương Hát thư điếm dược phòng. Quảng cáo thuốc lậu Hồng Khê, thuốc lậu
Lê Huy Phách đăng rất trang trọng trên báo Ngày nay và có khi được đăng chen vào


Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,
Và nhìn chúng mình hì hục viết,
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết,

12

Mà thương cho tôi, thương cho anh,
Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!”.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 bị chi phối bởi hệ tư tưởng thống trị,
tức là hệ tư tưởng tư sản (nó bao gồm cả hệ tư tưởng thực dân) và hệ tư tưởng phong
kiến. Tất nhiên chính sách văn hóa chỉ huy của thực dân Pháp và phát xít Nhật cũng
không kiểm soát được đến mức tuyệt đối thị trường văn hóa “tự do”. Mặt khác, văn
học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của những phong
trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhất là thời kỳ Mặt trận Dân chủ. Tác
động của văn học nước ngoài đến các khuynh hướng văn học thời kỳ này cũng rất đa
dạng và phức tạp. Thế giới quan của các nhà văn tiểu tư sản trí thức lại đầy mâu thuẫn
và quá trình sáng tác của họ không phải lúc nào cũng thuần nhất. Chính những điều
kiện nói trên đã làm xuất hiện trên đàn văn học công khai nhiều khuynh hướng, nhiều
phong cách đa dạng, phức tạp và luôn luôn dao động, chuyển hóa. Không thấy hết tính
chất phức tạp, mâu thuẫn và luôn luôn biến động của nó, chúng ta sẽ dễ đi vào những
lối phê bình, nghiên cứu đơn giản, cứng nhắc hoặc chủ quan. Mặt khác, trong cái hỗn
độn và phức tạp đó, chúng ta phải khẳng định được những dòng chủ lưu của nền văn
học, khuynh hướng chủ lưu của mỗi tác giả, những phong cách và tác phẩm có giá trị,
vừa đóng góp vào kho tàng văn học dân tộc, vừa chuẩn bị những điều kiện cho sự
hình thành nền văn học cách mạng sau cách mạng tháng Tám.
1.2 Đôi nét về tác giả và tác phẩm
1.2.1 Về tác giả
1.2.1.1 Nhất Linh
Nhất Linh (1905 – 1963), tên thật là Nguyễn Tường Tam, quê gốc ở Quảng
Nam, sinh tại phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải

Nho phong và Người quay tơ, đến hàng loạt các tác phẩm theo khuynh hướng lãng
mạn, nêu cao chủ nghĩa cá nhân tư sản từng lôi cuốn mạnh mẽ tầng lớp thanh niên trí
thức thời bấy giờ. Nhiều tiểu thuyết của Nhất Linh mang tính luận đề (Đoạn tuyệt,
Lạnh lùng), tấn công quyết liệt vào lễ giáo phong kiến khắc nghiệt, lên tiếng bênh vực
cho quyền tự do yêu đương, xóa bỏ chế độ đại gia đình phong kiến, giải phóng cá
nhân đã đáp ứng yêu cầu xã hội có ý nghĩa tiến bộ trong những năm bấy giờ. Bên cạnh
chủ đề này, Nhất Linh còn sáng tác nhiều tác phẩm đề xướng chủ nghĩa cải lương tư
sản. Ông miêu tả cuộc sống tối tăm, nghèo khổ của những hạng người bình dân, nhất
là dân quê và quy mọi nguyên nhân của sự nghèo khổ ấy là ở sự ngu dốt, vô học của
họ. Vì thế, con đường để xã hội tươi sáng hơn, theo chủ trương của Nhất Linh, là phải

14

đem sự học, đem ánh sáng văn minh soi rọi cho đời sống dân quê, phải cần hạng thanh
niên trí thức giàu có về vật chất và cả về tình thương, ra tay cứu vớt cho dân quê.
Các sáng tác của Nhất Linh trong thời kỳ Tự lực văn đoàn hoạt động, phần nào
có ý nghĩa tiến bộ và chứng tỏ tính nhạy cảm của ông với thời thế. Song giải phóng cá
nhân trong lĩnh vực hôn nhân và cuộc sống gia đình tách khỏi công cuộc giải phóng
dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi ách thực dân phong kiến, nêu lên chủ trương cải
cách xã hội trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa thì chỉ là những ảo tưởng. Vì vậy,
các sáng tác này dễ đánh lạc hướng đấu tranh của thanh niên đương thời ra khỏi nhiệm
vụ cách mạng.
Những sáng tác của Nhất Linh thời kỳ sau này khi vào Nam ở dưới chế độ Mỹ
– Diệm không được nhiều người để ý tới (trừ Xóm cầu mới) vì nội dung và nghệ thuật
đã không theo kịp thời đại. Tập tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết cũng không có gì sâu
sắc và ít gây được tiếng vang.
Sẽ rất thiếu sót nếu như không nhắc đến đóng góp của Nhất Linh trên lĩnh vực
nghệ thuật tiểu thuyết. Nhiều cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh có tính hiện đại khá cao
trong cách kết cấu, trong lối diễn tả các trạng thái tâm lý phức tạp, tinh vi của các
nhân vật, trong lời văn và ngôn ngữ… Nhất Linh cũng như các thành viên của Tự lực

biệt là tiểu thuyết, đã hấp dẫn nhiều tầng lớp thanh niên trí thức, đã làm thổn thức cõi
lòng bao phụ nữ vào hạng “có học” đương thời đang khao khát tự do yêu đương,
thường sống với tình yêu trong cõi mộng. Cái tình yêu trắc trở mà đầy ảo mộng dưới
bóng từ bi Phật tổ trong Hồn bướm mơ tiên, cuộc xung đột gay gắt với lễ giáo phong
kiến để giành lấy quyền sống tự do, để bảo vệ quyền sống tự do, để bảo vệ hạnh phúc
cá nhân trong Nửa chừng xuân, những hàng động phiêu lưu anh hùng của tầng lớp
thanh niên quý tộc muốn chống lại thời cuộc trong Tiêu sơn tráng sĩ… là những câu
chuyện lôi cuốn mạnh mẽ công chúng thành thị, nhất là lớp thanh niên nam nữ lúc bấy
giờ.
Một số tác phẩm của Khái Hưng có giá trị hiện thực, chứng tỏ sự quan sát sắc
sảo khi đi vào miêu tả sinh hoạt của giới quan lại, phê phán lễ giáo của đại gia đình
phong kiến. Ông tỏ ra am hiểu khá tường tận lớp người này và tỏ thái độ dứt khoát,
triệt để. Đến với Nửa chừng xuân, người đọc cảm mến, trân trọng nhân vật Mai bao
nhiêu thì lại căm ghét, khinh miệt nhân vật bà Án bấy nhiêu. Dù còn một số hạn chế
(nhất là cách xây dựng nhân vật Lộc), nhưng cuốn tiểu thuyết này đã chứng tỏ một lập
trường tiến bộ, một trình độ diễn tả tâm lý vững vàng. Những đóng góp, ưu điểm và
những hạn chế, sai lầm trong sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng phản ánh chỗ
mạnh, chỗ yếu của văn chương Tự lực văn đoàn. Bên cạnh tư tưởng tiến bộ trước vấn
đề xung đột mới và cũ, một số tác phẩm của ông lại minh họa cho chủ nghĩa cải lương

16

đậm mùi tư sản, đầy tính chất ảo tưởng, không tán thành giải quyết mâu thuẫn giai cấp
đối kháng bằng bạo lực cách mạng. Một số tác phẩm khác của ông lại bộc lộ nhân
sinh quan chủ nghĩa cá nhân ích kỷ (Đời mưa gió, Đẹp). Cuốn tiểu thuyết Thanh đức
của Khái Hưng cũng như cuốn tiểu thuyết Bướm trắng của Nhất Linh thể hiện bước
phát triển cao về nghệ thuật miêu tả tâm lý nhưng chứng tỏ sự bế tắc, cùng đường của
Tự lực văn đoàn khi đi vào ca ngợi, nhấm nháp lối sống vô luân, đồi bại, chạy theo thú
vui xác thịt.
Khái Hưng còn là nhà văn có óc quan sát và tài miêu tả về sinh hoạt, phong tục,

Thành Chung. Bạn bè Minh cùng nhau mở tiệc ăn mừng, vì không biết uống rượu nên
dù uống rất ít nhưng Minh đã bị say và bị ngã đập mặt vào càng xe. Sau vụ tai nạn,
tuy được Liên và Văn hết lòng chạy chữa thuốc men nhưng mắt Minh vẫn bị mù. Ban
đầu Minh còn khóc lóc thảm thiết, thậm chí còn không muốn sống. Liên và Văn phải
nhờ một ông lang đến để động viên chàng và hứa sẽ chữa khỏi bệnh. Vì không muốn
làm phiền vợ và bạn, Minh đành chấp nhận số phận. Từ khi bị mù, Minh thấy mặc
cảm nên sinh ra cáu gắt, lại có tính hay ghen, chàng nghi ngờ Văn có tình ý với vợ
mình vì thấy Văn thường tới lui chăm sóc cho chàng. Nhưng với sự chăm sóc tận tình
của Liên, Minh lại nảy ra ý định hy sinh để Liên có thể tìm được hạnh phúc mới. Văn
biết chuyện đã đến động viên và đưa bác sĩ đến khám mắt cho chàng. Bác sĩ bảo rằng
Minh chỉ mắc bệnh thông manh, không chữa cũng khỏi, mổ thì sẽ khỏi ngay. Từ đó
Minh phấn chấn hẳn và nghĩ rằng mình nên làm việc gì đó có ích cho mọi người, nhất
là cho vợ chàng. Chàng bắt đầu viết truyện đăng báo, Liên là người giúp chàng ghi
bản thảo, ký tên là Minh Liên. Chờ mãi không thấy truyện của mình được đăng báo,
để chàng không phải thất vọng, Liên đã phải nói dối truyện của Minh được đăng báo,
rồi nàng lấy bản thảo ra đọc cho Minh nghe. Văn biết chuyện đã đến tòa soạn để xin
họ đăng truyện của Minh. Truyện của Minh cuối cùng đã được đăng, bài viết “Những
giấc mộng của người mù” đã gây được tiếng vang.
Sau ba tháng viết báo, Minh đã kiếm đủ tiền để mổ mắt. Từ khi mắt chàng nhìn
thấy, chàng lại say mê nhan sắc của Nhung – một cô gái giang hồ có vẻ đẹp lộng lẫy,
là người rất hâm mộ truyện của chàng. Bị say đắm trước sắc đẹp của Nhung, Minh trở
thành tình nhân của nàng. Liên vô cùng đau khổ. Cảm thông cho tình cảnh của Liên,
Văn đã khuyên nàng nên thay đổi trang phục và cách trang điểm theo lối tân thời. Vì
bây giờ trong mắt Minh, Liên chỉ là một cô gái quê mùa, nhan sắc đã tàn phai sau
những năm tháng vất vả, hy sinh cho chồng. Liên đã làm theo lời Văn, nhưng tâm trí
của Minh bây giờ chỉ có Nhung, nên đối với Liên thì Minh lạnh lùng, lãnh đạm. Liên
trở lại là mình khi xưa, với chiếc áo tứ thân, hàng ngày gánh hoa đi bán. Một lần khi

18


Tuyết cũng đã thôi không bàn đến hôn nhân giữa Chương với cháu gái của ông nữa.
Chương đã rất tức giận định đuổi Tuyết ra khỏi nhà nhưng Tuyết vẫn giữ thái độ thản

19

nhiên như không hề biết chuyện gì đã xảy ra. Rồi Chương yêu Tuyết lúc nào không
hay. Cũng có lúc chàng suy nghĩ về mối tình của mình với Tuyết nhưng tâm trí chàng
như đã bị Tuyết mê hoặc rồi, chàng không kịp nghĩ ngợi gì nữa, cứ để mặc ái tình lôi
kéo chàng. Tuyết tỏ ra mình là một cô gái đáng yêu biết chiều chuộng tình nhân
nhưng nàng lại không muốn gắn chặt cuộc đời mình với kẻ khác, bởi nàng yêu thích
sự tự do, phóng túng. Nên Tuyết đã đột ngột ra đi, đi tìm những thay đổi trong tình
cảm giữa lúc Chương với nàng đang rất hạnh phúc, khiến cho Chương vô cùng thương
nhớ nàng. Mấy hôm sau, nhớ Chương Tuyết lại trở về và nàng đã rất cảm động khi
nhận thấy được tình cảm mà Chương đã dành cho nàng qua những dòng nhật ký và kỷ
vật của nàng mà Chương gìn giữ. Tuyết đã viết thư cho Chương kể hết về cuộc đời
của mình, bày tỏ tình cảm với Chương và nói lời chia tay. Nhưng nàng vẫn tiếp tục
đến nhà Chương vào những lúc chàng vắng nhà. Chương đã tìm cách để được gặp lại
Tuyết, hai người lại cùng nhau sống vui vẻ. Chương ra sức chiều chuộng Tuyết để giữ
chân nàng, chàng đưa Tuyết đi nghỉ mát ở Đồ Sơn. Ở đó Tuyết gặp Văn – người tình
cũ của nàng, những kỷ niệm ngày xưa lại ùa về, Tuyết lại ra đi theo lối sống tự do của
nàng. Tuyết đã viết thư kêu Chương đừng tìm nàng, bởi nàng không thể làm vợ và
làm vật sở hữu của bất cứ ai. Bức thư khiến Chương hết sức đau buồn, Chương định
chuyển nhà để quên những kỷ niệm với Tuyết. Hai tuần sau, Tuyết lại quay về,
Chương tưởng mình đã cảm hóa được Tuyết và đưa nàng vào khuôn khổ gia đình.
Trong một lần cùng Chương về ấp Khương Thượng, quang cảnh chốn thôn quê đã gợi
cho Tuyết nhớ về tình cảnh êm đềm với những kỷ niệm thời thiếu nữ. Nhưng khi
Chương ngỏ ý gắn bó với Tuyết thì nàng lại từ chối, nàng cho rằng chỉ cần hai người
yêu nhau là đủ. Nhiều lúc, Tuyết đã sống trong những mâu thuẫn nội tâm, nàng nuối
tiếc những ngày tháng xa xưa, nhớ con, nàng mong muốn có một cuộc sống gia đình
giản dị nhưng cuộc sống phóng đãng cứ mãi lôi kéo nàng vào những vòng xoáy của

Thế giới tình yêu trong hai tác phẩm được miêu tả rất lãng mạn. Gánh hàng
hoa với những cảm giác ngây ngất, đê mê, thần tiên, là thế giới trần tục đầy hương
thơm và ánh sáng: “Dưới ánh đèn dầu, hai người nhìn nhau cười. Hạnh phúc của đôi
vợ chồng trẻ êm đềm lặng lẽ biết bao!” [15; tr.13], “Hai vợ chồng yêu nhau, nhiều khi
không có chuyện gì nói, hỏi nhau những câu vơ vẩn không đâu. Nào chuyện bán hoa,
nào chuyện xảy ra hàng ngày. Có khi không biết nói câu gì, hai người ngắm nhau
cười. Trong các gia đình niên thiếu, sự yên lặng thường là biểu hiện sự lạc thú nồng
nàn, tuyệt đích” [15; tr.13]. Liên và Minh, họ yêu nhau, luôn lo lắng và quan tâm
chăm sóc cho nhau. Những cử chỉ, hành động và lời nói của họ dành cho nhau rất lãng
mạn. Minh cảm thấy chua xót khi cầm tay vợ, chàng thở dài và nói: “Đấy em coi, em
mới mười tám tuổi đầu mà hai bàn tay em đã đầy những chai, anh lấy làm thẹn lắm.
Làm đàn ông mà không bằng một người đàn bà” [15; tr.12]. Còn Liên, hạnh phúc đối
với nàng chỉ nhỏ nhoi thôi, miễn sao chồng Liên sung sướng là Liên cũng đã cảm thấy
hạnh phúc rồi, điều này Liên đã nói với Minh: “Mình học nhiều, biết rộng. Chứ em thì
hễ thấy mình sung sướng là em cũng sung sướng” [15; tr.14]. Đúng là không có hạnh
phúc nào bằng hạnh phúc của Liên và Minh, chồng thì thương vợ còn vợ thì một mực
chiều chồng. Đứng trước hạnh phúc của Minh và Liên, Văn đã phải thốt lên: “Còn gì
sung sướng bằng có một nếp nhà tranh không rộng rãi nhưng mát mẻ, trong nếp nhà
tranh có một người vợ dịu dàng, xinh đẹp, đáng yêu, đáng kính. Trời ơi! Thực là một

22

cái tổ uyên ương đầy hoa, mộng, đầy ánh sáng. Chiều chiều, vợ chồng kề vai nhau ra
ngồi chơi ngoài vườn ngắm cảnh, nhìn trăm hoa đua nở và nghe chim muông ca hát
trên cành. Trời ơi! Còn hạnh phúc nào hơn hạnh phúc của anh?” [15; tr.18].
Tình yêu của Tuyết và Chương cũng vậy, Tuyết cũng giống như Liên là một
người phụ nữ biết chiều lòng người yêu. Nhưng Tuyết lại khác Liên, vì Tuyết là một
cô gái mới và Tuyết yêu theo cách riêng của mình. Trò đùa vô tình của Tuyết đã làm
cháy lại trái tim băng giá của Chương. Bởi Chương từng nghĩ rằng: “Có lẽ thất vọng
một lần về tình ái nên trái tim chàng đã rắn lại không thể hồi hộp được nữa vì những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status