Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------------ TRIỆU THỊ PHƯỢNG SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
VỀ NỘI DUNG GIỮA TRUYỆN THƠ TÀY
VÀ TRUYỆN THƠ THÁI
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
H
O
O
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
G
G
Ữ
ỮV
V
Ă
Ă
N
N
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
VỀ NỘI DUNG GIỮA TRUYỆN THƠ TÀY
VÀ TRUYỆN THƠ THÁI Chuyên ngành: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
Mã số: 60 22 34
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
N
C
CN
N
G
G
Ữ
ỮV
V
Ă
Ă
N
N
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐỨC NGÔN
cổ đại đầu tiên và hùng mạnh nhất ở vùng Đông Nam Á, nhất là từ khi bắt đầu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
xây dựng nhà nước phong kiến sau công nguyên. Do đó, nghiên cứu tiến trình
phát triển của văn học dân gian Việt Nam đương nhiên không thể tách rời việc
nghiên cứu văn học dân gian của hai dân tộc Tày và Thái.
Nói đến nền văn học dân gian dân tộc Tày và Thái, không thể không nói
đến truyện thơ, đây là một thể loại phổ biến và tiêu biểu ở nhiều dân tộc, được
nhân dân các dân tộc yêu thích trong đó có dân tộc Tày và Thái. Khi nghiên
cứu văn học dân gian Tày và Thái, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu so
sánh là cần thiết để đi tìm những mặt tương đồng và khác biệt trong kho tàng
truyện thơ các dân tộc để làm sáng tỏ thêm tính thống nhất trong đa dạng của
nền văn hoá, văn học dân gian Việt Nam. Đây cũng là việc làm cần thiết để
tăng cường tinh thần đoàn kết, gắn bó, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc.
Dân tộc Tày và dân tộc Thái, nhờ có hệ thống chữ Nôm, đã lưu truyền
được nhiều tác phẩm truyện thơ có giá trị cho tới ngày nay, đóng góp một
phần không nhỏ tạo nên diện mạo truyện thơ của các dân tộc thiểu số nói
chung. Truyện thơ của dân tộc Tày và dân tộc Thái gắn bó mật thiết với đời
sống tinh thần của người Tày và người Thái, là niềm tự hào của họ. Cho đến
nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quan tâm, nghiên cứu về
truyện thơ Tày và truyện thơ Thái. Tuy nhiên đó là những công trình nghiên
cứu riêng biệt. Trong khoa nghiên cứu văn học dân gian, chưa có những công
trình nghiên cứu so sánh giữa các dân tộc.
Đến với truyện thơ Tày và truyện thơ Thái, chúng tôi thực sự bị cuốn hút
bởi những vấn đề mà các tác phẩm văn học dân gian đó đặt ra, mặc dù nó dường
như rất cũ như trong các thể loại văn học dân gian khác cũng và đã thể hiện,
song nó cũng rất thân thuộc, gần gũi bởi những vấn đề có tính chất thời đại,
mang màu sắc dân tộc, gần gũi với đại chúng nhân dân... Bằng việc thực hiện đề
tài: “Sự tương đồng và khác biệt về nội dung giữa truyện thơ Tày và truyện
tộc... Đặc biệt là đề tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
của người phụ nữ trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến. Đó là khát
vọng dân chủ thiết tha, mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến
mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, được phản ánh vào
trong nền văn học truyền thống các dân tộc anh em” [43, tr.395-396].
Trên Tạp chí văn học năm 1997, số 7, Lê Trường Phát có bài viết “Về mô
hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc thiểu số” [45]. Tác giả nhận xét: Ở
truyện thơ Nôm của người Việt “mọi người hầu như đã nhất trí rằng phần lớn
cốt truyện của thể loại này được xây dựng theo mô hình “kết thúc có hâu” gồm
ba chặng: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ. Nói “phần lớn” bởi lẽ mô hình cốt
truyện này chỉ áp dụng với những tác phẩm mà đề tài chủ đạo là tình yêu đôi
lứa. Tuy nhiên, đây là đề tài chủ yếu, cơ bản của thể loại” [45, tr.52]. Ở truyện
thơ các dân tộc thiểu số, với 20 tác phẩm (của 5 dân tộc: Tày, Thái, Mường,
H’mông, Chăm) đã được dịch sang tiếng Việt tính đến năm 1997, Lê Trường
Phát nhận thấy loại tác phẩm thể hiện đề tài tình yêu có kết thúc bi kịch (kết
thúc không có hậu) chiếm số lượng áp đảo. Trong số 20 tác phẩm có tới 13 tác
phẩm thuộc kiểu kết thúc bi kịch. Ông khẳng định: Ở truyện thơ các dân tộc
thiểu số, “kiểu kết thúc bi kịch mới phổ biến và tiêu biểu” [45, tr.54]. Nhưng
“riêng ở nhóm truyện thơ Tày - Nùng, tình hình ngược lại: kiểu “kết thúc có
hậu” chiếm tỉ lệ lấn át” [45, tr.54]. Sở dĩ có hiện tượng này, “chính là do vai trò
tham gia sáng tạo tác phẩm của các Nho sĩ, thầy đồ người Việt miền xuôi lên;
họ mang theo ảnh hưởng của truyện Nôm Việt vào truyện thơ Tày - Nùng.
“Kết thúc có hậu” là một cách để dân gian tấn công (tất nhiên trong mơ ước)
vào lễ giáo phong kiến (mà thực chất là tín điều Nho giáo) trong lĩnh vực tình
yêu và hôn nhân” [45, tr.54]. Theo Lê Trường Phát, còn những dân tộc khác
như Thái, H’mông, Chăm, vai trò tham gia sáng tạo truyện thơ chủ yếu thuộc
về dân gian trí thức của chính các dân tộc đó, vai trò của các Nho sĩ miền xuôi
Lưu Đài - Hán Xuân, Kim Quế, Chim sáo, Trần Châu, Đính Quân, Quảng
Tân - Ngọc Lương, Vượt biển) trong bài “Mấy ý nghĩ về truyện thơ cổ Tày -
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Nùng”, viết giới thiệu cho hai tập Truyện thơ Tày - Nùng, xuất bản năm 1964,
do nhà thơ Nông Quốc Chấn giới thiệu [8]. Bài viết đã có những nhận xét quan
trọng về những nét đặc biệt trong nền văn học cổ điển Tày - Nùng, về hai nội
dung chính của tám truyện thơ trên (một là, tính cách anh hùng, chí khí dũng
cảm, tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ để vươn lên tới đích; hai là, thiết
tha với quyền sống con người lao động, yêu quý chính nghĩa và điều thiện, căm
thù phi nghĩa và tội ác, về những yếu tố tiêu cực (triết lý duy tâm không tưởng và
tính giai cấp mơ hồ). Ngoài ra bài viết còn có những nhận xét quan trọng về
hình thức nghệ thuật của truyện thơ như: Cách bố cục câu chuyện, bút pháp mô
tả, thể thơ và lời thơ.
Tác giả Lục Văn Pảo, năm 1992, trong Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3
đã có bài viết “Truyện Nôm Tày” [44]. Tác giả đã đưa ra những lý lẽ thuyết
phục rằng truyện thơ Tày là sản phẩm song trùng: Một mặt là sản phẩm của
một loại hình thức văn học dân tộc ra đời, song cũng là sản phẩm được sinh ra
bởi chữ Nôm. Không có chữ Nôm Tày thì không có truyện thơ Tày tồn tại
như ngày nay. Tác giả đã đưa ra một danh mục truyện thơ Nôm Tày được sưu
tầm trong nhiều năm, gồm có 47 truyện (trong đó có 39 truyện thuộc nhóm
truyện do người Tày sáng tác, 6 truyện bắt nguồn từ các truyện Nôm Kinh, 2
truyện có nguồn gốc từ truyện dân gian Trung Quốc). Quả thực, đây là số
lượng tác phẩm có quy mô đồ sộ mà ít dân tộc nào sánh được. Tuy nhiên danh
mục này, còn có thể tiếp tục bổ sung. Bài viết đã khẳng định: "Xét về nội
dung, những truyện thơ này phản ánh cuộc sống của người Tày khá phong
phú, đa dạng. Việc tìm hiểu tư tưởng xã hội người Tày trong lịch sử, nhất là
bộ phận phong tục tập quán, nếp sống đã qua thì kho tàng này dường như
chiếm địa vị độc tôn nếu không muốn nói là duy nhất...” [44, tr.20]. Hơn nữa,
tr.35-36]. Nhóm tác giả đã giới thiệu 5 truyện thơ rất phổ biến và được hâm
mộ trong dân tộc Tày, đó là Nàng Kim, Nàng Hán, Nàng Quyển, Nàng Ngọc
Long, Nàng Ngọc Dong và có những lời nhận xét, phân tích về nội dung, nghệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
thuật của 5 truyện thơ một cách xác đáng với tư cách là những người am hiểu
truyện thơ Nôm Tày. Sau đây là một vài lời nhận xét chung nhất cho 5 truyện
thơ này: “Qua 5 truyện thơ về các “Nàng”, ta dễ nhận thấy một điều là các
nhân vật nữ thuộc tuyến chính nghĩa đều là những người phúc hậu, người tốt,
hiền lành. Dù tác giả (khuyết danh, dân gian) có xây dựng các nàng có nguồn
gốc từ đâu, là người trần thế hay tiên nữ giáng trần, đều nhằm mục đích gây
được cảm tình từ đầu cho người đọc, người nghe kể” và “thông qua các nhân
vật “Nàng” truyện thơ ca ngợi tự do, nhất là tự do luyến ái, tự do hôn nhân...
Ở họ tình yêu nào cũng trong sáng thuỷ chung, tình phu thê nào cũng trọn
vẹn, tình mẫu tử nào cũng thiết tha sâu sắc... Họ là những người có đạo đức,
tôn trọng chính nghĩa, lễ nghĩa, tu nhân tích đức...” [3, tr.88-89].
Tiếp tục, trong công trình Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại năm 2004 [2],
Triều Ân có nói lại vài nét về truyện thơ Nôm và tác phẩm Thị Đan. Trong
phần truyện thơ Nôm Tày, tác giả nhắc lại thời điểm ra đời truyện thơ Tày,
phân loại nguồn gốc truyện thơ Nôm Tày cùng một vài đặc điểm nghệ thuật
truyện thơ Nôm Tày và giới thiệu ba thể loại với ba tác phẩm: Lượn cùng tác
phẩm “Hồng nhan tứ quý”; khúc hát then và tác phẩm “Khảm hải”; truyện thơ
Nôm và tác phẩm “Thị Đan”. Trong phần tác phẩm Thị Đan, Triều Ân đã kể
lại nội dung câu chuyện, cùng với những lời nhận xét về nhân vật, giá trị nội
dung của truyện: “Truyện thơ Nôm “Thị Đan” có tính nhân dân lại có tính
chiến đấu nữa. Tác phẩm đã nêu lên được quan niệm, ước vọng về luyến ái
theo nhân sinh quan của nhân gian. Truyện thơ mang nội dung tố cáo chế độ
phong kiến cũ hà khắc đã toả chiết tình cảm trai gái đồng thời mong muốn
một luyến ái tự do, một hôn nhân nhân đạo” [2, tr.40]. Tiếp đó, tác giả đưa ra
triển nâng cao, nhưng đây là thời điểm ý thức cá nhân về quyền sống đã trở
thành khát vọng cháy bỏng trong một thời đại phong kiến toả chiết mạnh mẽ.
Do đó, màu sắc lãng mạn nhạt dần để thay vào đó tính phản kháng quyết liệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
đến mức không còn kết thúc có hậu ở những truyện mang đậm bản sắc tộc
người” [63, tr.72]. Thời kì này là từ thế kỷ VXII trở đi [63, tr.114].
Thời kì thứ ba là thời kì “nở rộ khuynh hướng truyện thơ đề tài chính
nghĩa có cách kết thúc thiên về thuyết giáo đạo đức. Đây cũng là thời kì chữ
Nôm Tày đã hoàn chỉnh, thời kì giao lưu Tày - Kinh có tính đột biến và cũng
là thời kì bùng nổ đấu tranh giai cấp, cả cộng đồng Tày trực tiếp tham gia vào
làn sóng nông dân khởi nghĩa” [63, tr.72-73]. Ở thời kì này, truyện thơ Tày
“được mang một hình thức tồn tại mới: Thành văn. Người tiếp nhận truyện
thơ Tày đã có thể hưởng thụ bằng những cách thức khác nhau: đọc, ngâm, kể,
hát". Ở thời kì này, “truyện thơ Nôm Tày đã được hoàn thiện và thật sư trở
thành điểm nối giữa văn học dân gian với văn học thành văn” [63, tr.73]. Thời
kì này, theo tác giả, có lẽ bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII trở đi [63, tr.117].
Có thể thấy, chuyên khảo Truyện thơ Tày nguồn gốc, quá trình phát
triển và thi pháp thể loại của PGS.TS Vũ Anh Tuấn là một chuyên khảo có
giá trị khoa học, nghiên cứu một cách có hệ thống và công phu về truyện thơ
Tày. Truyện thơ của dân tộc Thái, dân tộc Mường cũng phong phú không
kém và cũng đã được công bố, sưu tầm không ít, nhưng cho đến nay giới
nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số nước ta chưa có được những
công trình tương tự về chúng như cuốn sách của PGS.TS Vũ Anh Tuấn.
2.3. Những công trình sưu tầm, nghiên cứu về truyện thơ Thái
Năm 1961, trong Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5, Mạc Phi có bài viết
Giá trị truyện thơ Xống chụ son sao (Tiễn dặn người yêu) của dân tộc Thái
[50]. Tác giả đã đưa ra những lời nhận xét rất có giá trị về mặt nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm. Trong phần nội dung, ông nhận xét truyện thơ Tiễn
Thái trong truyện thơ Khăm Panh - một truyện thơ dân gian dài hơn hai nghìn
câu kể về cuộc chiến đâu chống sự xâm chiếm của bọn phong kiến Hán và tôi
tớ của chúng. Bài viết đã giành nhiều đoạn để ca ngợi những tấm gương và sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
chiến đấu bền bỉ của dòng họ nhà Khăm Panh, đặc biệt tác giả cho rằng “bên
cạnh hình ảnh Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc, hình tượng nàng Mứn
là một hình tượng văn học rất đẹp trong kho tàng văn học dân gian của các
dân tộc Việt Nam” [33, tr.29]; và trong truyện “chúng ta bắt gặp các mô típ
của truyện dân gian Kinh và Mường tập trung trong truyện thơ dân gian Khăm
Panh của dân tộc Thái” cùng một lời khẳng định về sự giao lưu văn hoá giữa
các dân tộc qua biểu tượng “bông lau quả thiếc” đã từng xuất hiện trong
trường ca Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường và hình tượng nhân vật Khăm
Khoong vụt lớn như nhân vật Thánh Dóng của người Kinh: “Như vậy, từ xa
xưa các dân tộc anh em sống trên dải đất Việt Nam đã có sự giao lưu và tiếp
nối văn hoá lẫn nhau” [33, tr.30].
Trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4, năm 1991 Nguyễn Tấn Đắc có bài
viết Thử tìm hiểu nguồn gốc truyện U Thền của người Thái ở Việt Nam [17].
Bài viết đã đưa ra cách tiếp cận một truyện thơ Thái trong mối quan hệ khu
vực. Ông cho rằng, truyện thơ này là sự kết hợp giữa type truyện quỷ móc
mắt các bà hoàng hậu và type truyện người trần lấy vợ tiên. Sau khi so sánh
với các truyện cùng kiểu loại ở 5 nước Đông Nam Á, tác giả viết: “Qua một
số ít so sánh ở trên, có thể nêu nhận xét là tuy cùng tiếp nhận từ hai type
truyện của Ấn Độ, các bản của Lào, Campuchia, Thái Lan và Miến Điện đã
giữ gần nguyên vẹn vũ trụ văn hoá Ấn Độ và hệ thống type - tiết, môtip của
từng truyện, trong khi đó người Thái ở Việt Nam lại có xu hướng tước bỏ
nhiều yếu tố đặc trưng của vũ trụ và văn hoá Ấn Độ, và mức độ thay đổi một
số tiết và môtip cũng lớn hơn. Đơn giản là vì các nước Lào, Campuchia, Thái
Lan và Miến Điện đã tiếp nhận hai type truyện đó cùng với cả nền văn hoá
sống của người Thái xưa cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy, đó là cuộc
sống tồn tại trong xã hội tiền phong kiến với những hủ tục lạc hậu, “luật đời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
xơ” bất công, chỉ bêng vực tầng lớp trên (phìa tạo) còn dân chúng thì khổ cực,
bấp bênh... Cuộc sống phức tạp, đột biến không chỉ hiện hữu trên trần thế
(mường nọ, mường kia) mà còn hiện hữu trong cõi phi trần thế (mường trời)”
[16, tr.81]. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh “cuộc sống phức tạp trong Khun Lú -
nàng Ủa là do quan niệm của tác giả dân gian Thái muốn nhấn mạnh bản chất
xấu xa của xã hội Thái, đồng thời khẳng định chủ đề tình yêu chung thuỷ thì
dù ở đâu, cuộc sống nào đi nữa cũng vẫn bất diệt” [16, tr.81].
Trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm
2005 Góp phần tìm hiểu thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc
Thái của Nguyễn Ngọc Bảo [5]. Tác giả đã đi sâu vào phân tích một số khía
cạnh về mặt thi pháp của truyện thơ này, đó là quan niệm nghệ thuật về con
người trong Tiễn dặn người yêu, không gian tình yêu lưu lạc và thời gian tâm
trạng, và những yếu tố lời thơ nghệ thuật trong truyện thơ. Trong phần quan
niệm nghệ thuật về con người trong truyện thơ, tác giả cho rằng dựa vào mô
típ: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ “có thể khẳng định tác giả dân gian muốn thể
hiện sự chiến thắng và sự bất diệt của tình yêu chung thuỷ, tình yêu trắng trong,
và như vậy thì rõ ràng mục tiêu xây dựng cốt truyện và nhân vật là xây dựng
cho được hình tượng “con người tình yêu” [5, tr.23]. Không ai khác, “Anh yêu
và Em yêu chính là con người tình yêu” [5, tr.23], họ là những con người của
tình yêu thiết tha, say đắm mãnh liệt và chung thuỷ. “Trong kho tàng truyện thơ
Thái ít có truyện nào mà nhân vật có sức chịu đựng dẻo dai như trong Tiễn dặn
người yêu. Họ đối mặt với thực tế đáng tuyệt vọng, sống trong tuyệt vọng
những vẫn đau đáu một niềm tin, một tình yêu vĩnh cửu. Họ không tìm đến cái
chết để tự giải thoát mà họ kiên nhẫn chờ đợi, kiên nhẫn đấu tranh, kiên nhẫn
bảo vệ tình yêu dù chỉ còn là hết sức mong manh” [5, tr.32]. Không chỉ thế, họ
- Chỉ nghiên cứu một số tác phẩm tiêu biểu, không nghiên cứu toàn bộ
các tác phẩm trong kho tàng truyện thơ của hai dân tộc, cụ thể là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Truyện thơ dân tộc Tày, nghiên cứu ba tác phẩm: Truyện Thị Đan, Chiêu
Đức, Nàng Kim.
Truyện thơ dân tộc Thái, nghiên cứu ba tác phẩm: Khăm Panh, Tiễn dặn
người yêu, Chàng Lù - nàng Ủa.
Đây là những tác phẩm tiêu biểu bởi đã được công bố, dịch và xuất bản
từ rất sớm (sớm nhất trong kho tàng truyện thơ của các dân tộc thiểu số).
Trong đó, truyện thơ được công bố sớm nhất (vào năm 1957), nhiều lần nhất
và có nhiều bản dịch nhất là Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái. Về truyện
thơ này, khi bàn về văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Lê
Trường Phát đã viết: “Nếu cần một tác phẩm văn học cổ truyền để đặt lên nó
vòng nguyệt quế vinh quang thì không tác phẩm nào sánh được với Tiễn dặn
người yêu” [70, tr.239]. Những tác phẩm này được xây dựng trên cơ sở của xã
hội có giai cấp trước Cách mạng Tháng Tám 1945, là văn học dân gian đích
thực, mang tính nhân dân sâu sắc, thể hiện ý thức tư tưởng, quan niệm đạo
đức, ước mơ, khát vọng vươn lên của người Tày, Thái xưa.
Những truyện thơ trên, dân tộc Tày và dân tộc Thái rất yêu mến, say mê,
coi như niềm tự hào của dân tộc mình. Họ có thể hát, kể truyện thơ ở mọi nơi,
mọi lúc, “hát Tiễn dặn người yêu, gà ấp phải bỏ ổ, cô gái quên hái rau, anh đi
cày quên cày” [50, tr.48]. Dường như bất cứ người dân Tày, Thái nào cũng
tìm thấy trong truyện thơ những câu thơ thích hợp với tâm trạng mình.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và tƣ liệu khảo sát
+ Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu văn bản truyện thơ Tày, Thái trên cơ sở tài liệu đã được
sưu tầm, xuất bản.
- Điền dã để lấy thêm tư liệu dân tộc học liên quan đến truyện thơ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Chƣơng 1
SỰ TƢƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT VỀ ĐỀ TÀI, CHỦ ĐỀ
GIỮA TRUYỆN THƠ TÀY VÀ TRUYỆN THƠ THÁI
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, do vậy nền văn hoá Việt Nam cũng là
nền văn hoá đa dân tộc. Cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác, chúng ta có
một thể loại văn học hết sức độc đáo và rất đáng được chú ý nghiên cứu. Đó
là thể loại truyện thơ.
Nước ta có khoảng 54 dân tộc. Trong số đó, cho đến nay những dân tộc
có truyện thơ được công chúng rộng rãi biết đến không nhiều. Có dân tộc sớm
có chữ viết, do vậy truyện thơ, trên con đường lưu hành bằng miệng của quần
chúng tự thuở nào không rõ, đã sớm được ghi thành văn bản, như các dân tộc:
Việt, Thái, Tày, Nùng, Dao, Chăm, Khơ - me... Có những dân tộc mãi gần
đây mới có chữ viết (ở thời kì hiện đại), do vậy, truyện thơ vẫn chỉ lưu hành
trên cửa miệng dân gian, khi được ghi chép lại thì cũng bằng văn tự la tinh,
như các dân tộc Mường, H’mông... Trong truyện thơ của các dân tộc trên,
truyện thơ của hai dân tộc Tày và Thái ra đời sớm, được lưu truyền rộng rãi,
và nhiều người biết đến. Theo Lục Văn Pảo, kho tàng truyện thơ Tày có tất cả
47 tác phẩm [44, tr.18]. Truyện thơ Tày được giới thiệu lần đầu vào năm
1962, từ đó đến năm 2004, tất cả có 16 truyện thơ được công bố. Truyện
thơ Thái công bố sớm nhất vào năm 1957 với bản dịch Tiễn dặn người yêu.
Từ đó đến năm 2004 đã có 27 tác phẩm được công bố. Trong lịch sử 50 năm
sưu tầm và công bố, trong số tám dân tộc có truyện thơ xuất bản, ba dân tộc
có nhiều truyện thơ nhất là: Thái, Tày, Mường. Những truyện thơ Tày, Thái
như: Thị Đan, Quảng Tân - Ngọc Lương, Nàng Kim, Chim sáo, Chiêu Đức,
Vượt biển...; Tiễn dặn người yêu, Chàng Lù - nàng Ủa, Khăm Panh... là
1.1. Sự tương đồng về đề tài
Truyện thơ Tày và truyện thơ Thái chủ yếu khai thác từ nguồn văn học
dân gian của các dân tộc. Cũng có khi, có sự vay mượn cốt truyện của dân tộc
anh em gần gũi, như truyện thơ Chàng Lù - nàng Ủa mượn cốt truyện cổ dân
tộc Xá để xây dựng nên truyện thơ của dân tộc Thái; một số truyện thơ Tày:
Chiêu Đức, Nàng Kim, Chim sáo… được khai thác từ các “truyện cũ”, “tích
cũ” trong truyện cổ người Việt. Song về cơ bản những truyện thơ Tày và Thái
đều có những điểm tương đồng về đề tài.
1.1.1. Đề tài tình yêu nam nữ dưới chế độ cũ
Đây là đề tài lớn, có tính chất bao trùm. Không phải ngẫu nhiên mà đề tài
này trở thành chủ yếu và phổ biến nhất trong hệ thống truyện thơ Tày và truyện
thơ Thái. Bởi từ đề tài này, chúng ta có thể tìm thấy trong đó tiếng hát ca ngợi
tình yêu chung thủy, ca ngợi hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng là thứ vũ khí
sắc bén góp phần lên án và tố cáo các thế lực phong kiến đen tối, tàn bạo, đã
bóp nghẹt những khát vọng dân chủ, đã chà đạp lên quyền sống của con
người… mà trung tâm của các câu chuyện đó thường là các chàng trai, cô gái,
nạn nhân của tục lệ hôn nhân gả bán, ép uổng ngang trái dưới chế độ cũ...
Trai gái Tày và trai gái Thái, khi đã yêu nhau tha thiết, họ mong muốn
giữ trọn việc “trao duyên gửi nghĩa”, muốn được tiến tới hôn nhân để được
“chung cửa, chung nhà”, được hạnh phúc bên nhau. Đó là một khát vọng
chính đáng. Song khát vọng đó sẽ đi đến đâu? Những tình yêu đó có kết cục
ra sao? Có thể đó là một kết thúc viên mãn; có thể là kết thúc không viên mãn
(kết thúc không gắn liền với hạnh phúc, mà là sự khổ đau, là cái chết). Nhưng
những cái chết này không phải là vô cớ, vô ích, tiêu cực như có người từng
nghĩ. Vì cuộc đấu tranh không cân sức của người con gái với phụ quyền (gắn
chặt với vương quyền), cho nên cái chết của họ là lời phản kháng được hành
động hóa, làm cho dư luận xã hội phải rút ra bài học, phải nới dần những luật
tục bất hợp lí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
công chúa cho nhưng chàng không nhận “vì nhân chính khôi châu”, một lòng
với Kim Nữ. Trải qua bao thử thách, qua chín năm chờ đợi của nàng Kim Nữ,
cuối cùng họ đã được sống hạnh phúc bên nhau. Tình yêu, sự đợi chờ, lòng
chung thủy đã chiến thắng, Chiêu Đức và Kim Nữ “đã vượt qua ranh giới của
sự phân chia giai cấp, địa vị xã hội để giữ gìn tình yêu của mình” [19, tr.39].
Tương tự như truyện thơ Chiêu Đức, truyện Nàng Kim kết thúc trong
một tâm thế chiến thắng. Đó là chiến thắng của sự trân trọng và ngợi ca phẩm
giá con người. Tình yêu mà chúa Ba dành cho nàng Kim là một tình yêu trong
sáng, chân thành, xuất phát từ lòng nhân đức, từ ý chí giản đơn, chàng muốn
thay đổi số phận để có được sự “phóng khoáng tự do trong cuộc sống, trong
tình yêu, trong hôn nhân (trong khi giai cấp thống trị muốn tỏa chiết, bó
hep)…” [3, tr.46]. Từ một nàng tiên trốn Bồng Lai do phạm phải luật trời,
nàng Kim đã bị đẩy xuống trần gian, lạc lối vào vùng sơn xuyên, hóa thân khỉ.
Sống trong cảnh thiếu thốn, nhưng “nàng Kim đội lốt khỉ ấy muốn trở lại thân
người đã biết lao động từ hai bàn tay, như phát hiện của chủ nghĩa duy vật về
nguồn gốc loài người” [3, tr.41]. Nàng đã dùng móng tay để chẻ tre, trúc, đan
nên những tấm chiếu với nhiều hoa văn rất đẹp. Nhờ những “tác phẩm” này
mà nàng đã được gặp hoàng tử thứ ba của vua Việt Vương. Bất chấp những
luật lệ khắt khe nơi hoàng cung, chúa Ba đã tự do luyến ái, trộm đưa nàng
Kim lốt khỉ về ở lầu riêng. Họ đã phải trải qua bao cản trở, thách thức của cả
một “đội quân” hùng hậu trong cung thất. Nhờ có sự giúp đỡ của Bụt Cả, họ
đã có một cuộc hôn nhân thật lãng mạn, nàng Kim thoát xác khỉ “đẹp nhất
bậc dương thế cõi trung”, chúa Ba được vua cha truyền ngôi cho, họ cùng
hưởng cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc.
Truyện thơ Chàng Lù - nàng Ủa là câu chuyện về một mối tình thủy
chung, trong trắng nhưng đầy bi kịch. Mối tình của họ đã bị chính những
người thân trong gia đình chia cắt, vùi dập. Cùng sinh ra và lớn lên một cách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23