Tiểu luận Diễn biến và nguyên nhân khủng hoảng trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 27

1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
I.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ VIỆT NAM TỪ 2008 – NAY 2
1.Kinh tế thế giới 2
2.Kinh tế Việt Nam 7
II.KHỦNG HOẢNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ 2008 – NAY 12
1.Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 – nay 12
3.1.Nguyên nhân khách quan 16
3.2.Nguyên nhân chủ quan 17
III.HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
DANH SÁCH NHÓM 21
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức kỷ niệm sinh nhật lần thức 11
ngày 20/7/2011.
Với những nhà đầu tư đã trải qua quãng đường suốt 11 năm trời ròng rã cùng với
thị trường, biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn đã đến và đi. Được đấy và cũng mất đấy, đồ
thị dao động tâm trạng của nhà đầu tư cũng hệt như biến động hình sin của thị trường
trong vòng 10 năm.
Con sóng đầu tiên từ thuở "khai sinh lập địa" đã làm cho mỗi nhà giàu ở Hà Nội
2
được cộng thêm một chiếc Mercedes vào tài sản cá nhân cứ sau một phiên thị trường tăng
nóng. Nó đã mang lại lợi lộc cho không biết bao nhiêu người.
Dĩ nhiên, lợi lộc của người này lại là mất mát của người nọ - quy luật bất biến và
cũng là bài toán bù trừ trong TTCK. Song ít gì, trong 10 năm đầu, thị trường có xuống có
lên, chủ thuyết đầu tư dài hạn ít ra còn có tác dụng đối với những người kiên nhẫn. Tài
sản không đến nỗi đội nón ra đi không bao giờ trở lại. Hoàn toàn không giống với những
gì đã bắt đầu từ ngày sinh nhật 20/7/2010
Đợt khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 2007 và tình trạng đang suy thoái của thị
trường hẳn làm không ít nhà đầu tư phải lo lắng, buồn phiền.

Chính sách tiền tệ: Từ chủ trương thắt chặt tiền tệ để chống khủng hoảng, thế giới
đã chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ chính sách này để chống khủng hoảng và hỗ trợ tăng
trưởng. Cùng với việc hạ lãi suất, các nước cũng liên tục bơm tiền với khối lượng lớn vào
hệ thống tài chính và nền kinh tế để tăng cường tính thanh khoản cho thị trường.
Hai mặt hàng được quan tâm nhiều là vàng và dầu thô đều cùng đạt đỉnh cao lịch
sử trong năm nay, với mức trên 1.030 USD/oz đối với giá vàng vào thời điểm tháng 3, và
mức trên 147 USD/thùng đối với giá dầu vào giữa tháng 7. Sau đó, giá cả hai mặt hàng
này cùng trượt dốc dài.
 Năm 2009
Nền kinh tế thế giới đã dần sáng trở lại sau cơn bão tài chính. Cuộc khủng hoảng
đã khép lại khi các trung tâm kinh tế tài chính lớn phát đi những tín hiệu phục hồi. Những
biện pháp quyết liệt trong chính sách tiền tệ nới lỏng và tài khóa mở rộng của các chính
phủ được nhận định là nguyên nhân chính đem lại sự phục hồi nhanh chóng của kinh tế
thế giới.
Các nước trên thế giới đã có sự liên kết hợp tác trong hành động ứng cứu nền kinh
tế, mà đặc biệt quan trọng là chương trình hành động của các quốc gia nhóm G20. Theo
số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) những nước nhóm G20 đã chi tổng cộng khoảng
10 nghìn tỉ USD để kìm hãm đà suy giảm. Trong đó, Anh là nước chi nhiều nhất, đến
94% GDP, kế đến là Mỹ, 25% GDP. Cục dự trữ liên bang Mỹ đã duy trì lãi suất FED ở
mức thấp gần 0% để kích thích tiêu dùng và sản xuất nhằm vực dậy nền kinh tế.
Kinh tế toàn cầu đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi từ trong quý II/2009. Hầu hết các
4
quốc gia trên thế giới đã có tốc độ tăng trưởng GDP dương trong quý III và quý IV/2009.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI của nhiều quốc gia cũng bắt đầu tăng trưởng dương cho thấy
dấu hiệu phục hồi trở lại của nhu cầu tiêu dùng. Nhiều chỉ báo kinh tế khác như chỉ số
lòng tin người tiêu dùng, tăng trưởng công nghiệp,doanh số bán nhà, số đơn đặt hàng
cũng được cải thiện khá tích cực. Các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc, cũng
khôi phục được đà tăng trưởng, thậm chí còn nhanh hơn mong đợi. Tại Mỹ, hai chỉ số
quan trọng hàng đầu là chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ số “leading” (chỉ số lãnh đạo)
đã có sự bứt phá mạnh mẽ từ mức đáy tại quý I/2009.

Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao ở hầu hết các nước: Khoảng 27,6 triệu người đã
mất việc từ khi cuộc Đại Suy thoái xảy ra, nâng tổng số người thất nghiệp trên toàn thế
giới lên tới 205 triệu người. Ở các nền kinh tế chủ chốt, dù kinh tế đang phục hồi nhưng
tỷ lệ thất nghiệp vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Ngân sách thâm hụt trầm trọng và nợ công gia tăng: Thâm hụt ngân sách lớn hạn
chế Chính phủ thực thi chính sách tài khóa và đẩy một số nước vào nguy cơ khủng hoảng
nợ công, làm tăng chi phí vay vốn và là mầm mống cho bất ổn trong thị trường tài chính.
Thâm hụt ngân sách cũng tạo ra nguy cơ tăng tỷ lệ thất nghiệp khi Chính phủ phải thắt
lưng buộc bụng và sa thải lao động trong khu vực công.
Lạm phát và lãi suất ở mức thấp ở các nước phát triển, ở mức trung bình ở các
nước đang phát triển nhưng tăng mạnh trở lại từ cuối năm 2010: NHTW nhiều nước
cùng với chính sách “nới lỏng định lượng” khẩn cấp đã tiến hành phối hợp cắt giảm
mạnh lãi suất chính sách,và cam kết duy trì lãi suất thấp. Trong suốt năm 2010, lạm phát
ở mức thấp tại các nước phát triển. Theo như ước tính của IMF, tỷ lệ lạm phát toàn phần
trung bình cả năm 2010 ở các nước phát triển là 1,5%. Do ảnh hưởng của sự tăng giá của
hàng hóa trên thế giới, kinh tế đang trên đà phục hồi mạnh, cùng với tác động của các
dòng vốn và nguồn tiền nóng, lạm phát toàn phần tại các nước đang phát triển đã trở lại
mức trung bình cao (6,3% theo IMF 2011) và đang có xu hướng tăng lên ở mức đáng
ngại từ cuối năm 2010. NHTW một số nước đang phát triển đã bắt đầu tiến hành nâng lãi
suất và thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát.
Thương mại toàn cầu năm 2010 phục hồi nhưng chưa như mong đợi: Sau khi sụt
giảm trầm trọng hơn 11% vào năm 2009, thương mại toàn cầu năm 2010 đã phục hồi với
mức tăng ước tính khoảng 10,5%. Thương mại toàn cầu đang có xu hướng dịch chuyển
trọng tâm sang các nước đang phát triển đặc biệt là Trung Quốc
WTO và đàm phán thương mại đa phương vẫn bế tắc, đàm phán thương mại khu
vực gia tăng. Trong năm 2010, đặc biệt phải kể đến sự trở lại và phát triển lên một tầm
mới của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.
Giá cả hàng hóa biến động và tăng mạnh trở lại từ cuối năm: Việc tăng giá trở lại
mạnh này là do cầu lớn từ phía các nước đang phát triển lớn có tốc độ tăng trưởng cao như Trung Quốc,
6

tài chính-ngân hàng toàn cầu; giá dầu tăng cao làm tăng chi phí đầu vào và tình trạng thất
nghiệp tại các nước phát triển vẫn chưa được cải thiện nhiều; nguy cơ khủng hoảng nợ
công lan rộng sang nhiều nước tại khu vực châu Âu gây rủi ro đối với hệ thống tài chính
7
khu vực và toàn cầu; trong khi đó nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi lại đang
bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế nóng với áp lực lạm phát cao là dấu hiệu của việc
kinh tế có thể tăng trưởng chậm lại.
Lạm phát: đã tăng lên mức cao và đe dọa cản trở tốc độ phục hồi kinh tế thế giới
cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô của các nước. Lạm phát ở các quốc gia phát triển có
dấu hiệu tăng nhanh hơn các quốc gia đang phát triển. Mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) so với cùng kỳ năm trước tính đến cuối tháng 5-2011 tại Mỹ là 3,6%, cao nhất kể
từ tháng 7/2008, tại Anh là 4,5%, Singapore là 4,48%, Canada là 3,7%; tính đến cuối
tháng 6-2011 tại khu vực Eurozone là 2,7% và tại Hàn Quốc là 4,4% so với cùng kỳ năm
ngoái. Trung Quốc bất chấp rất nhiều các biện pháp thắt chặt tiền tệ như liên tiếp tăng các
mức lãi suất chính sách, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhưng CPI của nước này tính đến cuối
tháng 6-2011 vẫn tăng ở mức kỷ lục 6,4%. Các nước đang phát triển khác như Nga, Ấn
Độ, cũng có tốc độ tăng CPI tính đến cuối tháng 5 ở mức cao, lần lượt là 9,6%, 8,9% so
với cùng kỳ năm ngoái.
Đô la Mỹ liên tục giảm giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới
ngoại trừ đợt phục hồi nhẹ trong tháng 5-2011.
Tăng lãi suất để ứng phó: NHTƯ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển, đều đang điều chỉnh lãi suất chính sách theo chiều hướng tăng dần nhằm
đối phó với áp lực lạm phát.
2. Kinh tế Việt Nam
 Tăng trưởng GDP
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng sản phẩm quốc nội
GDP danh nghĩa (tính theo
tỷ USD, làm tròn)
31 32 35 39 45 52 60 70 89 91 101

Chênh lệch–nhập siêu (tính
theo tỷ USD, làm tròn)
-1 -1 -3 -5 -5 -4 -5 -14 -18 -12 -13
Sau khi gia nhập WTO, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam đã không ngừng gia
tăng. Việt Nam đã tận dụng được lợi thế và thời cơ trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu từ
mức 48 tỷ đô năm 2007 lên 71 tỷ đô năm 2010. Tuy nhiên, tình trạng nhập siêu vẫn hết
sức căng thẳng với các con số hết sức đáng lo ngại với trước khi giai nhập WTO do nhu
cầu nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao.
 Hoạt động đầu tư
Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện qua chỉ số ICOR cao cơ cấu trong nền kinh
tế thiếu tính bền vững. Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các
nước trong khu vực. ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế
9
càng thấp. Cơ cấu kinh tế Việt Nam không hợp lý thể hiện ở cơ cấu sở hữu (tài sản và
đầu tư tập trung quá lớn vào khối doanh nghiệp nhà nước, trong khi khối này hoạt động
không hiệu quả). Sự bất cập trong cơ cấu nền kinh tế còn được thể hiện qua việc lựa chọn
ngành trong chiến lược phát triển công nghiệp chưa tận dụng được lợi thế cạnh tranh của
Việt Nam đang có. Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho tới chưa đạt, khối dịch vụ mới
chỉ chiếm 40% GDP.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI-thực hiện (tính theo tỷ
USD, làm tròn)
2.4 2.4 2.5 2.6 2.8 3.3 4.1 8.0 11.5 10 11
Chênh lệch đăng ký-thực
hiện FDI (tính theo tỷ USD,
làm tròn)
-0.4 -0.7 -0.4 -0.5 -1.7 -3.5 -7.9
-
13.3

 Chính sách tài chính tiền tệ
Việt Nam bị mắc phải ba vấn đề liên quan: thâm hụt ngân sách nặng nề, nhập siêu
dẫn tới thâm hụt tài khoản vãng lai, và dự trữ ngoại tệ quá mỏng.
Trước tình hình hình kinh tế khó khăn những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam
đều phải nỗ lực rất lớn trong điều hành để kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô. Các giải
pháp thực thi chủ yếu đều mang tính ngắn hạn, tình thế (chữa cháy), nặng về hành chính,
chưa tập trung xử lý các vấn đề cơ bản như cơ cấu, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Việt Nam phát triển không bền vững là do thiếu tư duy kinh tế và quyết tâm chính
trị đủ mạnh. Rất nhiều chính sách của Việt Nam thuộc dạng lỗi thời so với các nước
Đông Nam Á, không chỉ riêng những chính sách về kinh tế, giáo dục hay khoa học công
nghệ. Theo East Asian Bureau of Economic Research, bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô của
Việt Nam đã làm suy yếu tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của quốc gia này. Và sự bất
ổn trong nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam không chỉ là một xáo động ngắn hạn mà thực sự
là một vấn đề nghiêm trọng có hệ thống, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về các khái niệm
về nguyên tắc phát triển cũng như sự thiếu hụt về nỗ lực mang tính chiến lược nhằm xây
dựng một nền quản lý hiệu quả.
→ Những vẫn đề tồn tại của nền kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam hoạt động kém hiệu quả. Việt Nam trong thời gian vừa qua
phát triển kinh tế theo chiều rộng. Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu theo
chiều rộng cũng như bất kỳ một chính sách nào cũng đều có những hạn chế của nó. Phát
triển kinh tế theo chiều rộng thông thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải. Do vậy,
hiệu quả vốn đầu tư khó có thể cao, biểu hiện chỉ số ICOR của Việt Nam mặc dù có được
cải thiện nhưng vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Hiệu quả đầu
tư không cao và dàn trải được tích tụ qua các năm là nguyên nhân chủ yếu làm cho lạm
phát tăng cao.
Nhu cầu đầu tư lớn dẫn đến tình trạng đầu tư vượt xa khả năng tích lũy của nền
11
kinh tế, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao. Để bù đắp phần thiếu hụt phải trông cậy vào
đầu tư nước ngoài và vay nợ nước ngoài. Thực tế này đã làm cho nợ quốc gia và nợ công

không nhất quán và nhiều khi còn bị đánh đổi lấy các mục tiêu kinh tế khác. Điều này đã
12
làm giảm lòng tin của cộng đồng các nhà đầu tư, các nhà tài trợ vào môi trường đầu tư
của Việt Nam. Mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư của Việt Nam bị giảm sút.
II. KHỦNG HOẢNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM TỪ 2008 – NAY
1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 – nay
Hiện Việt Nam có 2 sở giao dịch chứng khoán, 1 ở Hà Nội và 1 ở thành phố Hồ
Chí Minh. Tại HOSE có 172 cổ phiếu được niêm yết và sử dụng chỉ số giá chứng khoán Vn-
Index; ngoài ra còn có 68 trái phiếu và 4 chứng chỉ quỹ. Tại HNX-Index có 170 cổ phiếu được
niêm yết và sử dụng chỉ số HNX-Index; ngoài ra còn có 531 loại trái phiếu. Bên cạnh cổ
phiếu được niêm yết, cổ phiếu chưa niêm yết (ở Việt Nam quen gọi là cổ phiếu OTC)
cũng được giao dịch rất nhiều. Thị trường trái phiếu Việt Nam hiện chỉ có các loại trái
phiếu (định danh bằng đồng hoặc dollar Mỹ) do chính phủ, kho bạc nhà nước và chính
quyền một số tỉnh, thành phố phát hành; chưa có trái phiếu doanh nghiệp. Việt Nam cũng
đã phát hành và niêm yết trái phiếu chính phủ tại thị trường chứng khoán nước ngoài.
Th

ng kê
q
uy mô
toà
n
th

t
r
ư
ờng n
ă

14
Năm 2008
• Là một năm sụt giảm kỷ lục, mục tiêu cổ phần hóa và nhiều cuộc đấu giá thất bại,
chưa bao giờ mối quan hệ và ảnh hưởng từ thị trường thế giới lại thể hiện sâu sắc
như trong năm qua. Kết thúc năm 2008, chỉ số VN-Index và HASTC-Index có mức
giảm lần lượt là 65,95% và 67,51% so với cuối năm trước đó, một mức sụt giảm
chưa từng có trong lịch sử hơn 8 năm hoạt động, thuộc nhóm chỉ số giảm mạnh
nhất trên thế giới. Hàng chục nghìn tỷ đồng vốn hóa thị trường “bốc hơi” trong
năm suy giảm nghiêm trọng này.
• Về số công ty niêm yết: Hiện có 338 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ (sàn
TP.HCM 170, sàn Hà Nội 168), cũng trong năm này có thêm 89 cổ phiếu niêm yết
mới (33 cổ phiếu ở sàn HOSE, trong đó có 2 mã là PTC và BMI chuyển từ sàn
HASTC sang và 58 cổ phiếu ở sàn HASTC). Mặc dù tăng khá so với thời điểm khi
mới hoạt động cũng như một số thời điểm trước đây (cuối năm 2006 có 193, cuối
năm 2007 có 233), nhưng nếu so với số lượng công ty cổ phần hiện hữu ở Việt
Nam thì chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp. Nguyên nhân là mục tiêu cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước lại thêm một năm thất bại, theo báo cáo của Bộ Tài chính,
11 tháng đầu năm 2008 chỉ cổ phần hóa được 73/262 doanh nghiệp, chỉ đạt 28%
kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt trước đó.Số công ty chứng khoán hiện có
là 101, cao hơn số 55 của năm 2006 và 74 của năm 2007. Số công ty quản lý quỹ
hiện có 42,tăng so với 18 của năm 2006 và 24 của năm 2007.
• Tổng khối lượng niêm yết đạt gần 8 tỷ đơn vị cao gấp 1,7 lần năm 2007 và 3,2 lần
năm 2006.
• Giá trị vốn hóa thị trường là một trong những chỉ báo có tầm quan trọng hàng đầu
phản ánh quy mô thị trường chứng khoán, đến nay đã đạt khoảng 219.775 tỷ đồng
(tương đương 13,12 tỷ USD) (sàn TP.HCM 169,346 nghìn tỷ đồng, sàn Hà Nội
50,429 nghìn tỷ đồng). So với GDP tính theo giá thực tế năm 2009 (ước đạt 1.478
nghìn tỷ đồng), thì tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt
14,7%, thấp hơn mức cuối năm 2006 (22,6% GDP) và cuối năm 2007 (40% GDP).
Năm 2009

• Có 191 cổ phiếu mới niêm yết trên cả hai sàn,trong đó sàn TPHCM là 81 và Hà
Nội là 110. Tổng số mã chứng khoán đang niêm yết hiện tại trên sàn TPHCM là
366 còn Hà Nội là 280.
• 120.000 tỷ đồng là số vốn kỷ lục huy động thông qua thị trường chứng khoán năm
2010.
Năm 2011
• Sau khi phục hồi và đạt đỉnh điểm vào phiên giao dịch ngày 6/5 với VN-Index và HN-Index lần
lượt là 549,25 điểm và 187,22 điểm, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam bắt đầu xu hướng
giảm và kết thúc quí II không mấy khả quan. Không dừng lại ở đó, TTCK đã trở về điểm xuất phát
16
đầu năm ngay từ những ngày đầu tháng 7.
• Theo số liệu của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM, trong 6 tháng đầu năm nay, chỉ số VN-Index
đã giảm khoảng 10%. Theo đó, Chỉ số VN-Index phiên đầu •ên của năm (ngày 4/1/2011) khớp
lệnh ở mốc 485.97 điểm, nhưng đến cuối tháng 6, chỉ còn khoảng trên 430 điểm.
• So sánh với nửa cuối năm 2010, thì giao dịch trên thị trường chứng khoán nửa đầu năm 2011
kém sôi động hơn nhiều.
• 9 tháng đầu năm 2011 đã qua đi, nhìn chung giảm điểm vẫn là xu hướng chính của
thị trường chứng khoán trong suốt thời gian vừa qua. Mặc dù có được hai đợt hồi
phục vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8 nhưng so sánh với thời điểm cuối
năm ngoái, VN Index vẫn để mất 11,77% trong khi đó với HNX Index thì mức
giảm thậm chí còn sâu hơn, lên đến 37,55%, chốt phiên 30/09, hai chỉ số này lần
lượt đóng cửa ở 427,60 và 71,34 điểm.Nếu tính chỉ riêng trong quý 3 vừa qua, có
thể xem ngoài thời điểm khởi sắc nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong
năm nay tính đến thời điểm hiện tại, gồm một đợt tăng điểm khá dài của thị trường
chứng khoán kéo dài khoảng 1 tháng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9, thì cả hai
sàn vẫn mất điểm khi VN Index và HNX Index lần lượt giảm 3,32% và 5,23%.
3. Nguyên nhân khủng hoảng
3.1. Nguyên nhân khách quan
Mặc dù không chịu ảnh hưởng trực •ếp nhưng TTCK Việt Nam cũng đã chịu tác động nhất định
từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự tác động này biểu hiện ở các phương diện sau:

nhiên, khi lạm phát cao buộc Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp bằng cách thu
hút vốn tăng lãi xuất giảm lượng cung tiền vào đầu tư sản xuất kinh doanh, ngoài
ra, còn tác động tới tâm lý chi tiêu và quỹ dự phòng của các hộ dân.
 Giá vàng chưa có dấu hiệu giảm, tiếp tục là một kênh đầu tư hấp dẫn, thu hút một
số nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán làm giảm phần nào lượng vốn chảy vào
thị trường này.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tăng giảm giá Vàng
(tăng giảm % so với
năm trước)
-1.7 5.0 19.4 26.6 11.7 11.3 27.2 27.3 6.8 64.3 30.0
 Đồng USD giảm giá so với các ngoại tệ khác trên thế giới nhưng lại tăng giá mạnh
giá với đồng Việt Nam.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tăng giảm giá USD
(tăng giảm % so với
năm trước)
3.4 3.8 2.1 2.2 0.4 0.9 1.0 -0.3 6.3 10.7 9.6
18
 Giá dầu tăng làm tăng tốc độ trượt giá và qua đó tác động tiêu cực tới thị trường
chứng khoán.
 Thị trường bất động sản vẫn leo thang mặc dù các dự án xây dựng phát triển bất
động sản cũng sẽ tăng lên rất nhiều có thể khiến một lượng tiền từ TTCK chuyển
qua bất động sản. Kênh đầu tư bất động sản do đó sẽ vẫn hấp dẫn đối với nhà đầu
tư sức cạnh tranh hút vốn của nó đối với thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục diễn ra.
 Nguồn vốn cho vay chứng khoán của ngân hàng hầu như đã hết room do mặt bằng
lãi suất ngày càng tăng cao. Lãi suất huy động liên tục tăng trần và vượt trần. Do
vậy sẽ khó có nguồn tiền mới từ ngân hàng cho vay trực tiếp vào TTCK.
 Chi phí doanh nghiệp có thể tăng do giá nguyên liệu đầu vào sẽ tăng cùng với sự
phục hồi của nền kinh tế thế giới, trong khi nhiều doanh nghiệp VN chưa có cải

lúc và chuẩn xác. Việc đầu tư theo đám đông đã gây khó khăn trong việc hoạch
định chính sách và điều tiết thị trường của cơ quan quản lý và trở thành mảnh đất
màu mỡ cho các hành vi làm giá, giao dịch nội gián, tung tin đồn thất thiệt… để
trục lợi. Tâm lý mua bán theo đám đông lại trở nặng nề hơn khi nền kinh tế bị lạm
phát. Mỗi khi các thông tin về tăng giá xăng dầu, NHNN tăng lãi suất cơ bản hoặc
chỉ số giá tiêu dùng được công bố đều nhận được phản ứng tức thời từ TTCK.
Trong giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài được xem là nhân tố dẫn dắt thị
trường. Động thái mua và hay bán ra của họ cũng sẽ làm cho giá chứng khoán tăng
hoặc giảm theo. Nhưng từ cuối tháng 9/2008 đến những tháng đầu năm 2009, rất
nhiều thông tin tốt về nền kinh tế được phát đi như giá lãi suất cơ bản và xăng liên
tục giảm, chỉ số giá tiêu dùng giảm đáng kể đã không nhận được phản ứng tích cực
nào từ thị trường. Điều đó cho thấy nhà đầu tư Việt Nam đã không còn quan tâm
đến các thông tin tốt của nền kinh tế trong nước nữa. Cái mà họ quan tâm là diễm
biến tình hình giao dịch ở các TTCK Mỹ, Anh, Nhật thế nào và sẽ có hành vi đầu
tư tương tự. Trong những tháng đầu năm 2009, diễn biến của các chỉ số chứng
khoán Việt Nam luôn cùng chiều với chỉ số của thị trường các nước trên. Vậy
khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chuyển hướng tâm lý đầu tư của các nhà đầu tư
Việt Nam: từ đầu tư theo các nhà đầu tư nước ngoài sang đầu tư theo các nhà đầu
tư ngoài nước. Tâm lý này đã trở thành một rào cản không nhỏ cho nỗ lực của
Chính phủ nhằm vực dậy TTCK.
III. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
IMF khuyến nghị cơ quan chức năng cần thắt chặt hơn nữa những biện pháp duy trì an
toàn, đặc biệt nhấn mạnh vào việc quản lý rủi ro đối với các ngân hàng thương mại từ TTCK. Về
20
nguyên tắc, chỉ những ngân hàng có cơ chế quản lý rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng tốt, có cán
bộ được đào tạo tốt mới được cấp phép tín dụng để mua chứng khoán hoặc chấp nhận những rủi
ro liên quan đến TTCK.
Bên cạnh đó, bản khuyến nghị cũng khuyến cáo chính phủ nên tiếp tục chính sách tích
lũy đủ dự trữ để đảm bảo cán cân thanh toán trong trường hợp luồng vốn đầu tư gián tiếp hiện tại

7. NGUYỄN DUY HỒ
8. TRẦN HỒNG QUÂN
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN: Các thành viên đều được gia công việc và hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
22
Xin chân thành cảm ơn!!!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status